DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,823,168

Mẫu Hệ - Trần Yên Hòa (chương 19-21)

22 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 16026)
Mẫu Hệ - Trần Yên Hòa (chương 19-21)



Mẫu Hệ



bky_1



Chương Mười Chín


dqe_4

tranh Đỗ Quang Em




Đảng phái: Không.

Trước đây, Soại không tham gia đảng phái nào cả. Kể cả đảng Dân Chủ của ông Thiệu một thời bành trướng đến tận cùng thôn ấp, lấy lực lượng chính quyền và hệ thống giáo dục làm nòng cốt. Tổ chức, ra mắt rầm rộ, cùng khắp. Nhiều sĩ quan, bạn bè anh đã tham gia, nhưng anh từ chối. Anh thấy đây là một đảng cầm quyền chẳng ra ngô khoai gì cả. Với lại, lúc đó anh đang hành quân suốt năm, suốt tháng, còn thì giờ đâu mà nghĩ đến chuyện «chính chị, chính em».

Nhưng anh cũng loay hoay suy nghĩ đến Việt Nam Quốc Dân Đảng. Hình như ở quê anh, những gia đình khá giả, tiểu tư sản, đều gia nhập đảng này. Khi anh còn bé dại, anh đã nghe nói đến những người trong Việt Nam Quốc Dân Đảng, đã làm nên những kỳ tích anh hùng. Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Ký Con, Nhượng Tống…Anh mê những hình hình ảnh lãng mạn cách mạng của họ, những con người mà thể hiện là nhân vật Dũng trong truyện Đôi Bạn và Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Và cả Nhất Linh nữa, anh cũng mê sự nghiệp văn chương của ông, và cả sự nghiệp hoạt động cách mạng của ông nữa.

Soại lớn lên trong một gia đình phú nông, cha anh là một thầy dạy học miền quê. Cha anh là hình ảnh những ông đồ nho còn sót lại của thời phong kiến qua thời đệ nhất cộng hòa. Cha anh để lại cho anh hình ảnh một con người của giai cấp trung lưu, yêu nước thụ động và chỉ có những ý nghĩ lãng mạn trong đời sống thường nhật.

Anh lại nghe lòng mình rộn lên những cảm xúc dạt dào của những ngày mới lớn. Việt Nam Quốc Dân đảng lập chiến khu Nam Ngãi chống chế độ Ngô Đình Diệm. Đó là hình ảnh thuở thiếu thời của Soại. Anh bảy Phát, anh tám Cẩn, anh Phước đã thoát ly lên rừng núi của ba xã Phước Sơn, Phước Cẩm, Phước Hà, lập chiến khu kháng chiến, gọi là chiến khu Sơn-Cẩm-Hà.

Ôi! Chiến khu, chiến khu.

«Lãng mạn cách mạng» quá đi mất thôi. Như chiến khu Ba Lòng của Đại Việt, và trước đó, chiến khu Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật, chiến khu Ba Đình của Đinh Công Tráng.

Sau đó, Việt Nam Quốc Dân Đảng đầu hàng chính quyền Ngô Đình Diệm và bị khủng bố đến tận cùng. Chỉ có một số ra làm việc cho chính quyền mới, còn lại, tất cả đều ở trong thế đối lập. Việt Nam Quốc Dân Đảng vẫn còn ẩn chứa trong anh những hình ảnh tuyệt vời.

Soại lại nghĩ đến phong trào học sinh sinh viên tranh đấu ngày anh còn học trung học. Đó là những ngày sau cách mạng 1.11.1963. Chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ kéo theo những khủng hoảng chính trị ở chính trường miền Nam. Phong trào Phật giáo tranh đấu, biểu tình, bãi khóa liên miên. Các bạn anh đã khoác lên mình bộ áo tranh đấu. Nào Trà, nào Chiến, nào Nhẫn, nào Tuyết. Những thằng bạn hiền hậu ngồi trong lớp chăm chú học hành và học giỏi, mà giờ đây đã đứng trên những chiếc xe, giữa chợ đông người đăng đàn diễn thuyết. Họ dăng biểu ngữ, hô hào biểu tình, họ phát biểu kêu gọi. Đoàn biểu tình đông đảo, tiếng gào thét vang rân trời. Tất cả đã đem nhiệt huyết tuổi trẻ của mình ra để đấu tranh, cho dân chủ, tự do, chống độc tài, quân phiệt. Nhưng họ không ngờ là họ bị giựt dây. Tuyết và Chiến, trên một chuyến xe đò đi từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng đã bị nghĩa quân bắt đem đi thủ tiêu. Những bạn còn lại bỏ trường bỏ lớp mà đi. Nhẫn bị bắt lên ty Cảnh Sát, nằm trong trại giam gần mấy tháng trời, ghẻ lở đầy mình, sau nhờ có người thân làm việc cho chính quyền bảo lãnh Nhẫn mới được thả ra.

Đó là một thời của tuổi thanh xuân, những người thanh niên đã trải lòng minh ra để làm một cái gì đó, nhưng tất cả đã bị điều hành, chỉ huy, lèo lái của những thế lực. Nên khi biết ra mình bị lợi dụng thì Trà phải bỏ trường mà đi, Nhẫn ra tù cũng tấp vô Sài Gòn, những đứa khác vào quân đội. Quân đội là chỗ an toàn nhất để trú thân, tránh sự trả đủa của chính quyền đương thời. Một thời buổi nhiểu nhương nhưng đầy hào khí. Đó là cái «lãng mạn cách mạng», bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ.

Chiến tranh lan rộng, mọi thanh niên đều phải thủ một thế đứng, bên này hay bên kia. Nguyễn Thanh Vân, Trình Nhữ, Trình Anh, Nguyễn Văn Tường, Trần Ngọc Thản «nhảy núi». Một số ít tiếp tục lên đại học, còn thì vào lính. Bên nào cũng cần những tay súng nã đạn vào quân thù. Bắn chậm thì chết. Miền Bắc ào ạt tuyển quân, miền Nam ra lệnh Tổng Động Viên trên toàn quốc. Những thiếu niên mới lớn bị xúc vào quân trường rồi thảy ra chiến trận. Miền Bắc thì đi B. Đường Trường Sơn, lũ lượt hàng trăm ngàn binh lính bộ đội miền Bắc tràn vào miền Nam.

Soại tình nguyện vào quân đội trong lúc anh đang đi dạy học. Thật ra thì không còn con đường nào khác. Dạy học rồi cũng bị động viên vào Thủ Đức, học sáu tháng ra chuẩn úy với cái quai chảo trên cầu vai. Làm trung đội trưởng với mấy chục người lính tiền tiêu, dễ chết như chơi. Thời buổi chiến tranh chuyện chết chóc là chuyện thường ngày. Soại quyết định thi vào trường hiện dịch. Anh sẽ học ở đó hai năm, biết đâu khi ra trường tình hình sẽ đổi khác, biết đâu gió sẽ xoay chiều.

Nhưng có phải anh tình nguyện đi sĩ quan hiện dịch vì lý do đó thôi sao? Hay vì Nại Hiên. Mối tình của Nại Hiên đã làm anh choáng váng. Cùng học chung một trường trung học. Nại Hiên như một hình bóng rất xa ngoài tầm tay. Nại Hiên áo dài trắng học trò, Nại Hiên hát hay, múa giỏi. Nại Hiên làm bàng hoàng trong anh nổi khắc khoải không rời. Nhưng có phải vì thế thôi sao? Nại Hiên có một người đàn ông theo đuổi, đó là một người xuất thân từ trường Võ Bị. Có phải sự tranh hơn của anh, muốn cho mình cũng được làm người hùng trong tim Nại Hiên nên anh tình nguyện thi vào trường hiện dịch? Để anh có những chiều thứ bảy, chủ nhật, bát phố cùng em trong những bộ đồ dạo phố mùa đông, mùa hè? Hay thành phố sương mù Đà Lạt đã quyến rủ anh trong những mộng tưởng xa vời? Thành phố sương mù. Thành phố núi. Hoàng triều cương thổ. Tất cả những lý do đó đã đưa anh đến Đà Lạt. Còn tình yêu Tổ Quốc, Lý Tưởng? chỉ lờ mờ, mơ hồ trong tâm tưởng anh như một sợi chỉ mong manh, xuyên suốt, ẩn sâu trong huyết quản, trong tâm thức. Chỉ bùng lên như lúc này đây, trong trại tập trung, anh mới thấy mình có một thời quá nông cạn trong suy nghĩ, trong đánh giá kẻ thù. Còn kẻ thù thì lọc lừa,hung bạo bao nhiêu?

Đêm vẫn lặng lẽ trôi qua một cách mệt nhọc. Khu Trảng Lớn rộng chứa đầy mấy ngàn người tập trung cải tạo. Đêm im ắng và buồn tẻ. Soại vẫn thao thức trong cơn đau nhừ của tinh thần. Anh cố gắng ngủ mà đôi mắt vẫn mở toang. Nhớ về vợ và các con thật xa vời vợi, như đã là ngàn trùng xa cách.


Chương Hai Mươi


tranh_dc_4

tranh Đinh Cường





Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chính trị cho giáo chức chế độ cũ tiếp tục đến tuần thứ ba. Nại Hiên vẫn sáng đạp xe trên tám cây số với cái gà mèn cơm để trên cái giỏ trước ghi đông xe. Một tập tài liệu học tập được để trong những tập sơ mi xanh, đỏ. Các giảng viên thay đổi theo từng tiết học. Ba dòng thác cách mạng, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chiến tranh giải phóng dân tộc, tội ác Mỹ Ngụy, tiến nhanh tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội. Chung quy, quay đi quẩn lại cũng chỉ bấy nhiêu đề tài. Trong thời gian học, có hai ông nhà thơ là Xuân Diệu và Lưu Trọng Lư được mời đến nói chuyện.

Nại Hiên đã một thời yêu những bài thơ tình lãng mạn của Xuân Diệu quá đổi, như bài Tương Tư Chiều:

Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm
Anh nhớ em, nhớ lắm em ơi!

hoặc bài Yêu:

Yêu là chết ở trong long một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng biết.

Hay Lưu Trọng Lư với bài Tiếng Thu:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
Em không nghe rừng thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.



Những bài thơ đó đã nhập vào tâm hồn Nại Hiên để nàng rung động và tôn thờ người làm thơ, đã viết những bài thơ tuyệt vời.

Bây giờ Xuân Diệu và Lưu Trọng Lư bằng xương bằng thịt đến đây, ngồi trên bàn kia, nói với đám học viên về những thay đổi ý thức của hai ông khi được cách mạng dùng lại, sau khi hai ông đã từ chối và phủ nhận những bài thơ đã làm thời tiền chiến. Nại Hiên tự dưng nghe chán nản lạ lùng, nàng không muốn nghe hai ông nói nữa. Thần tượng đã sụp xuống, đã thoát khỏi lòng nàng một cách mau lẹ. Khi Lưu Trọng Lư được người giới thiệu tiểu sử đọc lên những tác phẩm, trong đó có tập Tiếng Thu, ông liền đứng lên nói ngay:

“Những tác phẩm này không phải là tác phẩm của tôi nữa. Đó là những đứa con hư nên tôi từ chối nó. Đời tôi, hân hạnh nhất là tôi đã gặp được bác Hồ hai lần, điều này làm tôi tỉnh nghộ và sáng mắt ra.”


Cử tọa vỗ tay rào rào.


*



Buổi sáng thứ hai của tuần thứ ba, Nại Hiên đang ngồi trong lớp, thì chị thư ký từ văn phòng trường đem lên đưa cho người giảng viên một mảnh giấy. Người giảng viên đọc qua, rồi nói lớn:

-Cô Nại Hiên có khách, cô lên văn phòng để gặp.

Nại Hiên sững người một giây. Ai vậy? ai biết mình học ở đây mà đến thăm. Mà chắc cũng là khách quý nên dưới văn phòng mới cử người đến đưa giấy thông báo tận tay người giảng viên. Nại Hiên đứng dậy rời khỏi ghế. Nàng nói:

-Xin phép thầy em đi.

Người giảng viên mắt không nhìn nàng, miệng nói:

-Cô đi đi.

Nói xong ông tiếp tục giảng bài.

Nại Hiên bước ra hành lang, những người bạn cùng học nhìn nàng với cái nhìn dò xét. Ai thế nhỉ, ai đi tìm thăm Nại Hiên trong lúc này. Thường thường, những người khách đến tìm thăm phải là các cán bộ từ cấp huyện trở lên văn phòng mới cho mời người được mời lên thăm gặp. Nại Hiên phân vân suy nghĩ. Ai đến thăm mình lúc này? Nàng đi qua khoảng sân rộng là đến văn phòng trường.

Nắng chói chan trên đầu, nhờ có luồng gió mát thổi qua làm Nại Hiên thấy khỏe ra. Nàng nhìn một lượt cái sân trường, đã bao lần nàng nhìn mà lúc nào nàng cũng cảm động. Cũng trên sân trường này, mười lăm năm trước nàng đã tung tăng chạy nhảy với bạn bè cùng lớp, con Xuân Thu, con Bảo, con Minh, con Thu Nguyệt. Bây giờ tụi bay đi đâu hết rồi, chỉ còn tau trên sân trường đã đổi chủ, đổi tên. Nại Hiên bước qua những bồn hoa trông xơ xác, tiêu điều. Nàng bước lên bực thềm rồi đi vô văn phòng. Nắng dịu đi phía sau.

Người đàn ông bận đồ bộ đội chờ nàng ở phòng khách . Ông ngồi trên bộ sofa bằng simili màu nâu sẩm. Một khuôn mặt lạ. Nại Hiên chưa gặp bao giờ. Nàng chẳng có ai quen là bộ đội, trừ anh chàng đi cùng xe từ Sài Gòn về đây. Khuôn mặt người đàn ông trung niên sạm đen, choắt. Tóc bắt đầu hoa râm được chải thẳng ngôi, nhưng vẫn lộ ra những cuộn tóc bám bụi màu vàng trông dơ dáy. Nại Hiên nở nụ cười xã giao:

-Thưa chú muốn tìm tôi.

Người đàn ông đứng lên vội vàng chìa tay cho nàng bắt. Nại Hiên lừng khừng chưa biết có nên bắt tay hay không? Cách xã giao này tuy cũ mà vẫn mới đối với nàng. Ngày trước bạn cùng trường, cùng lớp, nếu gặp nhau chỉ chào hỏi chứ không bắt tay, nhất là với phái nữ như nàng. Bây giờ, chế độ mới phát huy bình đẳng giữa con người và con người nên bắt tay loạn xạ. Nàng do dự, nửa muốn bắt nửa muốn không thì người đàn ông vội vã chụp tay nàng, cầm lấy lắc lắc và nói mau:

-Cô là Nại Hiên phải không, tôi là anh tư Lộc đây, tôi là chồng chị Loan, đi tập kết ngoài bắc trở về. Tôi có tìm gặp mẹ ở trong quê nên biết về dì. Tôi đang làm ở phòng văn hóa thông tin thị xã. Hồi tôi đi tập kết, dì mới ba, bốn tuổi gì đó. Mới mà mau quá.

Nại Hiên từ từ nhớ ra, thì đây là anh rể của nàng đi tập kết mới về. Chị Loan đã mất. Tất cả đã mất, đã sụp đổ. Người chồng ra đi, bỏ lại đàn con năm đứa, trách nhiệm đổ lên người đàn bà. Gánh trên vai năm đứa con, chị Loan phải chạy vạy đủ thừ, làm đủ mọi nghề, sống đủ mọi nơi để kiếm ăn, để nuôi con. Bây giờ chị đã chết, người chồng trở về cũng chỉ là hình bóng.

Nại Hiên kêu lên:

-Vậy anh là anh tư Lôc. Em chỉ nghe nói đến anh đi tập kết, bây giờ anh đã trở về, đã hơn hai mươi năm. Lúc anh đi em còn nhỏ xíu. Bây giờ anh làm gì, ở đâu? Mà sao anh biết em học ở đây mà đến thăm.

Nại Hiên hỏi dồn dập. Nàng nghĩ đến chị Loan, đến những đứa cháu kêu nàng bằng dì, nay đã thất tán tứ phương.

Ông tư Lôc trầm ngâm nhìn Nại Hiên. Ngày ông đi Nại Hiên còn quá nhỏ. Ông không nhớ ra nỗi. Bây giờ trước mặt ông là một cô gái chững chạc, là em ruột vợ ông. Người vợ đã mất mãi đến ngày ông trở về lại miền Nam sau ba mươi tháng tư bảy mươi lăm mới biết. Từ ngày ông đi tập kết, ông bị nghi ngờ vì gia đình vợ theo Việt Nam Quốc Dân đảng, nên lý lịch của ông có những vết đen. Ông không được giữ chức vụ gì quan trọng. Đi tập kết, ông vẫn hy vọng trở về sau hai năm ký hiệp thương, thống nhất đất nước theo hiệp định Genève. Nhưng sau đó, với những biến chuyển chính trị, ông biết ông không thể trở về được. Năm năm sau, ông lấy một người vợ bắc kỳ, đến nay sinh được hai con đang sống ngoài bắc. Ông xung phong trở về miền Nam và được đưa về huyện. Ông đã vào thăm bà Ngọ và biết gia đình chỉ có một Nại Hiên di tản trở về. Bây giờ ông đang ngồi trước cô em vợ. Ông nhìn Nại Hiên một lượt rồi nói:

-Anh có vô chợ Trạm thăm mẹ, nên biết được dì từ Sài Gòn trở về xin đi dạy lại và đang học lớp bồi dưỡng chính trị ở đây nên anh ghé thăm. Biết hoàn cảnh của dì cũng quá khó khăn vì dượng phải đi trình diện học tập ở trong Nam, các con còn nhỏ dại quá. Anh cũng chẳng biết làm gì hơn, chỉ mong dì phấn đấu, cố gắng cho qua cơn khó khăn này.

Rồi giọng ông trầm xuống, nhỏ lại:

-Anh đã sống ngoài bắc hai mươi năm nên anh biết rõ hơn ai hết. Muốn sống cho an thân để nuôi các con, em phải chịu đựng, gió chiều nào theo chiều đó. Trước mắt là không biết em đi học rồi có được đi dạy lại hay không, tại vì ngành giáo dục họ xét lý lịch kỹ lắm. Em có chồng là ngụy quân và anh em đều tham gia ngụy quyền. Anh thấy khó lắm.

Nại Hiên ngồi im nghe anh tư Lộc nói. Nàng thấy như mình bị khó thở. Đây là anh rể nàng, đã đi tập kết hai mươi năm nay trở về, đã sống dưới chế độ này, đã biết hết đường đi nước bước của chế độ, đã nói thế, thì nàng còn hy vọng gì đây.

Nại Hiên bày tỏ lòng mình:

-Em chỉ mong được đi dạy lại, có chút lương để nuôi các con, chứ anh Soại em đi học tập, em biết xoay xở làm sao đây, em lo lắng quá.

Ông tư Lộc nhìn quanh, những người làm ở văn phòng đi qua đi lại, ông thấy ngồi ở đây nói chuyện không tiện lắm, nhất là nói chuyện liên quan tới chính trị. Mấy nhân viên văn phòng như lắng tai nghe hai người đang nói gì.

Ông chuyển sang chuyện khác:

-Nhớ hồi anh đi, dì còn nhỏ xíu. Bây giờ về lại, dì đã có chồng, có con. Thời gian qua mau quá. Anh thì ở ngoài bắc lao động nhiều, cực nhọc nên sức khoẻ cũng kém lắm.

Nại Hiên vẫn cứ nghĩ anh tư Lộc muốn dấu mình, chứ dù gì đi nữa, anh là người đi tập kết trở về, chắc là có ưu tiên và có quyền thế. Nàng thấy mình nên nhờ vả ảnh một chút, làm sao cho nàng được đi dạy lại là tốt nhất.

Nàng xuống giọng:

-Hoàn cảnh của em anh biết rồi, em chỉ mong học xong khóa bồi dưỡng này, về lại trong quê, được bổ dụng dạy học lại ở trường cũ là em mừng lắm. Em sợ như theo anh nói đó. Em không được bổ dụng thì không biết phải làm sao nuôi con đây, anh giúp em được không?

Thật ra, khi biết chuyện của Nại Hiên, ông tư Lộc cũng thấy chạnh lòng, nhưng ông cũng sợ can dự vào chuyện liên quan đế những bà con ở miền Nam, có tham gia trong chính quyền hay quân đội ngụy. Sự liên lụy cũ đã làm ông điêu đứng bao nhiêu năm. Ông tuy tập kết ra bắc nhưng không được tin dùng, chỉ làm những chức vụ không có thực quyền. Bây giờ, trước hoàn cảnh này ông chỉ còn một cách là hoản binh:

-Chuyện của dì phải để từ từ. Dì còn học ở đây hai tuần lễ nữa mới về lại trong quê. Để anh tìm hiểu trường em thế nào. Từ từ đã nhé. Bây giờ trước mắt là em hãy học cho tốt, cho đủ tiêu chuẩn nhé, nhé.

Giọng ông đã đổi nhiều, hai mươi năm sống ở miền bắc, đã làm ông đổi khác, từ giọng nói đến ngôn ngữ ông dùng, cái gì cũng nghe lạ.

Cuộc thăm viếng chỉ có thế, ông tư Lộc cầm cái nón cối để trên bàn rồi đứng lên:

-Thôi anh thăm em chỉ có thế, em vào lớp học tiếp để khỏi phải bỏ tiết học. Anh đi về đây, tuần sau anh sẽ trở lại.

Ông đội cái nón cối lên đầu, mang cặp kiếng đen. Ông nói với các nhân viên văn phòng:

-Tôi về đây, cảm ơn các đồng chí đã cho tôi thăm gặp.

Ông bước ra hành lang. Chiếc xe đạp dựng bên hiên đã khóa kỹ. Ông lấy chìa khóa ra mở rồi cẩn thận nhấn một chân lên pedal xe đạp, rồi ông đưa chân kia choàng qua cái yên xe, ông ngồi lên rồi đạp xe chạy thẳng ra cổng.

Nại Hiên trở về lớp học.


Chương Hai Mươi Mốt


bk_2_0




Buổi học cuối cùng của lớp bồi dưỡng không có gì vui. Không khí im lìm, u uất. Chỉ có cô giáo Hoan là còn xăng xái chạy chỗ nọ, chạy chỗ kia, để phân công anh chị em giáo viên làm một bữa liên hoan nhỏ, bữa tiệc chia tay. Số giáo sư cũ của các trường trung học - bây giờ tất cả giáo sư trung học, giáo viên tiểu học đều gọi chung là giáo viên - đa số đều có dây mơ rễ má với chế độ cũ. Họ là cha, là chồng, là con, là anh em của những nhân viên, công chức, sĩ quan quân đội cũ, nên ai cũng có thái độ dè chừng. Không muốn hăng hái xông xáo như những kẻ “cách mạng ba mươi”, vì ít ra họ cũng còn cái sỉ diện của kẻ sĩ, nhưng sợ bị chú ý nên họ cũng vỗ tay, cũng dơ tay phát biểu, cũng cười nói hỉ hả. Nhưng khi ngồi một mình họ lại trầm ngâm.

Giáo sư Quát, đại học sư phạm, từng dạy đệ nhị cấp trường trung học tỉnh lỵ về môn lý hóa, là người hăng hái thứ nhì sau cô Hoan. Quát không kết án chế độ cũ nhiều, nhưng trong cách làm việc và ăn nói, lúc nào Quát cũng tỏ ra tiến bộ, năng nổ.

Buổi tiệc liên hoan chỉ có bánh ngọt và nước trà. Mọi học viên đều được phát giấy Chứng Nhận. Tấm giấy chỉ là một tờ pơluya trắng, được đánh máy bằng loại máy chữ cổ điển. Thế mà Giấy Chứng Nhận này quan trọng vô cùng. Các giáo sư cũ muốn dạy lại ai cũng phải qua cửa ải này.

Hiệu trưởng trường Trần Cao Vân là một người đi tập kết về, ông ba Phát. Ông đứng lên phát biểu. Trước tiên ông lấy gương sáng của Hồ Chí Minh ra làm kim chỉ nam và bắt đầu tràng giang đại hải về người giáo viên nhân dân. Sau đó là ông tuyên dương các cá nhân xuất sắc trong lớp học.

Có ba người là cô giáo Hoan, thầy Quát và một nhân viên làm việc tại văn phòng. Những tiếng vỗ tay cộng với tiếng lạch phạch của chiếc quạt trần tạo nên một chuỗi âm thanh lạc lõng.

Đến phần văn nghệ, một ai đó đề nghị Nại Hiên lên hát. Nại Hiên chợt nghe tim mình thảng thốt. Hát gì đây? Những bài tình ca cũ làm sao hợp ở đây. Một thời đứng trên sân khấu cũng tại trường này, trong những đêm văn nghệ, nàng đã hát Cánh Hoa Thời Loạn, Cánh Hồng Trung Quốc, Cô Gái Mường Luông. Bây giờ thì phải theo thời, phải hát Cô Gái Sài Gòn Đi Tải Đạn, Chiếc Khăn Tay, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Cô Gái Vót Chông…Làm sao nàng có thể hát những bài hát đó. Nại Hiên đứng lên từ chối những lời yêu cầu. Có những tiếng xì xào đâu đó.

Buổi li
ên hoan kéo dài đến mười một giờ trưa. Trời nắng gắt. Nại Hiên chào một vài người bạn rồi bước ra cửa. Nàng định đạp xe xuống mua cho các con ổ bánh mì, mua cho bà Khai gói thuốc Cẩm Lệ rồi về nhà sớm. Nàng bước qua văn phòng định chào mấy chị làm việc ở văn phòng thì thấy anh Tư Lộc đứng dưới hàng hiên đợi nàng.

Thấy Nại Hiên, anh Tư Lôc lên tiếng ngay:

-Hứa với dì là đến thăm dì lần nữa mà anh bận công tác quá, hôm nay mới đến được. Biết hôm nay là ngày kết thúc của khóa học nên anh phải tranh thủ.
Nại Hiên cũng thấy vui vui. Trong mấy ngày qua theo lớp học bồi dưỡng này, đầu óc nàng khô rang và tẻ lạnh. Tự nhiên, nàng muốn biến đầu óc nàng thành vô thức, không tiếp thu một cái gì mới nữa. Mỗi lần lên lớp, việc đầu tiên của các giảng viên là chữi ngụy, chữi vô tội vạ, rồi khi vào bài giảng, gặp được đoạn nào nói về chế độ cũ thì mọi tội vạ đều được đem ra khai thác, khiến cho người nghe chỉ muốn “điếc” tai luôn.

Bây giờ gặp lại anh Tư Lộc, nàng thấy mình như gặp được một chút hơi ấm gia đình. Học ở đây bốn tuần, sáng đạp xe đi chiều đạp xe về, hai bận là mười sáu cây số, nàng thấy mông mình tê đi, riết rồi không còn cảm giác. Những người bạn cùng dạy học ngày trước, ngày trước sao mà xôn xao chào mời nhau, bây giờ gặp lại nhau chỉ hỏi nhau vài câu xã giao lấy lệ, rồi ai cũng rút về thế giới của riêng mình. Nàng không đến thăm ai và cũng chẳng có ai mời nàng. Những quán chè, quán cà phê, một thuở học trò nàng cùng bạn bè đến đó, nay nàng cũng thấy xa lạ đi. Nàng xếp hết lại những thân quen cũ. Đạp chiếc xe đạp cà tàng, ăn cơm đem theo mỗi buổi trưa. Tự dưng nàng thấy mình như tách rời ra hẳn đám đông này.

Nại Hiên vừa cười vừa trả lời anh Tư Lộc:

-May mà anh đến kịp chứ không em đã về rồi. Em định ra phố mua ít đồ cho con và cho bà nội mấy đứa. Có lẽ mai hay mốt là em về lại trong quê.

-Bởi vậy nên anh mới đi tìm dì. Thôi mình ra ngoài đường kiếm cái quán mình ăn cái gì đi, anh cũng đói quá rồi. Cũng mười một giờ rưởi rồi đó chứ còn sớm siết gì nữa.

Nại Hiên đồng ý. Hai anh em đạp xe lên đường Trần Dư, thấy có quán đề Mì Quảng, nàng đề nghị:

-Vào đây đi anh, ăn mì Quảng đi, lâu quá em cũng thèm ăn mì Quảng.

Hai người dựng xe đạp bên ngoài rồi bước vào trong. Quán trông thật sơ sài. Một vài người đang ăn. Nại Hiên ngồi vào một cái bàn vuông, trên để một số vật dụng như tiêu, ớt, nước mắm. Anh Tư Lộc hỏi:

-Em ăn gì?

Nàng bất cười đáp:

-Đây là quán mì Quảng thì vào đây chỉ có ăn mì Quảng thôi. Em ăn mì gà.

Kêu món ăn xong, ông Tư Lộc trầm ngâm một hồi lâu rồi mới nói:

-Anh muốn nói với em một chuyện quan trọng về việc xin dạy lại của em. Anh đã liên lạc với đồng chí hiệu trưởng trong ấy. Cũng nhờ chỗ quen biết cũ, nên anh nhờ ổng giúp đỡ. Cũng thật khó. Em biết lý lịch của em rất đen, tất cả đều làm bên chế độ cũ, nhất là chồng em, thằng Soại là sĩ quan chiến tranh chính trị, lại được đào tạo chính quy ở trường Đà Lạt ra, nên điều đó rất khó khăn. Anh cố vận động mãi ông hiệu trưởng mới chịu cho em về làm ở văn phòng, không được đứng lớp. Như vậy tạm thời cũng ổn. Em làm việc một thời gian, nếu em làm tốt, tư tưởng tiến bộ, sẽ được đề bạt dạy lại, vậy anh báo cho em biết, cũng là một tin mừng.

Nại Hiên nghe ông nói, tâm trạng nàng đi từ cảm giác này qua cảm giác khác. Nàng nghe tim mình rúng động. Điều nàng sợ nhất là nàng không được dạy lại. Qua lớp học, nàng mới thấy rõ sự hận thù và chia biệt đối xử giữa hai chế độ còn quá nặng nề. Không như nàng tưởng, hết đánh nhau là hòa bình, là xây dựng, là hòa hợp nhau để cùng chung sống hòa bình. Cái hố ngăn cách một ngày một sâu thẳm, đến độ nàng rùng mình khi nghĩ đến những hận thù bên này đối với bên kia vẫn còn cao chất ngất.

Khi nghe anh Tư Lộc nói nàng bị điều về làm ở văn phòng, nàng như nín thở. Nhưng rồi nàng cũng thở phào ra. Nàng chấp nhận và có chút vui mừng nữa. Ít ra cũng còn được đi làm để nuôi con.

Hai tô mì được bưng lên. Tô mì nghèo nàn thấy rõ. Không một con tôm, một chút thịt. Chỉ có đậu phụng giã nhỏ và những tép mỡ rang vàng. Ông Tư Lộc cầm đủa lên, rồi nói:

-Em ăn đi, ở bắc về, mong ăn một tô mì Quảng cho thật ngon, cho đã lòng ao ước, cho đỡ nhớ quê. Nhưng rồi về ăn tô mì như thế này, cũng hết đi nỗi nhớ quê.

Ông cầm đôi đủa xốc vô tô mì trộn đều. Nại Hiên cũng bắt đầu ăn. Mùi bắp chuối xắt nhỏ với rau tần ô nghe thoảng hương thơm dễ chịu. Tuy không có tôm thịt nhưng tô mì ăn cũng ngon miệng vì nước nhưn ngọt và nàng thì quá đói bụng. Nàng nhìn ông Tư Lộc ăn. Ông thật già rồi. Tuổi ông khoảng đâu trên dưới năm mươi mà trông ông hom hem thấy rõ. Bộ quần áo bộ đội bùi nhùi, chiếc nón cối, cái xắc-cốt, cặp kiếng đen. Đó là mốt của cán bộ “cách mạng” bây giờ. Ít ra, ông đã đi tập kết, đã mấy mươi năm tuổi đảng, ông cũng được giữ một chức vụ cao hơn chứ không phải là làm trưởng phòng thông tin thị xã.

Chợt Nại Hiên nghĩ đến mấy tháng trước đây, hồi còn ở Sài Gòn, nàng và Soại đi dạo ở đường Lê Lợi thì bỗng gặp Nam. Nam là bạn cùng lớp với Soại hồi trung học. Nam có người anh đi tập kết. Gặp Nam, cũng hơn mười năm mới gặp lại, tay bắt mặt mừng. Soại và Nại Hiên hỏi thăm sức khoẻ, tình hình chính trị chung chung, đến lúc hỏi về anh Phục, anh của Nam, đi tập kết ở bắc, nay thế nào? Nam huênh hoang:

-Anh Phục hiện làm vụ trưởng vụ đối ngoại thuộc bộ Ngoại giao, ngang hàng với thứ trưởng.

Nghe Nam nói xong, Soại vội vã bắt tay Nam để đi. Đi một quãng xa, anh mới nói với Nại Hiên:

-Bây giờ ai có bà con xa gần với cách mạng cũng đều lôi ra mà khoe, hồi trước khai lý lịch thì dấu như mèo dấu cứt.

Nhìn anh Tư Lộc ăn tô mì ngon lành, Nại Hiên nghĩ tới Soại và thấy ân hận khi quyết định trở về. Mình đã không nghe lời anh ở lại Sài Gòn để về đây dở sống dở chết. Nàng nhìn anh Tư Lộc một lần nữa. Một đời theo đảng để bây giờ câu nào anh nói ra cũng đầy vẻ chua cay.

Nại Hiên nói:

-Em cảm ơn anh đã giúp đỡ em. Không có anh chắc em lọt sổ rồi.

Ông Tư Lôc bộc bạch tâm sự:

-Anh mấy mươi năm đi tập kết về, anh chẳng làm được gì cho vợ con, còn sức giúp các em được chút nào hay chút đó. Đời nào cũng vậy em à, có quyền thì có đủ mọi thứ thôi. Nhưng anh thì bây giờ không có quyền gì, chỉ còn chút uy tín với đám cán bộ cấp dưới, là anh mang danh đã đi tập kết. Mai mốt nghỉ hưu là hết.

Nại Hiên cảm thấy ngậm ngùi. Nàng chạnh nghĩ đến anh Toàn, anh Đạt, anh Học, những người anh ruột nàng, một thời trai trẻ đam mê lý tưởng, nổi trôi vào guồng máy chính trị miền Nam. Bây giờ tất cả đều vào trại tập trung.

Nại Hiên muốn nói thêm một lời cảm ơn anh tư Lộc, nhưng nàng thấy nó cũng trở thành khách sáo. Điều anh Tư Lộc giúp nàng ở đây, như ngày xưa mẹ nàng đã cưu mang đùm bọc mẹ con chị Loan, ngày anh Tư Lộc trốn gia đình đi tập kết. Có phải đây là một món nợ được anh Tư Lộc trả lại cho nàng không?

Khi hai người đứng lên rời khỏi quán thì nắng bên ngoài đã gay gắt quá. Nàng lấy cái mũ lác đội lên đầu, che miệng bằng khẩu trang, chào anh Tư Lộc rồi đạp xe đi. Con đường Trần Dư đã mấy mươi năm rồi vẫn chưa tráng nhựa.


Trần Yên Hòa
(còn tiếp)

Thu hát cho người - Quang Tuấn ca - Nhạc: Vũ Đức Sao Biển





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 10924)
Đẹp ngẩn ngơ cái nắng Tam Kỳ. Nhuộm vàng phố nhỏ chút tình si. Rợp bóng con đường hoa bò cạp. Ngày xưa qua đó tuổi xuân thì. Hoa nở lung linh màu nắng mới. Em có về trên phố nắng trưa. Ngày đi mang cả mùa hạ nhớ. Rơi đầy trong gió sắc hương
06 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 11723)
Với tôi, đó là thước đo hay, chỉ dấu rõ nét nhất của một tài năng văn xuôi. Và, với “Sấp Ngửa” (phần truyện ngắn), Trần Yên Hòa xứng đáng được nhìn như thế.
02 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 7856)
Sấp Ngửa, tác phẩm mới nhất của Trần Yên Hòa ra mắt tháng 5 năm nay (2016), sau khi vừa tái bản truyện dài Mẫu Hệ, như là một kết hợp vừa tân truyện vừa vẽ lại chân dung một số bạn văn đa phần người cùng quê anh. Sách dày hơn 350 trang, khổ lớn, trình bày in ấn đẹp, trang nhã, phát hành song hành trên amazo
27 Tháng Năm 201612:00 SA(Xem: 6525)
Vẫn giọng thơ Hoàng Lộc cách đây năm mươi năm, vẫn văn phong, ngôn ngữ ngời ngời, lồng lộng mà chỉ Hoàng Lộc mới có. Đến bây giờ anh đã trên bảy mươi, một chuổi tháng năm dài với thơ không mỏi mệt
26 Tháng Năm 201612:00 SA(Xem: 10766)
Gã nối kết những tay em với danh từ rất kêu, rất nghĩa hiệp. Những điều mà ai cũng cố tìm ở nơi lưu lạc, nơi xứ sở lưu vong này một chữ tình. Phải, đúng vậy chớ, là chúng ta mất hết chỉ còn có nhau