DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,729,308

Mẫu Hệ - Trần Yên Hòa (chương 25-27)

01 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 17373)
Mẫu Hệ - Trần Yên Hòa (chương 25-27)

Mẫu Hệ

 


bia_mau_he



Chương Hai Mươi Lăm


rung_5

tranh của Rừng

 


Ông hiệu trưởng tám Thọ hôm nay đến trường sớm. Ông ăn mặc tươm tất hơn mọi ngày. Chiếc sơ mi trắng đã cũ, quần tây xám bằng vải đạt-rông xếp li, áo bỏ trong quần, được thắt với dây nịt màu nâu. Như thế cũng tạm gọi là chững chạc, vì thường ngày, ông chỉ bận độc một bộ áo quần bộ đội bỏ ra ngoài quần, nón cối, dép râu, thế là đủ, để ông đi làm.

Thường thường, khi ông thay đổi áo quần là có chuyện quan trọng xảy ra ở trường, như có cấp trên đến tham quan hay là có công tác đặc biệt như thi cử hay hội họp, chẳng hạn.

Thật vậy, hôm nay, Phòng Giào Dục sẽ xuống trường xem xét lại nhân sự ở trường, cho vào biên chế hoặc sa thải những người không đủ năng lực về căn bản trí thức hoặc lý lịch.


Ông tám Thọ đi vào văn phòng với cái xắc cót đựng hồ sơ. Hôm nay ông phải báo cáo với phái đoàn của huyện về tình hình nhân sự của trường. Thật ra, từ ngày giải phóng đến nay đâu cũng mới hơn sáu tháng. Thời gian giao thời còn nhập nhoạng, những giáo chức cũ trở lại trường ông đều thu nhận dạy lại, vì trường đang thiếu giáo viên. Giáo viên mới của chế độ chưa được đào tạo. Giáo viên ngoài bắc vào hay theo giải phóng trở về cũng rất hạn chế, vì trong chiến tranh, ngành giáo dục không được quan tâm đúng mức. Trình độ giáo viên còn quá hạn hẹp nên ông đành thu dụng những giáo viên cũ. Đây là bước đầu, nên ông phải tạm hoản binh và cũng theo đúng chính sách của chế độ mới ban hành. Chứ thật ra, ông rất sợ những giáo chức cũ, nhất là những giáo sư đã tốt nghiệp đại học sư phạm, trình độ trí thức họ đã cao, kèm theo trình độ chuyên môn đứng lớp họ vững vàng, nên ông sợ. Một người đi tập kết như ông, học lôm côm mớ chữ ở trường làng, rồi theo đuổi mấy khóa nghiệp vụ bổ túc văn hóa mấy tháng, nên ông sợ mình có nói điều gì hớ hay sai, sẽ là đầu đề cho bao nhiêu chuyện cười mà ông đã nghe loáng thoáng trong những lúc chuyện vãng, những mẫu chuyện như đùa của những anh lính giải phóng từ miền bắc vào nam, họ lớ nga, lớ ngớ, thế mà cứ làm như mình đang ở một nước văn mình tân tiến đến khai hóa một dân tộc man di mọi rợ. Ông quyết tránh những chuyện trên, nên với lớp giáo sư cũ ông ít trao đổi hay thân tình. Ông chỉ ra những chỉ thị của nhà trường để họ thi hành. Ông sợ nhất là nói đến triết học, đến chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa Lenine. Những vốn liếng ấy thì ông ít biết. Thôi thì cũng một lần nín thở cho xong công việc. Đến bây giờ, công việc trường trại tạm thời ổn định và bắt đầu đi vào nề nếp, nên ông muốn nhân cơ hội có phái đoàn từ Phòng Giáo Dục huyện xuống thanh tra, ông muốn danh chính ngôn thuận, đề nghị loại bỏ những giáo viên cũ. Ít ra, như vậy ông cũng muốn cái quyền của ông được thực thi và nhổ đi được những cái gai trước mắt. Rồi ông phủi tay, cho sự loại bỏ này là do phái đoàn thanh tra của huyện quyết định.

Ông bước vào văn phòng với sự hăm hở của những toan tính. Nại Hiên ngồi đánh máy một số giấy tờ tại bàn làm việc thường ngày, thấy ông vào, nàng đứng dậy thưa:

-Thưa thầy.

Ông nghiêng cái đầu, nửa gật nửa không, ông đáp lời:

-Chào cô, cô làm việc sớm quá, tốt lắm.

Nại Hiên nói lại:

-Thưa thầy, em cũng vừa đến đúng giờ.

Ông không trả lời câu nói của Nại Hiên, nhưng ông đã có trong lòng sự khâm phục ngầm. Cô giáo trung học đệ nhị cấp bị đưa xuống làm thư ký văn phòng, nhưng cô không bất mãn, công việc lúc nào cũng hoàn tất tốt, nhất là quy luật về giờ giấc, đến đúng giờ mà về cũng đúng giờ, không bao giờ ăn gian của nhà nước một giây phút nào. Trong tâm ông, ông có phục cô giáo trẻ này, nhưng khi đối diện với cô, ông có chút mặc cảm về bằng cấp, về sự hiểu biết. Trong ông luôn có hai trạng thái đối nghịch, muốn loại bỏ cô giáo này cho ông khỏi phải đối diện với những mặc cảm tự ti thua sút, nhưng ông cũng có một chút lương tâm công bình là cô giáo làm việc rất có hiệu quả, đã đỡ đần cho ông biết bao là công chuyện. Vã lại, với ông tư Lôc, anh rể của Nại Hiên, dù gì cũng là chỗ tình nghĩa nhiều năm ở đất Bắc, nên ông cũng thấy phân vân.

Ông đặt cái xắc cốt lên bàn rồi ngồi thừ người ra. Những giáo viên ông muốn loại bỏ ông đã lên danh sách. Thầy Quỳnh dạy vật lý lớp mười một, trung úy ngụy biệt phái, đã theo lớp học tập cải tạo ở huyện một tuần, rồi về xin đi dạy lại đã được ông chấp nhận. Nhưng hôm nay, ông sẽ đề nghị phái đoàn huyện cho Quỳnh đi tiếp tục cải tạo trên Tiên Lãnh vì Quỳnh trong diện sĩ quan ngụy. Giáo sư Huy dạy môn Triết ở lớp mười hai nay xuống dạy Việt văn lớp sáu, ông cũng đề nghị cho nghỉ vì Huy có người anh chạy trốn ra nước ngoài. Huy bị động viên đi lính ngụy chín tuần lễ trở về. Ông sẽ đề nghị lên với đoàn huyện là, môn Triết tư bản là phản động, không còn chỗ đứng trong chế độ mới. Huy không còn môn dạy với chuyên môn của mình nên cho về vườn là hợp lý. Giáo sư Khởi dạy Anh văn, là con rể trong gia đình Quốc Dân Đảng. Khởi bị động viên đi sĩ quan Thủ Đức, tốt nghiệp ra chuẩn uý, trở về dạy lại tại trường. Nay ông sẽ xét lý lịch và đề nghị phái đoàn cho thầy Khởi nghỉ.



tranh_dc_4



Ông xoa tay, đứng lên cầm phích nước nóng rót vào bình trà. Nại Hiên vẫn chu đáo lo nước nóng và trà cho ông hàng bữa. Ông biết đó là lòng tốt của Nại Hiên. Nhưng bây giờ thì sao? Cô giáo đại học sư phạm này cũng sinh ra trong gia đình Việt Nam Quốc Dân Đảng, có chồng là sĩ quan Đà Lạt đang tập trung cải tạo. Lý lịch như vậy làm làm sao ông lưu giữ lại cho được. Dù có lời gởi gắm của tư Lộc nhưng tư Lộc đã đến thời xuống dốc, không còn nắm giữ chức vụ gì quan trọng nữa. Ông nghĩ, để công minh, ông nhường cho phái đoàn huyện quyết định việc này. Như vậy, ông vừa an tâm, vừa không chạm đến tư Lộc.

Khoảng chín giờ thì phái đoàn của huyện tới. Có năm người. Tất cả đều bận đồ bộ đội. Thời đại này các viên chức hành chánh, giáo dục, mà vẫn bận đồ bộ đội. Hình như cái bộ đồ ấy đã tự nói lên cái vẻ cách mạng, cái vẻ viên chức nhà nước. Nó là một quyền hành.

Ông tám Thọ ra đến tận hành lang văn phòng đón phái đoàn. Những cái bắt tay nồng nhiệt, những vòng tay ôm nhau th
ân thiết. Những lời nói đẩy đưa:

-Chào đồng chí thủ trưởng.

-Chào đồng chí.

-Chào đồng chí.

-Đồng chí mạnh giỏi.

Phái đoàn giáo dục huyện gồm năm người, trưởng phòng, phó phòng đặc trách chi ủy, trưởng ban nhân viên, một thư ký và một nhân viên lái xe. Họ đi trên một chiếc xe nhà binh Trung Quốc đã cũ.

Sau khi an toạ ở bàn hội nghị trong văn phòng hiệu trưởng, ông tám Thọ đứng lên nói lời chào mừng phái đoàn. Ông nêu ra một số khó khăn về nhân sự của trường còn tồn tại. Sự thiếu hụt giáo viên trong lúc ban đầu. Bây giờ tình hình đã đi vào nề nếp. Mọi quyết định đều do Phòng Giáo Dục huyện chỉ đạo.

Ông nói nhiều về cách trồng người của chế độ mới, những ưu việt hơn hẳn chế độ tư bản như là tôn trọng tài năng và nhân phẩm của con người. Giáo dục góp một phần quan trọng trong sự nghiệp trên, nên cần có một lớp cán bộ căn bản đạo đức, thấm nhuần tư tưởng con người mới xã hội chủ nghĩa.

Ông kê ra một số giáo viên mới, được đưa từ rừng về, dù sức học trong chiến tranh có hạn chế, nhưng đó cũng là những hạt nhân tốt để đưa nền giáo dục xã hội chủ nghĩa lên cao. Đó là giáo viên tư Lành, nguyên là du kích xã Kỳ Sanh, bị thương được đưa ra chữa ở miền bắc và đã theo tu nghiệp ngành giáo dục ở Trung Quốc. Đó là cô giáo hai Mới, giáo viên ấp tân sinh chế độ cũ, lén lút hoạt động địch vận nay đã trở thành giáo viên tiên tiến. Đó là ba Kha, đã trên bốn mươi tuổi mới tốt nghiệp đại học hệ tại chức tại miền Bắc. Đó là hai Mô, người đàn bà đã chiến đấu gan dạ trong trận đánh vào căn cứ Núi Thành của ngụy quân, nay hòa bình lập lại, trở về cầm phấn và đứng trên bục giảng.

Ông tám Thọ thôi nói. Ông nhìn lướt qua những khuôn mặt trong phái đoàn huyện. Tất cả những cán bộ này cũng là người từ rừng về. Trông ai cũng đăm chiêu, khắc khổ. Ông uống một ngụm nước trà cho thông cổ họng rồi ông chuyển qua những người ông muốn loại bỏ.

Thầy Quỳnh, thầy Huy, thầy Khởi, cô Nại Hiên. Ông nói, cố giữ cho ra vẻ vô tư, bình thản. Các người trong ban thanh tra cúi xuống ghi chép. Ông đi từ đoạn đời hoạt động của từng người trong thời gian phục vụ trong chế độ cũ. Ông xuyên sâu đến tư cách, phong cách giảng dạy.

Rồi ông kết luận:

-Thưa các đồng chí! Tôi muốn cho các đồng chí hiểu được nhu cầu giáo dục của trường chúng tôi. Chúng ta cần đào tạo ra một lớp người mới xã hội chủ nghĩa, như lời bác Hồ dạy về cách trăm năm trồng người, để tùy các đồng chí quyết định.

Buổi họp kéo dài gần ba tiếng đồng hồ.

Nại Hiên sững người khi biết mình không còn đi làm được nữa. Ông hiệu trưởng tiễn phái đoàn ra tận cổng, khi trở vào, ngập ngừng một chút, nhìn lướt qua khuôn mặt nàng, rồi ông tám Thọ nói:

-Thành thật chia buồn cùng cô. Tôi cũng muốn giữ cô lại làm việc, vì cô làm việc rất tốt, nhưng quyết định không phải ở tôi mà ở phái đoàn thanh tra của huyện đã cho cô nghỉ việc.

Nại Hiên không nói gì. Nàng biết mình sẽ bị loại bỏ từ từ khỏi các sinh hoạt trong guồng máy của chế độ mới. Nghĩ đến mẹ đang ở nhà, đến ba đứa con, nàng ứa nước mắt.


Chương Hai Mươi Sáu



blank



Mùa đông đã đến với trại cải tạo Long Khánh, căn cứ cũ của sư đoàn 18 bộ binh. Mùa đông rét cóng đầu tiên đến với những người tập trung. Chưa ai được thăm nuôi lần nào. Đã gần nửa năm rồi. Áo quần rách hết, mùng mền te tua. Cái lạnh hàng đêm như dao cắt vào da thịt. Nằm co ro trên nền xi măng, những cái bao cát lót phía dưới không đủ làm ấm thân thể, đám cải tạo không ngủ được, ai cũng lăn qua lăn lại vì lạnh. Không có thuốc hút, họ tìm những lá cà pháo phơi khô, vấn lại thành điếu thuốc. Rít những hơi thuốc qua cổ, khói bốc khét lẹt cả gian phòng.
Noel đến trong buồn tẻ. Không có tổ chức gì để mừng Chúa giáng trần. Đám con chiên im lặng. Họ đọc kinh thầm.

Gần Tết nguyên đán. Tất cả các dãy lán được tập họp lên hội trường. Trại phát động thi đua văn nghệ, bích báo để đón mùa Xuân tới, mùa Xuân đầu tiên hòa bình, thống nhất đất nước.

Anh em trong lán đề cử Soại làm trưởng ban văn nghệ của đội và chủ biên báo tường, đón Xuân.

Ý kiến của đội trưởng Phong:

-Anh Soại là dân Chiến Tranh Chính Trị, dĩ nhiên anh biết cách tổ chức một chương trình văn nghệ cho đội, để thi đua văn nghệ toàn trại, cũng như anh đã có một thời viết lách, anh làm tờ báo tường là hợp lý nhất.

Tự dưng Soại cũng thấy náo nức. Không biết cái máu văn nghệ trong anh có trổi dậy không mà anh thấy náo nức. Nhớ những đêm văn nghệ ở trường Đại Học, những chủ đề, những trường khúc, Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, được tập kỹ càng với Ban Hợp Xướng, với sự điều khiển của nhạc trưởng Đào Quang Hùng, một người bạn cùng khóa. Những đêm trời lạnh cóng, Đà Lạt vẫn nồng nàn với tiếng hát lời ca của bạn bè anh. Bây giờ trời Long Khánh cũng lạnh cóng, cũng những người chiến hữu cũ, nhưng đây là trại tập trung.

Soại được nghỉ lao động từ nay cho đến Tết. Anh có hai công việc để làm, là tổ chức một chương trình văn nghệ thi đua và làm báo tường. “Báo tường”, một danh từ mới, trước gọi là bích báo, bây giờ là báo tường. Anh suy nghĩ những chủ đề, những bài hát, những vở kịch. Cũng như trong đầu óc anh loay hoay với những bài thơ, những mẫu truyện viết ngắn.

Trong những buổi họp đội, quản giáo không đề cập đến nội dung chương trình văn nghệ hay nội dung tờ báo tường. Nhưng ai cũng biết đây là trại cải tạo. Phải viết bài ca tụng bác và đảng, ca tụng chế độ mới. Soại hiểu điều đó. Trong tâm anh, anh muốn thực hiện một chương trình văn nghệ trung dung, ca tụng lòng yêu nước với những bài hát đã được hát. Không chữi Mỹ Ngụy. Anh tự thấy an tâm với ý nghĩ này.



blank



Những cơn gió lạnh cóng vẫn tràn về với lán trại hàng đêm. Ai cũng có những thao thức riêng của mình, nhưng Soại không còn những suy nghĩ về hoàn cảnh của mình nữa. Anh có những công việc phải làm trong một ngày đầy bận rộn.

Anh đề nghị với quản giáo cho anh hai người phụ tá. Nguyễn Anh Tuấn, một tay đàn và Nguyễn Phương, một nhà văn cũ mà anh đã biết tiếng tăm. Anh gặp hai bạn ở góc nhà đội.

Hai bạn ngồi đối diện anh. Soại nói:

-Tết gần đến, toàn trại có chương trình văn nghệ thi đua như hai anh đã biết, tôi được đề cử làm trưởng ban văn nghệ, mình đã làm thì phải làm cho tốt, nên tôi nhờ hai anh giúp đỡ. Tôi chỉ biết tổng quát, tổ chức chương trình, còn thực hiện nhờ hai anh với hai bộ môn. Anh Tuấn lo tập dượt văn nghệ, anh Phương lo báo tường. Hai anh được nghỉ lao động đến Tết.

“Nghỉ lao động” là một miếng mồi ngon. Quản giáo đem ra nhử Soại. Anh cắn câu. Bây giờ anh đem ra nhử Tuấn và Phương, hai bạn không nói gì, coi như chấp nhận.

Soại bàn với hai bạn về một chủ đề. Tuấn nói:

-Ở đây phương tiện không có, mình nên làm đơn giản, đơn ca, hợp ca là chính. Có thêm điệu vũ nữa thì tốt. Còn kịch hoặc chủ đề sẽ làm loảng sân khấu, với mười mấy đội, đâu có thì giờ để mình trình diễn nhiều.

Nguyễn Phương đề nghị:

-Tôi chỉ làm thơ và viết lách lăng nhăng, viết chữ không đẹp, xin anh Soại đề nghị quản giáo xin thêm anh Thư, anh Thư viết chữ bích báo thì tuyệt, anh Thư sẽ trình bày tờ báo.

Soại đồng ý. Lần này, có bốn người được miễn lao động, còn những người hát hoặc trong tốp vũ, chỉ được nghỉ trong những ngày tập dượt.

Tuấn làm một chương trình nhỏ với những bài ca “cách mạng”: Chiến sĩ vô danh, Trường Sơn đông, Trường Sơn tây, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn, Tiếng chày trên sóc Bambo. Một điệu múa. Soại đồng ý, chừng đó là đủ.

Về báo tường, Soại giao cho Phương và Thư, chỉ dặn hai bạn, nhớ cẩn thận về nội dung. Phương có một bài thơ, Hoa Rau Tím, rất dễ thương.

Mùa đông đi qua yên ả nhưng lạnh quá, nhất là về đêm. Những người cải tạo hốc hác thấy rõ. Không khí Tết gần đến với tiếng hát của ban văn nghệ làm cho mùa xuân đầu tiên nghe thấm thía.

Rồi Tết đến, mọi người được chia trong bữa ăn đêm ba mươi, đón giao thừa, đêm thi đua văn nghệ, một chén cơm, một chén thịt heo, một đĩa rau xào. Bữa ăn có chút mỡ và thịt nên ai cũng vui. Soại nhìn chén thịt được chia, suy nghĩ, không biết mình được chia mấy chén thịt như thế này nữa mới được về.
 



blank




Buổi tối ở hội trường trại, đèn măng sông sáng trưng. Một số cán bộ đốt đuốc bằng những áo quần rách quấn lại, nên khung cảnh trông rập rờn. Những đội văn nghệ bận áo quần hóa trang. Một số đóng các vai thiếu nữ nông thôn làm nhiều anh chàng nhìn lác con mắt. Tất cả cải tạo viên phải tham dự nên hội trường chật kín người. Mùi mồ hôi, mùi hơi người, mùi áo quần mục bẩn, mùi áo quần bao cát, trộn lẫn nhau nghe nồng nặc.

Sau lời tuyên bố ngắn gọn của thủ trưởng trại, đêm thi đua văn nghệ bắt đầu. Soại nghe hồi hộp. Một số đội khác lên trình diễn trước. Một số bạn hát cũng có hồn dù là những bài hát mới. Nhất là đội của Xuân, người bạn cùng khóa với Soại. Xuân đã nổi tiếng về những vũ khúc dân tộc hồi còn ở trường. Nay Xuân dựng vũ khúc “Người Đợi Người” nhạc của Tôn Thất Lập. Điệu vũ khá thành công, nhiều tiếng vỗ tay nổi lên dồn dập.

Đến khi xướng danh đến đội của Soại. Soại bước lên sân khấu.

Dưới anh đèn sáng choang, anh lên nói lời chào mừng rồi đọc ý nghĩa của bài hát sau đó mới giới thiệu người hát. Khi Tuấn đang ca bản Trường Sơn đông, Trường Sơn tây, quản giáo Quýnh đến bên Soại nói nhỏ:

-Anh Soại, nhớ giới thiệu ngắn gọn.

Soại nghe như nghẹn lại ở tim. Anh cố giới thiệu để chứng tỏ tài ăn nói của anh nhưng anh bị phê bình. Hết bài hát, anh lên sân khấu chỉ nói vỏn vẹn một câu:

-Sau đây là điệu múa Ngày Mùa của đội mười.




blank




Buổi văn nghệ kết thúc lúc 11 giờ đêm sau khi các đội khác lần lượt lên trình diễn. Khi về lán, nằm trên nền xi măng nhiều lời bàn tán xôn xao. Có lời khen cũng như có lơì chê về chương trình văn nghệ của đội. Soại im lặng. Anh có một chút tự hào cũng như một chút hổ thẹn.

Mấy ngày sau đó, cả đội được tập họp, quản giáo Quýnh tuyên bố đội được xếp hạng ba toàn trại về văn nghệ và hạng nhì về báo tường. Nhiều tiếng vỗ tay. Soại lên nhận từ cán bộ Quýnh giải thưởng. Đó là một tập nhạc với những bài ca “cách mạng”. Anh đứng lên nói lời cảm ơn những người bạn cộng tác với anh về văn nghệ cũng như về bích báo, nhớ tên ai anh nói tên người ấy.

Sau đó có một số bạn đến khiếu nại với anh:

-Sao tôi có một ban hợp ca mà anh không nhắc đến tên tôi.

Soại đành xin lỗi.

Sau Tết, cuộc sống của đám cải tạo trở lại bình thường. Sáng bảy giờ đi lao động. Đào hố cao su, đi lấy củi, trồng rau xanh, phát rẫy. Nhiều người nằm bịnh xá vì thiếu dinh dưỡng.

Vẫn chưa có thăm nuôi.




Chương Hai Mươi Bảy


 

ntrung




Nại Hiên trở về nhà. Một lần trở về buồn bã và tuyệt vọng. Nhận được tin thôi việc từ ông hiệu trưởng tám Thọ, nàng bỗng chao đi một lúc rồi nàng lấy lại bình tĩnh. Nàng sắp xếp hồ sơ đúng như mọi ngày vẫn làm, nàng định cố gắng để làm hết ngày hôm nay, nhưng đến gần trưa, không chịu được sự xao động và buồn trong lòng, nàng gõ cửa vào nói với ông hiệu trưởng:

-Thưa thầy, em đã làm xong công việc ngày hôm nay, em xin về.

Ông hiệu trưởng tám Thọ đang đọc cái gì đó, nghe tiếng gõ cửa thì ngẫn đầu lên, thoáng thấy bóng Nại Hiên, ông trở nên lúng túng, khi nghe Nại Hiên nói, ông mới trấn tỉnh lại rồi cất tiếng:

-Cô muốn nghỉ việc ngay hôm nay hả? Thôi cũng được. Tôi cũng không giữ cô làm gì. Cô về đi, tôi sẽ chấm công cho cô đến cuối tháng. Tem phiếu mua hàng cũng vậy, cô sẽ nhận được đầy đủ.

Nại Hiên nói cảm ơn thầy rồi bước ra ngoài. Nàng đi luôn một mạch ra ngoài chỗ để xe đạp. Nàng cúi mặt đi lầm lủi, rồi nàng ngững lên nhìn lại ngôi trường. Đây là lần cuối cùng nàng nhìn lại ngôi trường, một thời gian dài nàng đã gắn bó. Bây giờ thì hết rồi, hết mọi hy vọng. Sẽ là lần cuối cùng, sẽ không còn những háo hức đứng trên bục giảng trở lại. Bốn năm đã sống và làm việc ở đây. Dù gì cũng để lại trong tâm hồn nàng bao nhiêu kỷ niệm. Nàng cũng muốn đến chào thầy Quỳnh, thầy Huy, thầy Khởi, nhưng cũng chẳng nghĩa lý gì. Ai cũng như nàng, cũng hoàn cảnh của một người bị cho thôi việc.

Nại Hiên bước ra khỏi sân trường, đến cổng, nàng quay lại nhìn ngôi trường. Nàng vẫy tay thật nhẹ với ngôi trường rồi vẫy tay tay đón một chiếc xe lam, cho tài xế bỏ chiếc xe đạp nàng lên mui, nàng thấy mệt mõi không còn sức để đạp xe đạp nữa.

“Anh biết không? Em đã trở về và đã thất vọng. Một hy vọng nhỏ bé để bấu víu là được đi dạy lại, để khi anh về cùng em lo nuôi con, mà cũng không được. Bây giờ không biết em sẽ làm gì để sống đây. Anh ở đâu, anh đang ở đâu vậy hở?”

Người lái xe hỏi:

-Cô về đâu?

-Tôi về đến chợ.

-Hai trăm.

Nại Hiên lấy tiền ra trả. Nàng không nói gì thêm. Nàng nghe lòng mình chùng xuống.

Nại Hiên đạp xe từ ngã ba chợ về nhà. Vẫn con đường đất đỏ mấy chục năm nàng đã sống. Bây giờ tự nhiên như xa lạ, vô hồn. Mấy lần đi làm về, nàng thường ghé chợ để mua chút cá hay chút thịt về nấu cho mẹ và các con ăn cơm. Hôm nay nàng bị thôi việc, buồn quá, nàng chạy xe về nhà luôn.

Các con chạy ra đón nàng. Đứa nào cũng vô tư hỏi mẹ đủ điều.

Nàng đi vào nhà. Bà Ngọ hỏi:

-Sao hôm nay về sớm vậy con?

Nàng ứa nước mắt:

-Con bị cho nghỉ việc rồi mẹ.

Bà Ngọ hơi sựng lại một chút. Nhưng rồi bà cũng hiểu ra. Nai Hiên không thể được tiếp tục làm việc vì gia đình bà toàn là “ngụy”. Điều đó thật dễ hiểu. Bà không buồn nhưng bà lo cho con và cháu. Nó sẽ làm gì để kiếm miếng ăn đây?

Bà nhẹ nhàng nói:

-Khi con về lại đây mẹ đã nghĩ là con không xin đi dạy lại được. Trước đây những thầy cô giáo gia đình có liên quan đến ngụy đều không được dạy lại. Con được làm việc là chuyện khó tin, cũng nhờ thằng tư Lộc. Nay con nghỉ việc là mẹ biết điều mẹ nghĩ là đúng, thằng tư Lộc thì sắp nghỉ hưu. Thôi cũng đừng buồn, chuyện đâu còn có đó. Trời sinh voi sinh cỏ.

Bà Ngọ nói theo suy nghĩ của bà, bà dùng chữ “ngụy” để chỉ về phe quốc gia như bao nhiêu người đã dùng, để chỉ một chế độ đã qua, bà không có một suy nghĩ gì về từ ngữ. Nại Hiên ra giếng rửa mặt, mũi, tay, chân. Nàng thả chiếc gàu xuống giếng nước múc nước, mặt nước lung linh, b
óng hình nàng tan loãng, chao động. Bóng nước chao động như chính lòng nàng lúc này. Chỉ có một ý nghĩ duy nhất. Làm gì để ăn, để sống đây? Nàng, một bà mẹ và ba đứa con. Nàng làm việc ở trường thế mà cũng được sáu tháng. Mỗi tháng lãnh được mười tám ký gạo. Tem phiếu mua thức ăn, thực phẩm và một số tiền nhỏ. Cả gia đình nàng sống dựa vào đó.

Bây giờ mất đi khoản lương đó. Làm sao? Làm sao? Gần Tết rồi. Còn mấy tuần nữa thôi. Thôi chịu đựng qua Tết sẽ lo liệu cho công việc mới. Lúc này phải xắn tay áo lên chạy chợ. Chứ không cả nhà sẽ đói. Nghĩ đến chữ đói nàng thấy run người lên.

Tết rồi cũng đến, đang đến. Buồn tẻ và lạnh ngắt. Cả nhà không sắm sửa gì. Không hoa quả, không bánh trái. Bánh tét, bánh ú, bánh gai của những mùa tết xưa, nay không có. Không pháo nổ, không dưa hành câu đối đỏ. Cả gia đình Nại Hiên sống lầm lủi. Nàng soạn lại mấy cái áo cũ còn mặc được cho các con. Mua một con gà về cúng giao thừa với xôi nếp. Cả nhà im lặng. Bà Ngọ nhìn con và cháu ăn tết mà nước mắt lưng tròng. Cái tết đầu tiên sau ngày giải phóng. Nàng không dẫn con đi chơi đâu, chỉ lẩn quẩn trong nhà. Nàng nghĩ đến Soại bằng những ý nghĩ rời rạc. Mười ngày đã qua. Rồi ba tháng, rồi sáu tháng. Mọi hy vọng đoàn tụ tắt ngấm trong lòng nàng. Nàng thấy nàng khổ hơn bất cứ ai, kể cả Soại đang trong diện tập trung. Vì trên vai nàng còn phải nuôi ba đứa con. Nàng phải suy nghĩ, tính toán.


Ngày mồng ba.

Đang ngồi xếp đồ cho con ở ghế trường kỷ thì có tiếng chó sủa rồi tiếng xe đạp thắng kít ngoài sân. Tiếng của bé Anh Thư reo ngoài hiên:

-Chào chú Hòa, chú Hòa đến thăm con đó hả? Chúc mừng năm mới chú Hòa.

Nại Hiên nghe tim mình đập mạnh. Hòa. Lại Hòa.

Hòa dựng xe bên bức tường rồi bước vô nhà sau khi trả lời mấy câu chào hỏi của bé Anh Thư. Ngày Tết, Hòa bận đồ thật tươm tất. Quần tây xám, áo sơ mi xanh da trời, đi dép sa bô. Bỏ đi bộ quần áo bộ đội thấy Hòa trẻ ra.

Hòa thấy Nại Hiên thì nở nụ cười, rồi vồn vả nói:

-Chào chị Nại Hiên năm mới.

-Chào anh Hòa, năm mới anh đi chơi sớm nhỉ.

Hoa đon đả:

-Sẳn đi thăm bạn bè ở Núi Thành, ghé qua thăm chị và mấy cháu. Chị khỏe không, phát tài chưa?

Nại Hiên không cười nữa. Nàng cau mặt lại, nói mỉa mai:

-Tôi mất việc từ tháng nay lận, nên tết đến buồn lắm. Mấy ông ở phòng giáo dục huyện cho tôi nghỉ việc vì tôi có thân nhân tham gia chính quyền cũ. Tôi đói đến nơi rồi đây, chứ có gì mà phát tài.

Hòa trố mắt nhìn Nại Hiên, tưởng như nàng nói đùa, nhưng nhìn khuôn mặt ấy, đôi mắt ấy, ai cũng thấy một nổi u uẩn khôn cùng.

Hòa nói nhỏ như một an ủi:

-Tôi không biết chị đã nghỉ việc. Xin lỗi chị. Tôi đã nghĩ trước chuyện này nhưng không giám nói cùng chị.

Hòa đứng im lặng bên Nại Hiên, hai tay anh vòng trước ngực. Nại Hiên nghe tự lòng mình có một cơn giận từ đâu ùa tới. Có phải chế độ này mà đại diện là Hòa, là những người mặc đồ bộ đội từ trên rừng về. Đạn pháo nổ trên những nóc nhà, những mảnh vườn, cày xới đất đai, làm bật tung lên những xác người. Trẻ em. Đàn bà. Người già. Họ không có một tấc sắt trong tay. Họ là những người cùng khổ chạy giặc tứ tung cùng khắp các nẽo đường. Không có những người bộ đội như Hòa, bỏ quê, bỏ đất, lên rừng. Để bây giờ, trở về tạo nên một hố sâu ngăn cách với những ý thức hệ về chủ nghĩa. Quốc gia, Cộng sản, là gì? Chẳng là gì hết. Nạn nhân. Những con tốt nạn nhân. Nàng cũng là một trong những con tốt đó.

Cơn giận làm nàng đỏ mặt, nàng muốn nói một câu gì đó với Hòa, nhỗ toẹt vào mặt anh những uất hận mà nàng đã ngầm giữ trong lòng từ ngày bị ngh việc. Nhưng cái lòng nàng, cái miệng nàng, từ lâu, vẫn là của một cô giáo, đứng trên bảng đen giảng cho học trò những lời hay ý đẹp. Nàng không mở ra lời. Cuối cùng nàng chỉ ứa nước mắt nói:

-Các anh về đây làm gia đình tôi khổ quá. Thôi anh đi đi, đừng đến thăm tôi nữa, tôi hận mấy anh quá rồi.

Hòa hơi sựng lại vì câu nói của Nại Hiên, anh cũng tự hiểu ra, có một hố sâu ngăn cách gữa anh và nàng. Trên đường từ Sài Gòn về, cô giáo một nách ba con làm anh mũi lòng và thấy cần giúp đỡ. Qua những lần tiếp xúc, anh thấy nàng một tâm hồn rất lạ lẫm làm anh bị cuốn hút. Có phải những ngày trong bộ đội, nằm rừng, nằm hố, đã chôn chặt trong anh những ước mơ về một mối tình đẹp. Ai nói con người cộng sản không có tình yêu. Anh đã lên rừng là cả một nhiệt huyết của tuổi trẻ. Chiến Tranh Giải Phóng. Kháng Chiến. Là những danh từ đẹp nhất đã kích động con người anh. Bây giờ trở về. Anh thấy mình như đã qua đi, đã bỏ mất một quãng đời niên thiếu đẹp đẽ thơ mộng. Nại Hiên đã cho anh lại những mơ mộng về một tà áo dài thấp thoáng ở sân trường trung học. Nhưng sao Nại Hiên vẫn còn căm hờn những người như anh? Ra đi vì một lòng giải phóng quê hương.

Anh nói nhẹ nhàng:

-Chị đừng buồn tôi. Tôi vô tội trong chuyện này. Thôi xin phép chị tôi về. Chúc chị một cái tết vui. Tôi gởi chị chút quà cho các cháu.

Hòa để gói quà trên bàn rồi quay quả ra xe. Nại Hiên nghe lòng mình trống không. Cái trống không của chán nãn và uất hận.

Hòa đạp xe đi. Tiếng chuông leng keng đã ở đầu ngõ. Nại Hiên mới thấy ân hận về chuyện mình đã nói nặng lời với Hòa. Mình giận cá chém thớt quá đáng. Nại Hiên bước đến cầm gói quà và mở ra. Bánh ngọt và cốm Trung Quốc. Của tuy không quý nhưng nàng nghe lòng mình dịu lại. Đây có lẽ là suất lãnh ăn tết của Hòa, Hòa đem biếu hết cho nàng và các con. Dù gì thì cũng là một tấm lòng. Nàng đem những miếng cốm Trung Quốc cho bà Ngọ và các con.

Nàng kêu:

-Anh Thư dẫn em vào đây me biểu.

Ba đứa con nàng đang chơi ngoài sân chạy vào. Đông Nghi liếng thoắng hỏi:

-Sao chú Hòa về sớm vậy me, me làm gì chú Hòa giận vậy?

Nàng nạt con:

-Kệ chú ấy, con đừng hỏi. Vào đây ăn bánh.

Thấy các con vui mừng chia nhau bánh cốm. Nàng nghĩ, mình hận thù họ mà mình nhận quà của họ. Thật là nhục quá chừng. Nàng muốn hất tung gói quà đi nhưng thấy các con đã cầm trên tay đưa lên miệng ăn ngon lành, trông chúng đùa giỡn vui vẻ với nhau nàng không nỡ giật lấy miếng bánh.


* * *



bky_1



Dắt díu ba đứa con trở về lại căn nhà bà Khải, nàng thấy bước chân mình như đi trên con đường nung nóng. Xuống xe lam từ bến xe Tam Kỳ, Nại Hiên thuê xe đạp thồ chở ba đứa con, còn nàng đạp chiếc xe đạp của nàng đem theo về nhà bà nội. Chiếc xe đạp bây giờ như là một vật bất ly thân đối với nàng. Đó là cái chân nối dài của nàng.

Nàng nói với người đạp xe thồ:

-Bác chở dùm ba đứa nhỏ về chợ Quán, bao nhiêu hả bác?

-Mười lăm ngàn đồng.

-Bác chở ba đứa nghe, một đứa bác để trước, hai đứa để ở sau, được không bác?

-Được chứ. Thì phải vậy thôi.

Bác xe thồ cột sau baga một tấm gỗ dài, đặt hai đứa nhỏ lên. Anh Thư và Đông Nghi ngồi ôm nhau. Còn Anh Chi ngồi phía trước. Nại Hiên đạp xe theo trên con đường lởm chởm những hòn đá cuội. Cuộc di tản, bỏ chạy, thất trận, để lại cho nàng một gia tài như thế này đây.

Xe chạy vô nhà bà Khải. Căn nhà cũ, mảnh vườn, sân cỏ, cây dừa, cây dâu đất, cái giếng tắm. Tất cả hiện ra trước mắt như đang nhìn nàng bằng cái nhìn soi mói.

Nại Hiên xuống xe đạp. Ba đứa con được bế xuống đất, tụi nó chạy vô nhà thưa bà nội. Nàng trả tiền cho bác xe thồ rồi bước vào nhà. Bà Khải đang ngồi trên cái chỏng tre.

Bà nói giọng hiền lành:

-Mẹ con nhà Hiên về đó hả. Con Thư, con Nghi, con Chi, đứa nào cũng lớn quá he.

Nàng bảo ba đứa con:

-Mấy đứa vòng tay chào bà nội đi con.

Ba đứa thi nhau chào bà nội rồi chạy ra sân chơi. Còn lại mình nàng trong nhà, nàng nói vơí bà Khải:

-Con bị trường cho nghỉ việc rồi mẹ. Họ nói gia đình mình là ngụy nên không cho con làm việc nữa. Biết làm sao bây giờ. Con ra ở với mẹ một thời gian, nhờ chị Kim chỉ cho con mua bán kiếm ăn nuôi con. Mẹ thấy được không mẹ?

Bà Khải chậm rãi:

-Thời buổi khó khăn quá. Kiếm miếng cơm cũng khó. Nhưng thôi để đó tính sau. Miễn là con chịu cực, chịu khổ thì làm gì cũng được. Kệ, cố gắng nghe con. Con có nghe tin tức gì của thằng Soại không?

-Dạ có. Chị Vân con nhắn về, họ nói đi học tập mười ngaỳ mà mười ngày không thả về mẹ à. Anh Soại đang tập trung ở Long Khánh, ảnh có thư về cho chị Vân con đó mẹ, ảnh nói ảnh vẫn khoẻ.

Nàng nói để cho bà Khải an lòng, chứ thật ra từ ngày về đây nàng cũng chẳng được của Soại một thư nào. Nghe tin chị Vân nhắn về, anh có gởi cho chị một là thư ngắn viết có mấy dòng, báo tin anh đang ở Long Khánh, hỏi thăm Nại Hiên và mấy con. Thế thôi. Thời buổi khó khăn, đường sá ngút ngàn. Nại Hiên thấy l
òng mình bỗng dưng nguội lạnh, cả tình yêu với chồng. Có phải cái khổ của nàng bây giờ là do Soại làm nên không? Có phải ba đứa con đã ghì cuộc đời nàng xuống để nàng ngóc đầu không nổi, có phải cái từ “ngụy” đã đi theo sát nàng là do Soại đem đến không?

Nàng mua cho bà Khải gói thuốc Cẩm Lệ để bà ăn trầu. Bà Khải ngồi nhai trầu bỏm bẻm, bà còn xỉa thuốc nữa, thuốc Cẩm Lệ ngon, bà xỉa vào, hơi thuốc làm bà ngây ngây say. Bà nói với Nại Hiên:

-Chị hai mi cũng hết đi dạy rồi. Nó đi buôn trên Cẩm Khê, Tiên Phước. Buôn hàng xáo đó mà. Lên đó có gì mua nấy đem về chợ Quán bán. Cũng kiếm đủ ăn. Mi không biết có sức đi buôn như rứa không?

Nại Hiên trả lời:

-Con cũng cố thôi chứ không biết làm sao mẹ. Đói thì đầu gối phải bò. Chắc là phải nhờ chị hai dẫn dắt chuyện buôn bán chứ con trước giờ đâu có biết buôn bán là gì?

Bà Khải nói:

-Mi đem cháu về đây ở với tau là tau mừng. Chuyện làm ăn để đó tính sau. Mi tắm rửa rồi đi nấu cơm ăn. Mẹ ra chợ mua chút đồ ăn. Gạo mẹ để trong thạp đó.

Nói rồi bà Khải le te bước ra cổng. Cuộc đời bà, vẫn những bước chân le te đó, đã nuôi hai thằng con trai lớn khôn.

Nại Hiên dọn dẹp trong bếp. Những cái nồi đã cũ đầy lọ. Những cái rế dùng đề soong, nồi đã hư, đã rách, nằm chông chênh ngoài sàn nước. Bà Khải ở một mình, đã già rồi nên không ai dọn dẹp. Nàng sắp xếp lại chỗ để bát, đủa. Sắp xếp lại nồi, niêu, soong, chão cho gọn ghẽ. Bây giờ nàng thực sự gánh vác gia đình này. Một mẹ già và ba đứa con dại.

Nàng chạnh nghĩ đến câu ca dao:

Có chồng phải giữ giang san nhà chồng.



Tr
ần Yên Hòa
(còn tiếp)


Khan cổ gọi tình về. Thơ: Trần Yên Hòa. Nhạc: Nhật Ngân, Bảo Yến hát




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 9316)
Đẹp ngẩn ngơ cái nắng Tam Kỳ. Nhuộm vàng phố nhỏ chút tình si. Rợp bóng con đường hoa bò cạp. Ngày xưa qua đó tuổi xuân thì. Hoa nở lung linh màu nắng mới. Em có về trên phố nắng trưa. Ngày đi mang cả mùa hạ nhớ. Rơi đầy trong gió sắc hương
06 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 9902)
Với tôi, đó là thước đo hay, chỉ dấu rõ nét nhất của một tài năng văn xuôi. Và, với “Sấp Ngửa” (phần truyện ngắn), Trần Yên Hòa xứng đáng được nhìn như thế.
02 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 6808)
Sấp Ngửa, tác phẩm mới nhất của Trần Yên Hòa ra mắt tháng 5 năm nay (2016), sau khi vừa tái bản truyện dài Mẫu Hệ, như là một kết hợp vừa tân truyện vừa vẽ lại chân dung một số bạn văn đa phần người cùng quê anh. Sách dày hơn 350 trang, khổ lớn, trình bày in ấn đẹp, trang nhã, phát hành song hành trên amazo
27 Tháng Năm 201612:00 SA(Xem: 5660)
Vẫn giọng thơ Hoàng Lộc cách đây năm mươi năm, vẫn văn phong, ngôn ngữ ngời ngời, lồng lộng mà chỉ Hoàng Lộc mới có. Đến bây giờ anh đã trên bảy mươi, một chuổi tháng năm dài với thơ không mỏi mệt
26 Tháng Năm 201612:00 SA(Xem: 9366)
Gã nối kết những tay em với danh từ rất kêu, rất nghĩa hiệp. Những điều mà ai cũng cố tìm ở nơi lưu lạc, nơi xứ sở lưu vong này một chữ tình. Phải, đúng vậy chớ, là chúng ta mất hết chỉ còn có nhau