DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,710,621

Thép và Máu - Hà Mai Việt

22 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 19453)
Thép và Máu - Hà Mai Việt

Thép và Máu

 

hmv
Hà Mai Việt, cựu Đại Tá Thiết Giáp, Quân Lực VNCH.


 

Chiến-sự đầu Xuân 75

Kể từ ngày 14-3-1975, sau khi Ban Mê Thuột thất-thủ, tình-hình đất nước biến đổi dồn-dập và bất-ngờ. Những cảnh thảm-sát thường-dân vô-tội và những tổn-thất nặng-nề của Quân-đoàn II diễn-biến trên Liên tỉnh-lộ 7 đẫm máu đã làm cho toàn dân hoàn-toàn thất-vọng. Hầu như cả nước không còn đặt niềm-tin vào khả-năng lãnh-đạo của chính-quyền và sức-mạnh của quân-lực VNCH nữa. Cho đến nay người ta vẫn không hiểu tại sao vào cuối năm 1974, tổng-thống Nguyễn-Văn-Thiệu lại thay-thế 3 tư-lệnh Quân-Đoàn trong cùng một lúc, làm tan-nát quân-đội?


Hiện-tượng nói trên đã tạo ra những làn sóng di-tản dồn-dập, lan-tràn như nước vỡ bờ, đổ nhanh trên quốc-lộ. Mọi người hướng về miền Nam lánh nạn. Về phía quân-lực VNCH, sau những cuộc lui binh hỗn-loạn chưa từng thấy trong chiến-tranh Việt-Nam, tướng chạy đằng tướng, quân chạy đằng quân, mạnh ai nấy chạy. Kết cuộc là vào ngày 16-4-1975, Phan-Rang thất-thủ, Quân-đoàn I và Quân-đoàn II hoàn-toàn tan-rã. Vùng 1 và Vùng 2 Chiến-thuật (CT) bỏ ngỏ, để mặc cho quân Bắc-Việt tự-do tràn xuống. Miền nam Việt-Nam chỉ còn lại Vùng 4 CT và một phần lãnh-thổ thuộc Vùng 3 mà thôi. Kể từ ngày quân-đội viễn-chinh Pháp thất trận tại Điện-Biên-Phủ, đây là một biến-cố tồi-tệ nhất trong quân-sử VNCH, ngoài sức tưởng-tượng của mọi người, ngay cả đối-phương cũng không thể ngờ được.

Tại Hà-Nội, nhận-định thời-cơ đã đến, đại-tướng BV Võ-Nguyên-Giáp liền cho bộ Chính-trị, Quân-ủy Trung-ương và bộ Tổng-tư-lệnh nghiên-cứu, đề bạt ý-kiến về phương-án mở chiến-dịch Tổng-tiến-công vào Sài-Gòn, đánh nhanh trong mùa khô và ngay cả trường hợp phải kéo dài đến hết mùa mưa. Ngoài một số điểm cần gợi-ý như bao-vây, chia cắt, tiêu diệt vòng ngoài, không cho địch co-cụm vào đô-thành, tướng Giáp còn khai thác những tin-tức từ các tù-binh bắt được tại Phan-Rang như trung-tướng Nguyễn-Vĩnh-Nghi và của các thành-viên hai phái-đoàn quân-sự Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa và Cộng-hòa Miền Nam Việt-Nam ở trại Davis, trong phi-trường Tân-Sơn-Nhứt, để thiết-kế và chuyển quân vào Nam cho kịp thời. Theo tướng Giáp kể lại thì: Lời-khai của Nguyễn-Vĩnh-Nghi cũng mang lại nhiều thông tin quan-trọng. Sau khi bị bắt ngày 16-4 tại Phan-Rang, viên trung-tướng này được đưa ngay ra miền Bắc. . . Nguyễn-Vĩnh-Nghi đã tiết-lộ nhiều điều, cho thấy lực-lượng phòng-thủ của địch đã bị căng ra rất mỏng, lực-lượng dự-bị còn rất ít. Trong nội đô, địch chỉ dựa vào lực-lượng Cảnh-sát và phòng-vệ dân-sự. Hướng hiểm-yếu nhất, theo y, là tiến-công từ Gò Dầu Hạ – Trảng Bàng. Trên hướng Đông, địch có thể phá các cầu để chặn bước tiến của quân ta. Địch bố-trí các kho đạn chính ở Nhà Bè và Cát-Lái. Long-Bình chỉ là kho tiếp-liệu. Do địch dựa vào chủ-yếu là không-quân, nên các sân bay Tân-Sơn-Nhứt, Biên-Hòa và Cần-Thơ giữ vai-trò quan-trọng, đặc-biệt là sân bay Biên-Hòa, nơi đậu các máy bay cường-kích F5 và A37 . . . Khi được hỏi về thất-bại của y tại Phan-Rang, Nghi đổ lỗi cho binh-lính tinh-thần sa-sút, không chịu chiến-đấu. Như còn nuối tiếc một ảo-vọng y nói: Chúng tôi thiếu tiếp-liệu và thiếu thời-gian. Nếu các ông đánh chậm một tháng nữa thì chưa biết sẽ ra sao!

Tại Vùng 4 CT, cho đến đầu tháng tư, tình-hình tương-đối yên-tĩnh, nhưng các cuộc chạm súng lẻ-tẻ tại những nơi xa-xôi, hẻo-lánh vẫn còn tiếp-diễn. Người ta chưa thấy Hà-Nội điều-động một đơn-vị CSBV đáng kể nào, ngoại-trừ tin tình-báo ngày 1-4-1975 cho biết sư-đoàn 4 VC Hậu-Giang từ U-Minh đang di-chuyển về Cần-Thơ để phối-hợp với 2 tiểu-đoàn VC Tây-Đô tấn công vào thị-xã trước ngày 8-4-1975.


Được tin nói trên, thiếu-tướng Nguyễn-Khoa-Nam, tư-lệnh Quân-đoàn IV, liền điều-động Sư-đoàn 21 Bộ-binh và Thiết-đoàn 9 Kỵ-binh đang hành-quân tại ven rừng U-Minh, do chuẩn-tướng Mạch-Văn-Trường chỉ-huy, về phòng-thủ thị-xã Cần-Thơ. Tại đây, Sư-đoàn 21 còn được Trung-đoàn 11 thuộc Sư-đoàn 7 BB và Trung-đoàn 63 BB tăng-cường, và pháo-binh Quân-đoàn yểm-trợ trực-tiếp.


Đêm 8, rạng ngày 9-4-1975, Sư-đoàn 4 VC Hậu-Giang gồm các trung-đoàn 2, 10 và 20 VC và 2 tiểu-đoàn VC Tây-Đô lén-lút xâm-nhập và tấn-công vào vòng đai phòng-thủ Ba-Se, trấn-đóng bởi các trung-đoàn 32, 63 BB và chi-khu Phong-Điền, nhưng quân bố-phòng đã chống-trả mãnh-liệt và Sư-đoàn 4 KQ từ các phi-trường Bình-Thủy và Trà-Nóc đã lên vùng, xạ-kích và oanh-kích dữ-dội vào mục-tiêu khiến địch-quân tổn-thất nặng. Chiến-đoàn 933 do trung-tá TG Trần-Hữu-Thành chỉ-huy, nằm ở vòng ngoài (Thới Lai, Ô Môn) đã chặn viện và tiêu-diệt các đơn-vị VC từ Vòng Cung rút ra. Hai hôm sau, ngày 10-4, bộ tư-lệnh Miền và Quân-khu 9 phải lệnh cho Sư-đoàn 4 VC lui binh, nhưng đêm 12-4, từ quận Bình-Minh, Vĩnh-Long, VC lại pháo 50 trái 105 ly vào thị-xã Cần-Thơ, gây hỏa-hoạn cho khoảng 200 căn nhà và sát-hại hơn 100 thường dân vừa chết và bị thương.


Tại Vùng 3 CT, ngày 9-4-1975, khoảng 30,000 quân CSBV tiến đánh Xuân-Lộc, thuộc tỉnh Long-Khánh, cách Sài-Gòn khoảng 60 cây-số. Sư-đoàn 18 BB và Lữ-đoàn 1 Dù đã chặn đứùng các đợt tấn-công liên-tiếp của địch trong suốt hơn một tuần, gây tổn-thất nặng-nề cho địch-quân và buộc họ phải bỏ mục-tiêu mà bọc sang hướng Tây. Từ 11-4 đến ngày 25-4-1975, Lực-lượng Xung-kích Quân-đoàn III (LLXK QĐ III), do chuẩn-tướng Trần-Quang-Khôi, tư-lệnh lữ-đoàn 3 Kỵ-binh, chỉ-huy, trong 14 ngày đêm liên-tiếp đã chặn đứng địch-quân tại khu-vực Dầu-Giây. Đặc-biệt ngày 16-4, trên tuyến Hưng-lộc – Ngã ba Dầu-Giây, Lực-lượng Xung-kích và địch-quân giằng-co dữ-dội khiến tướng Khôi phải xin trung-tướng Nguyễn-Văn-Toàn, tư-lệnh Quân-đoàn III, cho xử-dụng 2 trái bom CBU55 ném vào mục-tiêu, hạ khoảng 1 trung-đoàn VC và chạên đứng mũi dùi tấn-công của Quân-đoàn 4 BV đồng thời giải-cứu Chiến-đoàn 52 thuộc Sư-đoàn 18 BB, do đại-tá Ngô-Kỳ-Dũng chỉ-huy, khỏi bị tiêu-diệt. Sau đó Trung-đoàn 52 BB rút về Long Bình, Biên Hòa.


Kể từ ngày 19-4-1975, áp-lực của địch đè nặng vào mặt trận phía Đông. Quân-đoàn 2 và Quân-đoàn 4 BV đang cố gắng tìm cách tiến sát vào vòng đai phòng thủ Sài-Gòn, đối-phương chỉ còn cách Thủ-đô khoảng 50 cây-số.


Ngày 20-4-75, trung-tướng Nguyễn-Văn-Toàn, tư-lệnh Quân-đoàn III, lệnh cho chuẩn-tướng Lê-Minh-Đảo, tư-lệnh Sư-đoàn 18 BB, bỏ Xuân-Lộc, rút quân theo tỉnh-lộ 2 qua ngả Phước-Tuy về căn-cứ Long-Bình, Biên-Hòa để dưỡng quân và bổ xung quân-số. Lữ-đoàn 1 Nhảy Dù, do trung-tá Nguyễn-Văn-Đỉnh chỉ-huy, xuất-phái khỏi sư-đoàn 18 BB, di-chuyển xuống Vũng Tàu, tăng-cường cho khu-vực này. Riêng LLXK QĐ III được tăng-phái Trung-đoàn 8 thuộc SĐ5BB của trung-tá Nguyễn-Bá Mạnh-Hùng, án-ngữ tại mặt trận Dầu Giây – Hưng Lộc cho đến ngày 25-4-1975, là ngày bộ tư-lệnh QĐ III dự-trù cho Sư-đoàn 18 BB (-) lên thay-thế LLXK tại chạm tuyến.


Tình-hình mỗi ngày một khẩn-trương và nguy-ngập, nhưng giới hữu-trách trong chính-quyền cũng như bộ Tổng-tham-mưu vẫn giữ im-lặng. Không ai nghe thấy một "Lệnh tử-thủ" hay "Hịch" nào từ hàng lãnh-đạo, hay từ những người đại-diện dân, có lẽ họ đang chờ Hoa-Kỳ bật đèn xanh hay đỏ hoặc mong đón nhận một nhân-nhượng nào đó từ phía CSBV. Bởi vậy, dân và quân cùng gia-đình, chỉ còn cách bỏ chạy sau khi nghe những tin-tức không mấy chính-xác, từ các đài phát-thanh BBC và VOA. Các đài này đã cố ý hay vô-tình tiếp tay địch quân một cách tàn-nhẫn, làm suy-sụp tinh-thần quân-dân miền Nam không ít.


Cũng trong ngày 20-4-1975, đại-sứ HK Graham Martin gặp tổng-thống Nguyễn-Văn-Thiệu và "khuyên" ông Thiệu phải từ-chức để ổn-định tình-hình vì ông Martin cho rằng tổng-thống Thiệu không bao giờ có thể thương-thuyết với Cộng-sản.


Vào buổi chiều cùng ngày, tỉnh Phan-Thiết, nằm về phía Đông-Đông-Bắc Sài-Gòn khoảng 150 cây-số, là tỉnh-lỵ cuối cùng tại miền duyên-hải Nam Việt-Nam, bị Cộng quân tiến chiếm. Dân chúng, quân-nhân và gia-đình từ Phan-Rang, Phan-Thiết hốt-hoảng chạy về miền Nam, đã kể lại những điều tai nghe mắt thấy, càng làm cho tinh-thần quân-dân tại thủ-đô cảm thấy bi-đát hơn, đa-số những người có phương-tiện đều chuẩn-bị hành-trang, tìm đường di-tản.


Sau các vụ vi-phạm hiệp-định Paris tại VNCH, để tìm hiểu lý-do tại sao gia-đình quân, cán, chính và ngay cả dân chúng địa-phương lại có thể thi nhau bỏ chạy nhanh như vậy? Bằng chứng là tại Quảng-Trị, Thừa-Thiên, Đà-Nẵng, Bình-Định, Tuy-Hòa, Nha-Trang và nhiều nơi khác nữa, người ta đã bỏ chạy trước khi địch tấn-công! Nhiều tỉnh-lỵ hay thị-xã như Nha-Trang, Đà-Lạt đã bỏ trống trong nhiều ngày, mặc dầu địch-quân còn ở đằng xa, chưa kịp thu quân! Qua các cuộc phỏng-vấn người tỵ-nạn từ khi họ còn ở trong nước hay đã xuất-ngoại, chúng tôi ghi nhận được hai lý-do sau đây:


1.) Trong thời-gian tổng-thống Nguyễn-Văn-Thiệu lãnh-đạo VNCH: Sau các cuộc xâm-lấn trắng-trợn tại Ban-Mê-Thuột và rối-loạn đẫm máu tại Liên tỉnh-lộ 7, hầu hết người ta nhận thấy rằng: Trong khi HK rút quân khỏi VN và cắt giảm quân-viện, thì ngược lại BV lại được Nga-Sô và Trung-Cộng viện-trợ chiến-cụ nhiều hơn trước. Vậy nếu HK không còn yểm-trợ hỏa-lực cho VNCH khi bị BV xâm-lấn thì trước hay sau rồi miền Nam Việt-Nam cũng lọt vào tay CSBV vì rõ-ràng là HK đã quyết-định bỏ rơi miền Nam. Hơn nữa, sau trên 20 năm chiến-tranh, cho đến giờ chót miền Nam vẫn chưa tìm ra người lãnh-đạo có tài-đức. Chính vì vậy mà hầu như mọi người, mọi giới đã "mất hết niềm tin" nên vội vã di-tản.


2.) Sau khi trung-tướng Nguyễn-Văn-Thiệu đào-thoát: Mặc dầu hầu-hết người dân miền Nam vẫn sống trong thầm lặng nhưng không ai lại không hiểu rằng nếu tướng Dương-Văn-Minh lên làm tổng-thống, thì dù cho có hay không có chính-phủ "Ba thành-phần", thì tương-lai gần, miền Nam VN cũng sẽ bị CSBV đồng-hóa. Bởi vậy, bất chấp mọi hiểm-nghèo, người ta đã tìm đường tỵ-nạn vì sợ sau này CS sẽ trả thù, hành-hạ hay kìm-kẹp trong chế-độ khát máu, bạo-tàn. Nhận-định này cũng được trung-tướng Trần-Văn-Đôn, phó thủ-tướng VNCH, nhắc đến trong hồi-ký "Việt-Nam Nhân-Chứng": Nghe tin ông Minh nhận chức Tổng-thống dư-luận chia làm hai: Một số nghĩ rằng sắp có cơ-hội thương-thuyết để ngưng chiến, một số khác cho rằng chúng ta đang mở cửa cho Cộng-Sản nuốt trọn miền Nam.


Miền Nam như rắn mất đầu


Ngày 21-4-1975


Vào buổi sáng, tổng-thống Nguyễn-Văn-Thiệu triệu-tập nội-các thu hẹp để trình bày lý-do và ý-định từ-chức sau khi ông đã tiếp-xúc với đại-sứ Hoa-Kỳ Graham Martin vào ngày 20-4. Cũng vào buổi chiều hôm ấy, tổng-thống Thiệu cho mời Tối-cao Pháp-viện, Quốc-hội, Chính-phủ và các tướng-lãnh cao-cấp trong quân-lực VNCH tới dinh Độc-Lập để chứng-kiến việc ông đọc thông-điệp gửi toàn-thể đồng-bào trên hệ-thống truyền-thanh và truyền-hình, sau gần 9 năm lãnh-đạo miền Nam Việt-Nam. Trong thông-điệp từ-nhiệm, kéo dài khoảng 90 phút, tổng-thống Thiệu lên án Hoa-Kỳ đã nuốt lời hứa và bỏ rơi Việt-Nam Cộng-Hòa trong vai-trò chống Cộng, đồng-thời ông cũng tiết-lộ tình-trạng quân-khí, đạn-dược và săng nhớt của quân-đội miền Nam thiếu-hụt trầm-trọng vì lý-do Hoa-Kỳ đã cắt giảm viện-trợ. Theo hiến-pháp VNCH, phó tổng-thống Trần-Văn-Hương đương-nhiên thay thế trung-tướng Nguyễn-Văn-Thiệu trong chức-vụ tổng-thống. Nhưng về phía CSBV và phe trung-lập lại chống đối tổng-thống Trần-Văn-Hương vì họ cho rằng ông Hương cũng chỉ là tay chân của tướng Thiệu.


Sự-kiện nói trên đã làm cho tinh-thần chiến-đấu của quân-sĩ và nhân-dân miền Nam suy-nhược không ít và ngược lại, đối-phương thêm phấn-khởi. Nhất là tướng Thiệu lại đột-ngột đào-thoát vào lúc quân Bắc-Việt ở thế chủ-động, nên địch quân đã tập-trung lực-lượng, đánh mau, đánh mạnh vào các yếu-huyệt, ào-ạt như nước vỡ bờ, không để Sài-Gòn có thời-giờ cầu xin một giải-pháp chính-trị.


Tại Vùng 2 Chiến-thuật, phòng tuyến Phan-Rang do trung-tướng Nguyễn-Vĩnh-Nghi chỉ-huy, đã bị tràn-ngập từ 11 giờ trưa ngày 16-4-75, bởi Sư-đoàn 3 Sao Vàng, Sư-đoàn 325 BV và Đoàn 968 VC từ hướng Bắc đánh xuống. Quân bố-phòng rút chạy tán-loạn. Trước đó 3 ngày, Lữ-đoàn 2 Dù nằm trên chạm tuyến, nhưng kể từ ngày 13-4-75, Lữ-đoàn 2 Dù được thay thế bởi Liên-đoàn 31 BĐQ do đại-tá Nguyễn-Văn-Biết chỉ-huy, quân số còn khoảng 1,300 người. Ngoài ra Phan-Rang còn được tăng-cường bởi Sư-đoàn 2 BB (-) do chuẩn-tướng Trần-Văn-Nhựt chỉ-huy, quân-số của cả 2 Trung-đoàn 4 và 5 BB thuộc Sư-đoàn này còn khoảng 900 người, cùng 1 Chi-đội Thiết-vận-xa và 2 Pháo-đội 105 ly. Tất cả các đơn-vị nói trên, còn đang hoang-mang, giao-động vì mới vội-vã rút về chờ bổ-sung quân-số, nhưng lại được điều-động ngay ra chạm-tuyến để thay-thế cho Lữ-đoàn 2 Dù. Theo nguồn tin của một sĩ-quan cao cấp, cùng bị giam với trung-tướng Nguyễn-Vĩnh-Nghi, kể lại: Trung-tướng Nghi cho biết khi nhận lãnh trách-nhiệm phòng-thủ Phan-Rang, tổng-thống Nguyễn-Văn-Thiệu đã chấp-thuận đề-nghị của ông về việc xin gửi ra Phan-Rang những đơn-vị chưa bị ảnh-hưởng bởi việc tháo chạy, như sư-đoàn 21BB thuộc QĐ IV và sư-đoàn Nhảy Dù chẳng hạn. Nhưng khi ra tiền-tuyến, ngày 1-4-75, tướng-Nghi chỉ có Lữ-đoàn 2 Dù. Ngày 12-4-75, Lữ-đoàn 2 Dù lại được thay-thế bởi Liên-đoàn 31 BĐQ. Ngày 13 và 14-4-75, tướng Nghi được tăng-cường Sư-đoàn 2 BB (-) nguyên từ Chu-Lai chạy vào Bình-Tuy. Cũng theo tướng Nghi, tuyến phòng-thủ này phải cần tới 2 sư-đoàn BB mới có thể tạm phòng-thủ được.


Trong khi đó các vị lãnh-đạo tối cao của quân-lực VNCH là tổng-thống Nguyễn-Văn-Thiệu và đại-tướng Cao-Văn-Viên đã không có một kế-hoạch khả-thi nào để dồn nỗ-lực vào việc bảo-vệ miền Nam, dù là chỉ trấn-giữ trong một thời-gian ngắn, đủ để đổi ngược thế cờ. Ngược lại, Tổng-tư-lệnh Nguyễn-Văn-Thiệu lại phó-thác cho các Tư-lệnh chiến-trường. Còn đại-tướng Tổng-tham-mưu-trưởng Cao-Văn-Viên thì lúc nào cũng trông ngóng vào Hoa-Kỳ và chờ lệnh của tổng-thống Thiệu, nên ông vẫn để một vài tướng-lãnh tự-ý điều-động các đơn-vị sẵn có trong tay, với khả-năng hạn-hẹp và kế-hoạch vá-víu. Riêng bộ Tổng-tham-mưu thì vẫn được điều-hành như một hộp thơ, bởi những sĩ-quan thiếu kinh-nghiệm chiến-trường, từ trước đến sau vẫn vậy, không hơn không kém. Người ta cho rằng, các tướng Nguyễn-Văn-Thiệu và Cao-Văn-Viên không muốn làm phật-ý Hoa-Kỳ. Cho đến nay, sau 28 năm tỵ-nạn, người ta vẫn thường tự hỏi, tại sao sau gần 9 năm cầm quyền tướng Thiệu lại không sớm hành-động cho thích-ứng với tình-thế hay can-đảm bàn giao việc lãnh-đạo quốc-gia cho người khác trách-nhiệm mà lại để quốc-sản rớt vào tình-trạng nghèo-nàn và rách nát như vậy?


Còn Hoa-Kỳ thì cứ để mặc cho Bắc-Việt chiếm nhanh chừng nào hay chừng nấy, miễn sao chấm dứt được chiến-tranh Việt-Nam, chứ Hoa-Kỳ không có một phản-ứng nào như tổng-thống Nixon đã hứa hẹn. Tại Hoa-Thịnh-Đốn Eric Von Marbod và tướng Weyand ra trước tiểu-ban thuộc ủy-ban Chuẩn-chi Hạ-viện HK điều-trần để yêu-cầu Quốc-hội chấp-thuận ngân-khoản 300 triệu Mỹ-kim quân viện bổ-túc và 170 triệu kinh-viện nhưng đã tuyệt-vọng.


Ngày 22-4-1975.


Sau khi tổng-thống Nguyễn-văn-Thiệu từ-chức, đại-tướng Cao-Văn-Viên và trung-tướng Đặng-Văn-Quang vào dinh Độc-Lập để xin từ-nhiệm. Tổng-thống Trần-Văn-Hương chấp-thuận trên nguyên-tắc, nhưng đại-tướng Viên phải chờ người thay-thế.


Tòa đại-sứ HK xác-nhận vì thiếu máy bay nên việc di-tản có phần chậm trễ so với kế-hoạch dự-trù. Tuy-nhiên theo nguồn tin chính-thức cho biết 3,300 người tỵ-nạn đã rời Sài-Gòn bằng phi-cơ quân-sự HK trong ngày 22-4-1975. Sự-kiện "di-tản" này đã làm mọi người hoang-mang tột độ, nhất là dựa theo kinh-nghiệm người Mỹ bỏ chạy ở Nam-Vang trước đó.


Tại Vùng 3 Chiến-thuật, VC pháo-kích và tấn-công vào căn-cứ Không-quân Biên-Hòa. Tỉnh-lỵ Xuân-Lộc được bỏ ngỏ mặc dầu sư-đoàn 18 BB và lữ-đoàn 1 Dù đã tiêu-diệt trên 5,000 quân Bắc-Việt trong một trận chiến kéo dài gần 2 tuần-lễ. Quan-sát-viên quân-sự cho biết Xuân-Lộc không còn là mục-tiêu trọng-yếu của địch-quân, họ đã vòng sang đường khác để tiến về Sài-Gòn nên tướng Nguyễn-Văn-Toàn cho rút quân về Long-Bình để kịp thời ngăn-chặn đối-phương.


Tại Bắc-Việt, cũng trong ngày 22-4, CS cấp-thời điều-động Quân-đoàn 1 và 3 tung vào chiến-trường miền Nam, đồng-thời Lê-Duẫn thay mặt Chính-trị Trung-ương Đảng CS, gửi công-điện vào Nam, mở cuộc tổng tiến-công vào Sài-Gòn. Sau đó, Bộ chỉ-huy chiến-dịch gồm Lê-Đức-Thọ, đại-diện Trung-ương Đảng, Phạm-Hùng, Chính-ủy, và đại-tướng Văn-Tiến-Dũng, tư-lệnh bộ chỉ-huy chiến-dịch Hồ-Chí-Minh, duyệt lại lần chót kế-hoạch tiến-công vào Sài Gòn – Gia Định theo các hướng Bắc, Tây-Bắc, Tây, Đông và Nam. Sau khi hoàn-thành tổ-chức hiệp-đồng các hướng và quân binh chủng, Lê-Đức-Thọ và Phạm-Hùng ở lại hậu-cứ Lộc-Ninh điều-khiển các vấn-đề liên-quan đến quân-sự, chính-trị và ngoại-giao.


Ngày 23-4-1975


Tại Sài-Gòn, tân tổng-thống Trần-Văn-Hương mời đại-tướng Dương-Văn-Minh làm thủ-tướng toàn-quyền. Nhưng đến 5 giờ chiều ngày hôm sau, 24-4-1975, tướng Minh họp báo từ-chối, có lẽ vì ông thấy chưa hội đủ điều-kiện để thương-thảo. Trong khi đó, một mặt Cộng-quân ào-ạt tạo áp-lực tại các vùng quanh Sài-Gòn như Hóc-Môn, Long-Thành, Biên-Hòa. Mặt khác VC loan tin xác-nhận chỉ có Dương-Văn-Minh là người mà họ khả-dĩ có thể thương-thuyết, ngoài ra những thân-tín hay bộ-hạ của tướng Thiệu hoàn-toàn bị gạt bỏ, ám chỉ kể cả ôngï Hương.


Nhận thấy tình-hình mỗi ngày một đen tối, đại-sứ Pháp Mérillon đã cố gắng thuyết-phục tổng-thống Trần-Văn-Hương nhường quyền-bính lại cho tướng Dương-Văn-Minh để ông kịp tiếp tay tướng Minh trong việc thành-lập chính-phủ ba thành-phần hầu tránh đổ máu. Vào lúc này có nhiều nguồn tin cho rằng nước Pháp muốn đứng ra làm trung-gian liên-lạc với Mặt Trận Giải-phóng miền Nam và Hà-Nội hầu cứu-vãn tình-thế. Pháp muốn giữ miền Nam bằng một chính-phủ trung-lập, 3 thành-phần, gồm: Quốc-gia, Đối-lập và Mặt-trận Giải-phóng Miền Nam. Việc này Trung-Cộng đã trả-lời đồng-ý trên nguyên-tắc bằng miệng, nhưng Nga-sô từ chối và dành quyền quyết-định cho Bắc Việt. Tại Đông Nam Á, ngoại trừ Nam-Dương, còn các nước khác đều tán-thành VN đình-chiến trong trung-lập hơn là thống-nhất trong độc-lập.


Lúc đầu tổng-thốngï Trần-Văn-Hương còn do-dự và ngần-ngại về khả-năng của tướng Dương-Văn-Minh, nhưng sau cùng ôngï Hương đành chọn giải-pháp đưa vấn-đề lựa người lãnh-đạo, có đủ điều-kiện để hòa-giải với Cộng-Sản, cho quốc-hội biểu-quyết.


Cũng trong thời-điểm này, tại trường đại-học Tulane, ở New Orleans, Hoa-Kỳ, tổng-thống Gerald R. Ford tuyên-bố đại-ý như sau: Cuộc chiến tại Việt-Nam đối với người Hoa-Kỳ coi như đã xong (đã chấm dứt). Trong khi đó, tại Sài-Gòn, đại-sứ Graham Anderson Martin chính-thức cho phép nhân-viên Việt-Nam làm việc tại sứ-quán HK được di-tản.


Ngày 24-4-1975


Các nước Anh, Tây Đức, Hòa Lan, và Thái Lan đóng cửa tòa đại-sứ tại Sài-Gòn. Cả tổng-thống Hương và đại-tướng Minh, đều gửi sứ-giả của mình tới trại Davis. Họ được các đại-diện của Mặt-trận Giải-phóng tiếp đón lịch-sự nhưng từ-chối không cam-kết. Cũng trong ngày này, tại Ba-Lê và Hà-Nội, Mặt-trận Giải-phóng công-bố một bản tuyên-cáo đại-ý: Phải lập một chính-quyền mới tại Sài-Gòn và trong chính-quyền này không thể có một bộ mặt nào của bè lũ Thiệu.


Ngày 25-4-1975


Sư-đoàn 18 BB từ Long-Thành lên mặt trận Trảng-Bom – Hưng Lộc – Ngã Ba Dầu Giây thay thế cho Lực-lượng Xung-kích Quân-đoàn III về Biên-Hòa dưỡng-quân và đặt trong tình-trạng trừ-bị Quân-đoàn, riêng Trung-đoàn 8 thuộc sư-đoàn 5 BB được hoàn-trả về Lai-Khê. Chiều ngày 25-4, Chiến-đoàn 322 và 1 tiểu-đoàn TQLC do trung-tá TG Nguyễn-Văn-Liên chỉ-huy đã hạ 15 chiến-xa T-54 VC trong nhiệm-vụ tiếp-cứu trường Thiết-giáp tại khu-vực ngã ba Long-Thành – căn-cứ Bear Cat.


Theo tướng Văn-Tiến-Dũng dự-trù thì chậm nhất là ngày 28-4, họ phải lấy được căn-cứ Nước Trong, quận Long-Thành, dọn đường đánh chiếm quận-lỵ Nhơn-Trạch hầu kéo đại-pháo 130 ly vào để khai-triển trận địa-pháo, làm tê-liệt phi-trường Tân-Sơn-Nhứt và khóa chặt sông Lòng Tàu, không cho đối-phương dùng thủy-lộ chạy ra biển. Chiều ngày 25-4, đại-tá BV Hoàng-Ngọc-Diêu báo-cáo phi-công và thợ máy tại Đà-Nẵngï đã học xong cách lái và bảo-trì phản-lực-cơ A-37 lấy được của VNCH nên tướng Văn-Tiến-Dũng quyết-định đánh Tân-Sơn-Nhứt bằng A-37.


Không đầy 4 hôm sau khi từ-chức tổng-thống, để thỏa-mãn ý-định của Hoa-Kỳ, vào lúc 9 giờ 30 tối ngày 25-4, trung-tướng Nguyễn-Văn-Thiệu và đại-tướng Trần-Thiện-Khiêm, cựu thủ-tướng VNCH, đã được đại-sứ Martin tiễn chân lên phi-cơ C118 của Không-quân HK sang Đài-Loan ẩn-náu an-toàn, nhưng sự thật là Hoa-Kỳ đưa các ông ra khỏi Việt-Nam để làm vừa lòng Bắc-Việt. Riêng gia-đình của hai ông đã rời Việt-Nam từ tháng trước.


Sau khi tổng-thống Thiệu rời Việt-Nam vào ngày hôm trước, thì hôm sau trung-tướng Trần-Văn-Đôn gặp trung-tướng Vĩnh-Lộc tại nhà đại-tá Huyến, có ý muốn tiến-cử tướng Vĩnh-Lộc làm Tổng tham-mưu-trưởng nhưng ông khước-từ và đề-nghị trung-tướng Nguyễn-Đức-Thắng, là người có nhiều cảm-tình với binh-sĩ, lên thay thế đại-tướng Cao-Văn-Viên.

HMV


Hội Trùng Dương. Hoàng Oanh, Thanh Lan, Thanh Tuyền


 

Ý kiến bạn đọc
15 Tháng Hai 20148:00 SA
Khách
Xin vui lòng giúp thế hệ con em đọc được trọn bộ sánh này ! thành thật cãm ơn.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:31 SA(Xem: 86)
Năm 1979 là năm tệ hệ nhất của đời tôi ở cái đất Sài thành. Ban ngày tôi ra chợ sách bán sách và thuốc lá ké một góc sạp sách của người bạn cùng đơn vị trước 75 để kiếm sống qua ngày. Sách lèo tèo vài ba cuốn. Thuốc lá thì vài bao. Vốn liếng đều do cô bạn nhỏ cùng quê tốt bụng giúp đỡ. Nhiều bữa không bán buôn được gì tôi chạy ra đầu đường uống nước máy trừ cơm. Ban đêm rúc vào một góc nào đó ngủ bụi. Vậy mà cũng lây lất ngày này qua tháng nọ như một phép lạ. Một hôm, anh bạn trẻ Đỗ Thất Kinh từ trên Bản Thuột về Sài Gòn tìm kế sinh nhai, may mắn tìm được một chân giao bơ đậu phọng cho khách hàng. Đang đói, tôi bám theo liền. Chật vật vậy mà hai anh em cũng sống qua ngày. Có điều ban đêm tôi phải tìm chỗ ngủ vì bạn tôi cũng ở lậu; rầy đây mai đó nhưng khá hơn tôi là bạn ngủ dưới một mái nhà.
21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 233)
Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 329)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 144)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 236)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương