DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,955,049

Ngó Lại Thời Cầm Súng - Luân Hoán

Wednesday, October 31, 201212:00 AM(View: 20799)
Ngó Lại Thời Cầm Súng - Luân Hoán

Ngó Lại Thời Cầm Súng


 

 cam_sung

trung đội trưởng Lê Ngọc Châu (Luân Hoán)

 

 

khác nhiều bạn hào hùng khí khái

coi rất thường tính mạng bản thân

ta vốn là trân châu của mẹ

nên quyết tâm giữ tốt xác thân

 

khi tự nguyện chọn đi đánh giặc

chẳng phải vì chính nghĩa cao xa

cầm cây súng không là chọn nghiệp

nhưng thấy vui góp sức gọi là

 

trong ta vốn có nhiều trái ngược

nhưng tựu trung ta vẫn là ta

lúc khiêm nhường đôi khi cao ngạo

cặp nách theo ích kỷ hào hoa

 

không khởi từ binh nhì binh nhất

không vinh thăng giữa trận oai hùng

ta tích cực đi liền tiêu cực

đề huề ba bốn thói trộn chung

 

mặc áo lính ắt nên cầm súng

súng trong tay phải dự hành quân

ta nhiều lúc vô cùng can đảm

một đôi lần khó giữ cơn run

 

điều may mắn thường thường chiến thắng

đột kích lai rai, đánh đấm qui mô

cuộc đụng độ như chơi cờ gánh

một món chơi ta vốn cao cờ

 

đầu đời lính đương nhiên được bắn

vào bụi bờ cây lá linh tinh

thời gian đó quả là hơi ngắn

khi chỉ xài loại súng carbine

 

không khinh địch, màu mè chút ít

treo bên hông lủng lẳng khẩu colt

trung đội trưởng bộ binh chí mén

ngó sơ qua bộ vó tạm ngon

 

colt 45 chỉ mang làm cảnh

có rút ra cũng chỉ cầm chơi

dù khóa an toàn luôn mở sẵn

đạn trên nòng ngủ gục khơi khơi

 

rất may có lính đầy gan dạ

những Nặc, Bưng, Tý, Dớp, Lòn, Sun...

những tên gọi thiếu phần hoa mỹ

nhưng chân tâm lại đẹp vô cùng

 

tình đồng đội đúng là số một

tình thầy trò thân mật tự nhiên

giữa mặt trận đẹp hơn hậu cứ

tình người tăng đôi chút uy quyền

 

nương những tiếng “sát” hô hùng dũng

cùng xung phong hết biết sợ gì

nói thiệt, xáp lá cà chắc chết

sức vóc ta bẹp dí tức thì

 

chiến lợi phẩm thu về đều đặn

khi AK khi lựu đạn chày

khi chỉ một lá thư thương nhớ

lạc dòng, sai chính tả hay hay

 

ta giữ chơi thư tình kẻ lạ

hà cớ chi cứ thích xem hoài

tình mộc mạc sao thân quen quá

hay chính ta thương gởi về ai

 

người chỉ huy thật tình sung sướng

bàn tay không có số sát quân

ta ba năm dẫn đầu đấm đá

không khinh binh nát áo tơi quần

 

có dính đạn cũng toàn nhè nhẹ

y như là cấp phép sinh con

trong những lúc tạm ngưng bầu gánh

nhiều đứa con ta mất linh hồn

 

ta lính chiến trông như lính cảnh

ống tong teo khó đuổi nổi ruồi

đâu ai biết những khi chạm nọc

chẳng nghĩ chi đến chuyện mạng người

 

kể thành tích nghĩa là khoe mẻ

ừ, chả sao những mẩu chuyện vui

nhớ Trà Bồng, Tam Quan quá đỗi

những nơi từng vừa đánh vừa chơi

 

chuyện đánh giặc trăm lần như một

dù mỗi lần biến hóa khác nhau

vết thương huy chương liền một mạch

kết thúc mở ra những khởi đầu

 

mục tiêu chiếm rồi mai trả lại

máu đổ giây chuyền ngấm đất đen

quê hương ra sao chưa cảm nhận

vùi thây đồng bào xác anh em

 

núi sông có tăng lên vẻ đẹp

nhờ máu xác người bón xuống chăng

một chút tình ta thơm hương đất

hay... không sao lòng đã thăng bằng

 

lặng ngó lại thời ta cầm súng

buồn vui lẫn lộn cứ như là

đã chết lâu năm vừa sống dậy

quơ cây súng ngắn bắn gian tà

 

Luân Hoán

(Theo Chân Bộ Binh)

 

Chiều Trên Phá Tam Giang. Nhạc: Trần Thiện Thanh. Thơ: Tô Thùy Yên. Tiếng hát: Lê Uyên và Thiên Kim


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, April 21, 20196:59 AM(View: 39)
Theo Lĩnh Nam chích quái, thời thượng cổ có hai anh em họ Cao là Cao Tân và Cao Lang rất giống nhau và rất thương yêu nhau. Khoảng năm 17 và 18 tuổi, cha mẹ từ trần, hai anh em đến theo học đạo sĩ Lưu Huyền. Đạo sĩ có người con gái khoảng cùng tuổi tên Liên. Hai anh em đều thầm yêu cô Liên, muốn cưới làm vợ. Cô gái biết được Cao Tân là anh, nên kết duyên cùng Cao Tân. Hai vợ chồng sống rất đầm ấm và hạnh phúc, nhưng người em là Cao Lang cảm thấy buồn rầu nên bỏ nhà ra đi, và qua đời bên một dòng suối sâu, hóa thành một cây cao (nhứt trụ kình thiên = một trụ chống trời). Cao Tân ở nhà, thấy em ra đi lâu ngày, liền đi tìm và cuối cùng thất vọng, gieo mình chết bên dòng suối, hóa thành phiến đá. Vợ Cao Tân đi tìm chồng, đến dòng sông, cũng buồn quá, gieo mình ôm lấy phiến đá mà chết, biến thành một dây leo quanh phiến đá. Ông bà họ Lưu đi tìm, tới đây quá đau xót, lập miếu thờ. Về sau, một hôm vua Hùng đi tuần tra, dừng chân nghỉ mát ở trước miếu, thấy cây xanh lá tốt mọc
Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 29)
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước. Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời
Monday, April 15, 20197:53 AM(View: 57)
Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo? Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương...” Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television - TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication). Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm: In ấn từ cuối thế kỷ 15. Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19. Điện ảnh từ khoảng năm 1900. Phát thanh từ
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 64)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 162)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã