DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,709,430

Chữ và Nghĩa - Ngô Nhân Dụng

25 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 9164)
Chữ và Nghĩa - Ngô Nhân Dụng

 Chữ và Nghĩa 

 

 

thieu_nu_2



Anh thư, nữ anh hùng – Nhiều người dùng chữ anh thư khi nói về đàn bà con gái, thay cho chữ anh hùng dùng cho đàn ông con trai. Thực ra trong từ “anh hùng” có đủ yếu tố nam và nữ. Chữ Anh nghĩa là cái nhụy hoa, tượng trưng cho vẻ đẹp đẽ, cao quý. Hùng là con chim đực, là mạnh mẽ (cũng có chữ hùng viết cách khác nghĩa là con gấu nhưng không dùng trong từ này), thư là con chim mái, con gà mái. Cụ Nông Sơn Nguyễn Can Mộng (1880 – 1954) khuyên tránh dùng chữ anh thư, vì theo cụ chữ Thư không có nghĩa mạnh mẽ; cụ khuyên dùng chữ “nữ anh hùng,” trong đó chữ Hùng chỉ có ý nghĩa tượng trưng là sự mạnh mẽ. Tuy nhiên trong cuốn Việt Hán Thành Ngữ cụ vẫn để hai chữ anh thư và giải thích dùng nó cho phụ nữ, như chữ anh hùng.

Ăn cắp, ăn cướp, ăn trộm – Thường dùng những chữ “ăn cắp, ăn trộm” khi có ai lấy của người khác một cách lén lút; còn lấy công khai, không sợ gì cả, là “ăn cướp.” Ăn trộm thường là lấy từ nhà người ta, khi chủ nhà đi vắng, ngủ kỹ hoặc sơ ý, khác với ăn cắp thường xẩy ra ở ngoài đường, ngoài chợ.

Ấn tượng – Hai chữ này vốn là một danh từ, bây giờ được dùng như một tĩnh từ. Thay vì viết “có ấn tượng rất tốt,” hoặc “gây đượcnhiều ấn tượng,” người ta viết “rất ấn tượng!” Đây là một lối viết không đáng khuyến khích. Viết để đùa cợt thì được, cũng như khi dùng hai chữ “hoàn cảnh!” Nhưng không nên viết khi nói chuyện đứng đắn, trang nghiêm.
Ẩu đả, ẩu tả – Nhiều người dùng lộn hai từ này. Hai chữ này đều “ẩu” nhưng chữ Hán khác nhau. Ẩu đả là đánh nhau, trong chữ Ẩu có bộ thù là ngọn giáo. Ẩu tả, nghĩa là làm bậy bạ; chữ ẩu có bộ khẩu nghĩa là nôn mửa, còn chữ tả nghĩa là đi tiêu phân lỏng vừa ẩu vừa tả thì nó tùm lum ra (giống như thượng thổ, hạ tả).

Bàng quan, bàng quang – Bàng quan là đứng bên cạnh, bên ngoài (bàng) mà xem (quan), nghĩa là không dính vào, không tham dự. Còn bàng quang là cái bong bóng chứa nước tiểu.

Bảo tồn, bảo lưu, bảo vệ – Bảo vệ có nghĩa là che chở, còn bảo tồn nghĩa là gìn giữ; cho nên người ta viết “bảo vệ môi trường sống” chứ không viết “bảo tồn môi trường.” Bảo lưu cũng có nghĩa là giữ lại. Dùng chữ “bảo lưu ý kiến” khi có ý nói giữ ý kiến đó lại để coi sau, so sánh tính toán sau; còn “bảo tồn ý kiến” là giữ vững, không thay đổi ý kiến đó.
Bình quân (xem chữ trung bình)

Bỏ phiếu, đầu phiếu – Hai từ này có nghĩa như nhau. Chữ “đầu”ù nghĩa đen là bỏ phiếu vào trong thùng phiếu, cũng dùng trong các từ đầu quân, đầu cơ.

Chất phác – Gốc viết là phác chất, nay quen viết ngược lại cũng không đổi làm gì. Phác là cây gỗ mộc, chưa làm gì tới, chất có nghĩa như bản chất.

Chúa Chổm – Nên viết hoa khi dùng thành ngữ “Nợ như Chúa Chổm.” Vì đó là một danh từ riêng, tên của mọ vị vua thời Lê Trung hưng, lúc đang chống lại nhà Mạc ông được nhiều người cho vay nợ, khi lên làm vua nhiều người đến đòi nợ.

Đa phần –Nghe lai lai, như người Trung Hoa nói tiếng Việt. Thay vì dùng chữ này, nên viết: phần lớn, phần nhiều, hoặc nhiều phần.

Đề cập tới – Chữ Cập đã có nghĩa là tới, đến; cho nên dùng thêm những chữ tới, đến là thừa. Chúng ta nên biết như vậy, tuy nhiên theo thói quen người ta vẫn nói thừa cũng đành chịu.

Đô la –Nhiều quốc gia gọi đơn vị tiền tệ của họ là đô la, cho nên bình thường ta cần xác định đô la Mỹ, đô la Úc, hay đô la nước khác. Chỉ khi viết một đoạn dài trong đó nói riêng về nước Mỹ mới nên dùng hai chữ “đô la” để nói đơn vị tiền tệ Mỹ. Tiền Mỹ gọi là Mỹ kim cho đỡ lầm, nhưng khi gọi tên Gia kim (đô la Canada) hay Úc kim, thì hơi rắc rối làm độc giả mất công nghĩ. Gọi là đô la Úc, đô la Canada dễ hiểu hơn. Khi viết tắt 59 Mỹ kim thì nên viết US$100. Chữ USĐ nửa Tây nửa Ta coi không đẹp, nên tránh không dùng.

Đồng hương, đồng bào – Bào là cái bọc, đồng bào là anh em cùng mẹ, nói chung là những người gốc cùng một nước, nói rộng ra là cùng một quốc tịch. Đồng hương là cùng quê quán. Khi muốn nhấn mạnh đến tình máu mủ, dùng chữ đồng bào; còn đồng hương chỉ cốt nói có chung nhau một quê quán, không có dấu vết tình cảm. Một người Việt và một người Mễ cùng ở California gọi là đồng hương, nhưng nếu quốc tịch khác nhau thì không gọi là đồng bào.

Đồng thuận – Người ta hay lạm dụng những chữ này khi hô hào mọi người chia sẻ cùng một mục tiêu với nhau, vốn là một động từ. Dần dần, những chữ này trở thành một tĩnh từ, rồi biến chất trở thành một “giá trị” đi kèm theo những giá trị xã hội khác, giống như hăng hái, nhiệt thành, đoàn kết, tự do, dân chủ, vân vân. Nhưng hai chữ đồng thuận ý nghĩa rất hàm hồ, không rõ như các chữ “đồng ý” (chủ về tri thức) hoặc “đồng lòng” (nói về tình cảm), hoặc “đồng tâm” (nghiêng về ý chí). Hai chữ “đồng thuận” không biết nói về ý hay về tình? Không biết. Điều nguy hiểm là khi nghĩ đến hai chữ này như một giá trị thì người ta sẽ hiểu lầm hai chữ Dân Chủ. Một chế độ dân chủ có cần mọi người “đồng thuận” hay không? Không cần, và không nên chút nào cả. Khi có nhiều ý kiến khác biệt thì mới cần thể chế dân chủ, và trong chế độ dân chủ thì mọi người có quyền và nên được khuyến khích giữ các ý kiến khác biệt. Khi biểu quyết coi ý kiến nào được đa số chọn không có nghĩa là mọi người bắt buộc phải đồng thuận về ý kiến đó. Ngược lại, nên giữ ý kiến của mình, tiếp tục tranh đấu cho ý kiến đó, biết đâu có ngày sẽ thuyết phục được đa số nghĩ như mình. Cho nên, xin hết sức dè dặt khi dùng hai chữ đồng thuận. Các bạn có “đồng ý” như vậy không”

Ganh đua, tranh đua – Có người viết trên báo mình nói đến “một cuộc ganh đua thể thao.” Chữ dùng đúng hơn là “tranh đua” hoặc “tranh tài” thể thao.

Giải ngũ, phục viên – Giải là cởi bỏ, là tan hàng; giải ngũ có nghĩa rộng là được ra khỏi hàng ngũ quân đội. Phục viên nghĩa đen là trở về ruộng vườn, thường dùng khi nói đến những quân nhân trở về làng sau khi chiến tranh chấm dứt.

Hạch tâm, hạt nhân, nguyên tử – Nhiều người dùng các chữ đó thay đổi cho nhau, nhưng chúng ta nên phân biệt. Chữ “nguyên tử” dùng xưa nhất để dịch chữ atom, atomic, thí dụ “bom nguyên tử.” Khi nói đến các vũ khí thì nên dùng chữ “hạch tâm” hay “hạt nhân” (tiếng Việt), vì những thứ bom nặng sau này là bom khinh khí, mạnh hơn bom nguyên tử nhiều lần. Các loại hỏa tiễn dùng để chở những bom này cũng có thể gọi chung khi nói tới vũ khí hạch tâm. Chữ “nuclear” dịch là hạch tâm hoặc hạt nhân đều được, nhưng trong một câu nếu dùng những chữ Hán Việt như “năng lượng” hoặc “vũ khí” thì đi kém với “hạch tâm” nghe thích hợp hơn. Khi viết đến “bom” dùng chữ “hạt nhân” hoặc “nhà máy điện” thì dùng chữ “nguyên tử” thuận tai.

Hàng ngày, hằng ngày – Viết hằng ngày (hằng có dấu ă) khi muốn nói một việc ngày nào cũng xẩy ra. Dùng chữ hàng ngày, hàng tháng, hàng năm, khi muốn nói một sự việc kéo dài cả ngày, cả tháng, cả năm.
Hảo hán – Đọc truyện Tầu rồi quen nhiều người dùng chữ hảo Hán để nói về một người đàn ông can đảm, tải giỏi; đọc truyện chưởng còn thêm “một trang Hán tử.” Trong các từ đó, chữ Hán có nghĩa là người Hán, tức người Trung Hoa, như trong câu Bất đáo Trường thành, phi hảo Hán. Không nên đề cao một người Việt bằng cách gọi người đó là một trang hảo Hán, không đúng mà có khi còn làm cho người ta giận.
Hiệp (Hợp) chúng quốc - Nhiều người viết nhầm thành Hiệp chủng quốc (dấu hỏi ở chữ chủng). Cách gọi tên đúng là Hiệp Chúng Quốc (dấu sắc) hay là Hợp chúng quốc. Chữ “chúng” có nghĩa là nhiều (nhiều tiểu bang hợp lại thành nước này). Cứ viết tên nước Mỹ hoặc Hoa Kỳ cũng được. Tên đầy đủ là Hợp Chúng Quốc Mỹ châu, dịch nguyên văn tên United States of America. Nhưng không nên viết là Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, nghe ngớ ngẩn vì hai chữ Hoa Kỳ cũng đủ.

Hiệu quả, hiệu năng – Viết hiệu năng khi nói tới kết quả cụ thể của việc làm, của một người, một tổ chức, một cái máy, vân vân. Hiệu năng cao khi nào kết quả được nhiều hơn mặc dù sử dụng cùng một số nhập lượng. Còn gọi là hiệu suất khi viết có vẻ chuyên môn. Nói đến hiệu quả là dựa trên thành tích đạt được đúng mục tiêu đã nhắm. Dùng một cái máy có hiệu năng cao nhưng có thể không hiệu quả vì cái máy đó không sản xuất đúng món hàng mình muốn. Một tổ chức có hiệu năng cao hơn mỗi khi tiết gỉam chi phí, nhưng chưa chắc đạt được hiệu quả mong muốn.

Hóa – Chữ này dùng để tạo ra một danh từ mới, chẳng hạn đại chúng hóa, Âu hóa, lão hóa, đơn giản hóa. Chữ hóa vốn là tiếng Hán Việt, vì vậy phải tránh, không nên dùng với những chữ nôm như “trong sạch hóa, vui vẻ hóa.” Khi đó, nên viết cách khác: làm trong sạch, tạo không khí vui vẻ.

Hoàn cảnh – Cũng như những chữ ấn tượng, hai chữ “hoàn cảnh” là danh từ nhưng hay được dùng như tĩnh từ. Chẳng hạn, “Nó hoàn cảnh lắm anh ạ!” Người nghe hiểu là người nói “gặp hoàn cảnh khó khăn,” hoặc “trong hoàn cảnh ngặt nghèo” sao đó! Nên tránh lối viết này, trừ khi cố ý đùa rỡn.

Học giả và những từ tương đương – Hai chữ học giả vốn có nghĩa là người chuyên môn học hỏi (tức là nghiên cứu) về một môn học nào đó. Cũng có thể gọi là nhà nghiên cứu, nhà khảo cứu. Nhiều khi người ta dùng danh hiệu học giả để gọi chung những người đọc nhiều, biết nhiều, dù không chuyên về ngành nào; hoặc viết sách khảo cứu về nhiều đề tài không liên can đến nhau. Từ này đã bị lạm dụng khá nhiều, có khi bị chế nhạo; cho nên ta chỉ nên dùng để gọi ai nếu chính người đó muốn, hoặc đồng ý; và nên nói rõ một ngành chuyên khảo của người đó. Những chữ “nhà nghiên cứu, nhà khảo cứu” thì không nên dùng trống trơn mà phải nói rõ là người đó nghiên cứu về một hay những môn gì; nếu không thì không đủ nghĩa.

Khất thực – Dùng để nói việc các nhà tu (Phật giáo) đi xin ăn. Đây là một phương pháp tu tập thiền quán, không phải chỉ có mục đích xin thức ăn. Có người dùng hai chữ “chư tăng hành khất,” là dùng sai. Hành khất là đi xin, một nghề nghiệp kiếm ăn chứ không phải là một phép tu tập.
Kiều dân, kiều bào – Chữ kiều có nghĩa là đi ở xứ khác, nơi không phải nước mình. Kiều dân là dân nước này đang ở nước khác. Kiều bào cũng có nghĩa tương tự, nhưng người Việt Nam thì gọi các người Việt khác là kiều bào vì là đồng bào, cùng một bọc với nhau; còn khi gọi các người Pháp, người Hoa cũng ở nhờ thì gọi họ là kiều dân, không dùng chữ bào nữa. Các từ này được dùng từ khi chúng ta không phân biệt chủng tộc và quốc tịch. Ngày nay, có sự phân biệt vì mỗi quốc gia có thể gồm nhiều chủng tộc khác nhau. Cho nên, nên gọi những người quốc tịch nước này sang ở nước khác là kiều dân, khi họ nhập tịch rồi thì không nên gọi bằng tên đó mà dùng chữ “người Mỹ gốc ...” Tuy nhiên theo lối thông thường tất cả mọi người cùng gốc từ một quốc gia mà sống ở nước khác có thể gọi chung là kiều bào. Cho nên chữ Việt kiều có thể dùng để chỉ chung tất cả mọi người Việt Nam sống ngoài nước Việt Nam, dù họ đã đổi sang quốc tịch mới hay chưa. Chữ Hoa kiều chỉ chung tất cả những người Trung Hoa ở nước ngoài. Ngày nay các chữ “Người Việt hải ngoại” hay “Hoa kiều hải ngoại” thông dụng hơn.

Kỷ nguyên, thời đại, thời kỳ, giai đoạn – Nên dùng chữ kỷ nguyên cho một thời gian dài trong lịch sử nhân loại, đánh dấu bằng các biến cố quan trọng có ảnh hưởng lâu dài; thí dụ kỷ nguyên công nghiệp, kỷ nguyên tin học. Thời đại nên dành cho các thời gian lịch sử lâu dài hơn, thí dụ thời đại đồ đá, thời đại đồ sắt, thời đại phong kiến. Khi viết về lịch sử một dân tộc nên dùng những chữ thời kỳ, chẳng hạn thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh. Những khoảng thời gian ngắn hơn dùng những từ như giai đoạn, hoặc thời, đủ rồi. Chẳng hạn thời Việt Nam Cộng Hòa, thời chiến tranh Nam Bắc.

Lang bạt kỳ hồ – Đây là một thành ngữ cổ, có nghĩa là con lang (loài chó sói) đi lập chập vấp váp (bạt) trông như con cáo (hồ). Từ này bây giờ có nghĩa là đi lang thang vô định, có thể tốt hoặc xấu, ta biết nghĩa gốc của nó thì đỡ dùng nhầm.

Liên doanh – Thường dùng cho các vụ kinh doanh chung giữa người trong một nước và người nước ngoài. Khi hai xí nghiệp cùng một nước hợp tác làm ăn thì tránh dùng từ này, mặc dù vẫn đúng nghĩa. Tất nhiên, từ này khác hoàn toàn từ “liên danh.”

Lờ đờ, lừ đừ – Lờ đờ nói đến vẻ thiếu tinh khôn, dáng điệu không nhanh nhẹn. Còn lừ đừ có thêm nghĩa là dáng nặng nề chậm chạp, nhưng vẫn có thể còn tinh khôn. Trong một truyện ngắn trên Thế Kỷ 21, tác-giả viết: ‘Bên tay phải, cầu Trà khúc nhộn nhịp xe cộ, dưới cầu dòng nước cạn chảy lừ đừ.’’ Có lẽ “lờ đờ” chính xác hơn chăng: lờ đờ là chậm chạp, uể oải. Thí dụ: nước chảy lờ đờ, cặp mắt lờ đờ (glassy eyes), con sông lờ đờ trôi (sluggish river). Lờ-đờ như gà ban hôm. Lừ đừ cũng có nghĩa là uể oải, mệt mỏi, nhưng hay dùng để tả dáng điệu một người. Thí dụ: Người lừ đừ muốn bệnh; lừ đừ còn có nghĩa không linh hoạt: bộ lừ đừ dễ bị ăn hiếp. Lừ đừ như Ông Từ vào đền. Lừ đừ có khi dùng như lừ khừ hay lừ thừ.

Lưu ý – Đúng nghĩa thì chúng ta chỉ nói một người lưu ý đến một sự việc nào đó. Có thể nói, “Tôi xin quý vị lưu ý tới tai nạn xe cộ.” Nhưng nhiều người dùng sai, viết “Tôi xin lưu ý quý vị về tai nạn xe cộ.” Nên dùng nghĩa đúng thì hơn.

Năng suất, sản năng, sản lượng – Khi nói đến sức làm việc nói chung thì dùng chữ năng suất, như năng suất của hệ thống tin học, năng suất lao động. Sản năng là nói một cách cụ thể đến năng suất của việc chế hóa, tạo thành của cải, như sản năng của một cái máy làm bánh, sản năng nông nghiệp. Những từ trên có nghĩa trừu tượng, còn sản lượng có nghĩa rõ ràng, cụ thể hơn như khi nói tới sản lượng của nhà máy là 300 tấn.

Ngoạn mục – Đúng nghĩa là đẹp mắt, cũng có thêm ý là vui lòng. Nhưng có người dùng cẩu thả, như khi viết, “Vụ khủng bố ngoạn mục ngày 11 tháng Chín.”

Nhất trí – Đây là một chữ hay bị lạm dụng, dùng trong nhiều trường hợp khác nhau trong khi có thể dùng những chữ khác; sự lạm dụng chỉ làm nghèo tiếng Việt đi. Nhất trí nghĩa là tất cả cùng chung một ý kiến. Khi nhiều người biểu quyết, tất cả cùng bỏ phiếu cho một ý kiến nào đó, có thể gọi là nhất trí. Nhưng nếu có một ý kiến chiếm đa số phiếu mà mọi người chấp nhận, khi đó không phải nhất trí. Khi một người chịu theo ý kiến của một người khác, nên dùng chữ “đồng ý” chứ không phải nhất trí. Khi nào có thể dùng hai chữ đồng ý thì tránh hai chữ nhất trí. Ngay cả khi tất cả mọi người cùng một ý kiến cũng có thể dùng chữ đồng thanh, đồng tình, không nhất thiết gọi là nhất trí.

Nói – Ít người dùng nhầm chữ “nói,” tôi tin như vậy. Cho tới lúc tôi đọc trên báo Người Việt mình có người viết chú thích một tấm hình như sau: “Trung úy XYZ nói với báo chí khi tới hải cảng” Câu viết đúng văn phạm, nhưng nghe thấy nó cụt, hẫng. Nên viết là “nói chuyện với.” Khi viết “nói với báo chí,” người đọc chờ đợi còn gì sau đó, thí dụ “nói với báo chí về chuyến đi” chẳng hạn.

Phiêu bạc – Người ta hay viết lầm ra phiêu bạt, không có nghĩa. Phiêu là trôi nổi không biết đi đâu, bạc là cái bến thuyền đậu. Nhưng chúng ta không thể đổi được thói quen đã biến một cách viết sai thành tiếng nói bình thường.

Quá giang – Nguyên gốc nghĩa là qua sông, nhưng bây giờ dùng cho việc đi nhờ xe, và rộng hơn, khi nhờ vả ai, nhân tiện, làm giúp một việc gì. Thí dụ, anh đi ra bưu điện, cho tôi quá giang gửi giúp một bao thư. Nhiều người nói hoặc viết lầm là “có giang.”

Ngô Nhân Dụng

Thu Vàng



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn