DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,846,778

Mẫu Hệ - Trần Yên Hòa (từ chương 28 - 31)

05 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 14878)
Mẫu Hệ - Trần Yên Hòa (từ chương 28 - 31)

Mẫu Hệ



hht_3

toàn tranh phụ bản là của họa sĩ Hồ Hữu Thủ



Chương Hai Mươi Tám



Buổi chiều thứ bảy trại được nghỉ không đi lao động. Long Khánh đã vào mùa khô. Tết đã đi qua. Mùa hè đã đến. Nóng rang người. Không khí ẩm, khô khốc. Đám cải tạo vẫn chưa được thăm nuôi lần nào dù đã gần một năm tập trung. Trại đã phát hai lần áo quần. Đồ tù là những bộ áo quần bà ba màu xanh đậm hay xám. Đi lao động ngoài hiện trường, cuốc đất, vác củi, đào hố cao su, trồng rau xanh, hay ở nhà, đánh cờ tướng, chơi đô mi nô…đều mặc bộ đồ ấy. Mỗi lần phát một bộ, sáu tháng mới phát một lần, thay ra, mặc vào…

Hồi ở Trảng Lớn, đám cải tạo còn kiếm được bao cát để may quần áo. Ở đây bao cát rất hiếm, may mắn lắm mới tìm được một vài bao. Nên áo quần bao cát cũng giảm đi. Đi lao động về đến lán trại, cái thú duy nhất là cởi trần ra, nằm đánh vật trên nền xi măng mát lạnh, nghe cái khoan khoái lan từ đầu đến chân, ngó lên trần nhà rồi nhắm mắt lại, là thích nhất. Đó là đối với Soại. Đánh trần, chỉ bận cái quần xà lỏn là thời trang đại trà của toàn thể anh em tập trung. Vừa tiết kiệm được quần áo cũng như được thoải mái.

Buổi chiều thứ bảy anh em chia từng tốp để sinh hoạt riêng tư. Tốp này là tự chọn. Sống trong lán, đi lao động với nhau ngoài hiện trường, nếu thấy ai hợp với mình thì kết làm bạn. Như là cùng đơn vị ngày trước, cùng trường học ngày còn học sinh hay cùng trường lính. Tâm đầu ý hợp về cách sống, về suy nghĩ, về ý thích thì kết thành từng tốp để ăn chung. Hai ba người, bốn năm người. Ngồi ăn chung cho vui chứ có gì đâu. Có lúc có chút cải thiện như nồi canh là giang, rau tàu bay, rau dền dại thì cùng chia nhau, chan, húp. Có con ếch, con nhái, con rắn bắt được, nướng hay xào thì chia nhau chút đỉnh cho có chút thịt tươi. Còn phần ăn của trại cấp thì đâu cũng như đâu, ai cũng như ai. Một chén cơm nhỏ, một chút rau và chén nước muối. Thế thôi. Về đây, trước căn nhà có mảnh đất nhỏ, anh em tranh nhau trồng chút rau xanh “cải thiện”.
Soại ăn chung với Mẫn và Thanh, hai chàng sĩ quan hải quân, thuyền trưởng duyên tốc đỉnh. Cùng quê miền trung nên dễ thông cảm. Ăn chung để cho vui, khỏi đơn độc.

Hồi tối trong buổi họp tổ. Anh Lưỡng đưa ra ý kiến:

-Anh em đi lao động về rất đói và mệt. Dạo này cơm ít quá nên ăn không đủ sức lao động, lại phải một số “anh nuôi” chia cơm không đều. Có lúc cơm kết lại, có lúc tơi ra, nên tôi đề nghị anh nuôi chia cơm phải đánh cho thật tơi và tất cả anh em để bát trên nền nhà. Khi anh em chia cơm thì bốc số, gọi tên anh nào thì anh đó đưa bát ra lãnh. Như vậy mới công bằng, không ai ít, ai nhiều.


hht_15




Lời đề nghị của anh Lưỡng tuy có sống sượng nhưng đúng trong thực tế. Cũng có anh nuôi chia cơm thấy bát của bạn mình hay của mình thì xúc nhiều hơn. Anh Lưỡng để ý và đề nghị như thế. Cũng công bình nhưng cũng có chút đau xót trong tình huynh đệ chi binh.
Cho nên buổi chia cơm bây giờ có thêm màn gọi tên.
Mỗi người mang một con số. Người anh nuôi xúc cơm lên thì một người được chỉ định bốc cái thăm có số. Số tám, Trần Quang Soại. Soại nói, có, và chìa cái tô cho người anh nuôi đổ cơm vào. Đồ ăn cũng thế. Bữa cơm bây giờ có them màn bi, hài, nên cũng làm nhiều người cười ra nước mắt.

Buổi chiều thứ bảy là buổi chiều nghỉ làm việc, nên anh em hay “ca cóng”. Ca cóng là từ của quản giáo Điệp, người Thanh Nghệ Tĩnh, ám chỉ sự việc anh em cải tạo nấu nướng linh tinh. Cũng chẳng có món gì để ca cóng nhưng ca cóng cũng là một niềm vui. Anh em làm một cái lò nhỏ để nấu. Lon sữa Guigoz rất tiện dụng ở đây. Dùng để nấu nước sôi, nấu canh, nấu cháo, nấu chè….Anh em ai cũng nấu, nhất là vào thứ bảy hay chủ nhật như hôm nay.

Soại đang luay huay nấu nước sôi. Nấu nước sôi cũng là một niềm vui. Không có gì nấu thì nấu nước sôi, để được uống chén nước còn đang bốc khói như uống nước trà. Cảm giác được uống nước trà cũng là khoái cảm. Bạn bè tụm năm, tụm ba nói chuyện bên chén nước sôi bốc khói. Kể chuyện về miếng ăn: về phở, về bún bò Huế, về mì Quảng, về cơm tấm, về lẩu, đủ cả, để thỏa thuê cái lỗ tai và để nước miếng ứa ra trong kẻ răng. Thèm thuồng. Đó cũng là một khóái lạc.
Như hôm nay, buổi chiều thứ bảy, không biết làm gì cho hết thì giờ, Soại đi nấu nước sôi. Lon Guigoz đặt trên cái bếp lò tự chế, Soại lấy bao nhựa quấn lại rồi đốt lửa, lửa bắt đầu cháy xèo xèo thì bỗng đâu một tiếng nổ ầm vang lên từ khu doanh trại bên kia. Rồi tiếp theo những tiếng nổ khác ầm ầm dội lại. Soại cầm lon Guigoz nước chạy vô phòng thì anh em trong phòng đều ngơ ngác. Ai cũng hỏi, nổ ở đâu đó? Vì sao? Không ai trả lời được. Ai cũng xao xác chạy ra ngoài phòng. Trong lúc đó tiếng nổ một lúc một gần hơn. Anh em cải tạo kẻ chạy ngõ này người chạy ngõ kia, xáo xào như đĩa phải vôi. Soại không còn tâm trí đâu để suy nghĩ. Anh băng mình chạy qua mảnh sân cách giữa đội anh và đội bạn, nơi có gian nhà bếp, có những tấm ghi PSP lót ở phi trường, được đem về làm nơi đặt đồ chia cơm. Đạn nổ tung trên đầu, nổ tràn ngập cả khu doanh trại, đạn bắn lên không trung thành những tia chớp ngòng ngoèo rồi kéo theo những tiếng nổ vang trời, hung bạo. Soại chui vào nằm trên nền sàn xi măng, phía trên là tấm PSP, anh chẳng thấy an toàn chút nào, nhưng anh như con kiến nằm trong vòng lửa, chẳng biết chạy đi đâu. Những người bạn cùng đội cũng đang chạy tứ tung. Ai cũng lấy một cái gì đó che trên đầu như cái ghế gỗ, cái soong nấu bếp, dù biết rằng súng đạn đâu có chừa những thứ đó.
Tiệp, một người bạn chung phòng với Soại chạy loanh quanh rồi cũng tọt xuống nằm dưới sàn nhà gần chỗ Soại. Một số anh em nữa cũng chun vào nằm dưới sàn, dưới những tấm PSP.

Tiệp thấy Soại, liền nói:

-Nổ đâu không biết mà nghe sát sạt bên mình?

Soại trả lời:

-Ai biết được. Cứ núp đó đi.



hht_14



Soại vừa nói xong thì nghe có tiếng rủng rẻng trên mái tôn rồi tiếp theo là một tiếng oàng lớn, nổ trên mái nhà tiếp theo. Khói bụi nghịt trời. Anh không còn tính toán gì nữa, nhưng có một điều như từ tâm thức anh, thúc giục anh phải chạy. Anh bò ra khỏi chỗ trú rồi chạy thục mạng ra ngoài sân, hướng theo các bạn anh đang chạy xuống phía trại dưới. Đạn vẫn nổ trên đầu ì ầm, khói lửa bốc lên từng cột. Những trái đạn phòng không nổ vút lên cao rồi rơi xuống, xoáy rít trong bầu trời như tiếng mảnh kiếng bể. Soại chạy sau mấy người cùng hướng về một chiếc xe thiết giáp bị hư đang nằm ụ đàng kia. Bỗng người bạn chạy trước anh la oái lên rồi qụy xuống. Một người bạn khác chạy lại đỡ người bạn kia. Máu phía sau lưng người bị thương chảy ra thành vòi. Những mảnh áo xé vội để rịt vào cầm máu cũng không làm máu ngưng chảy. Một ống tút của đạn phòng không rơi xuống, đã cắm phập vào lưng người bạn.

Nhiều tiếng la lên:

-Máu ra nhiều quá.

-Lấy tút đạn ra đi.

-Nóng quá.

Một người lấy miếng vải đã thấm đầy máu, đặt trên tút đạn, kéo mạnh tút đạn đang dính chặt trên thân người. Một dòng máu đỏ phụt ra. Miệng người bạn ngáp ngáp rồi lặng đi, mắt không còn động đậy nữa. Một số anh em làm dấu thánh giá và râm râm đọc kinh.

Soại cố chui vào trong gầm xe thiết giáp, dù bên trong đã đầy đặc người. Anh nằm trên đất, cố bò nhích từng chút vào phía trong. Đạn vẫn gầm rú trên bầu trời. Soại nằm im, tưởng đến những lần đụng trận ngày trước. Dù thắng hay thua, trong những lần đụng độ cũ, anh còn có cây sung trên tay, cón có thể nhìn quân địch trước mặt hay sau lưng mà nã đạn. Bây giờ, đám cải tạo như những con kiến nằm trong vòng lửa đỏ, càng lúc lửa càng gần tới.

Cũng đến bảy giờ tối, tiếng nổ mới ngớt. Một số người chui ra khỏi gầm xe. Soại cũng chui ra. Anh lâm râm đọc kinh cứu khổ, cứu nạm Quan Thế Âm Bồ Tát.
Một cảnh tượng kinh hoàng hiển hiện trước mắt. Cây cối bị đạn đốn ngã tả tơi. Những mái tôn bị tốc nóc. Người tìm người, bạn tìm bạn. Tiếng gọi nhau í ới.

Sau khi tổng kết, dãy nhà Soại có năm mươi hai người mà đã có mười hai người bị chết và một người chạy ra hàng rào bị vệ binh bắn gãy chân. Một người chạy trong cơn hoảng loạn rớt xuống giếng chết. Tiệp chạy cùng Soại qua phía nhà bếp cũng chết. Tôn Thất Đường, khóa 24 Võ Bị, chết. Và những người khác nữa…
Mới hôm qua, Tôn Thất Đường đem khoe với bạn bè tấm hình vẽ ghép anh với người vợ mới cưới. Đó có phải là cái điềm báo trước không? Ôi! Những cái chết không lường trước được.

Những ngày sau đó là dọn dẹp khu doanh trại. Những tin đồn được truyền miệng từ anh em: “Phe ta” về đốt kho đạn Long Khánh. Tâm trạng ai cũng xôn xao, lo lắng. Đi dọn dẹp hiện trường cũng là một nỗi lo cho nhiều người. Những quả đạn M79 khi ra khỏi nòng, chưa đủ vòng xoay, chưa nổ kịp, nó sẽ nổ tung khi có ai đụng đến. Đã có tin những người bộ đội bị thương vì đạn M79. Dọn dẹp khu doanh trại bị đạn nổ tơi bời như qua một cơn bão lớn, suốt hai, ba ngày, làm ai cũng rã rời.
Tin nổ kho đạn Long Khánh làm thân nhân những người bị tập trung ở Sài Gòn rung động. Họ chạy đi hỏi thăm tin tức khắp nơi. Tiếp theo là những tin đồn, sắp có đánh lớn, phe ta sẽ giải phóng lại Sài Gòn. Tướng Trưởng, tướng Kỳ, tướng Lân đã về lập chiến khu kháng chiến. Mỹ sẽ nhảy vào lại Việt Nam. Trong lúc những tin đồn làm hoang mang toan trại thì có lệnh: Tất cả tập họp lên hội trường.
Người thủ trưởng trại nói về “sự cố” xảy ra, đó là sự sơ ý của một bộ đội thủ kho đạn, đã để lửa cháy khiến kho đạn phát nổ. Tất cả chỉ có thế, anh em yên tâm học tập.

Thủ trưởng nói:

-Không chuyển trại.

Không có gì mới. Mọi người trở về đội nhưng vẫn trong trạng thái bất an.

Sáng sớm ngày hôm sau.

Quản giáo, vệ binh lũ lượt đến từng nhà.

Quản giáo ra lệnh:

-Tất cả chuẩn bị gọn gàng. Chuyển trại.




hht_12


Chương Hai Mươi Chín




Theo sự chỉ dẫn của chị Kim, Nại Hiên đi mua mấy cái rổ tre, mấy cái thúng. Đó là những vật dụng để nàng đi buôn hang xáo. Chị Kim nói:

-Em đạp xe lên vùng trên, vô mấy xóm quê, hỏi dân trong đó có bán gì không thì mình mua. Đậu phụng, đậu xanh, đậu đen, chè, chuối, mít. Mua rồi bỏ vào rổ, vào thúng, cột chở về chợ Quán, bán lại, hể thấy lời là bán. Nghề dạy nghề, em đi một vài lần sẽ quen đi.
Nại Hiên nghe lời. Nàng ký ca ký cóp, còn một chỉ vàng, nàng đem xuống chợ Tam Kỳ bán, đây là số vốn còn lại duy nhất của nàng.

Thôi dẹp hết những áo dài vàng hoàng hậu, áo dài xanh lam ngọc, áo dài màu “bọt đô” kiểu raglan mới nhất. Thôi bỏ hết những chiếc đầm ngắn, đầm dài, đủ màu, đủ cở mà ngày trước Soại đã mua cho nàng. Thôi bỏ hết những quần jean, quần tây dài, ngắn. Chỉ con lại, bây giờ, là cái quần đen, cái áo đen, chiếc nón lá thô đội trên đầu che nắng, với những cái rổ, cái thúng, được cột phía sau baga xe đạp. Nàng bắt đầu chuyện làm ăn như thế này để kiếm lấy lon gạo, mớ rau, lát cá về nuôi con.
Nàng cất kỷ số tiền bán chỉ vang vào trong bóp, rồi nói với bé Anh Thư:

-Con ở nhà với bà nội nghe, coi em đừng cho em vọc đất, đừng cho em ra giếng, mẹ đi làm chiều mẹ về.

Con Anh Thư chỉ biết gật đầu, dạ. Nó còn nhỏ quá, đâu biết được hoàn cảnh của mẹ nó bây giờ.

Nàng đạp xe ra đường cái. Nắng chang chang trên đầu. Gió thổi ngược chiều làm xe đạp như muốn dừng lại. Nàng phải gò người về phía trước. Nàng mặc thêm bên ngoài một chiếc áo nhà binh màu cứt ngựa dài tay để che nắng. Nắng bắt đầu chói lên lên đầu, xộc vào mặt, vào mũi nàng. Nàng theo sự chỉ dẫn của chị Kim về con đường trước mặt. Cứ thế mà đạp xe, dù những nơi này nàng chưa một lần đặt chân đến.
“Trước lạ, sau quen, em ạ, cố gắng đi”. Nàng nghe lời chị Kim văng vẳng bên tai. Nàng đạp xe qua khỏi chợ Quán, ra khỏi ga xe lửa, qua một cái cầu sắt. Đây là xã Kỳ Bình. Nàng tấp vô mấy nhà trong xóm. Mấy con chó thấy người lạ thì sủa vang lên rồi chạy đến bên xe nàng, vừa sủa, vừa gầm gừ, nhe hàm răng trắng nhởn. Một người đàn bà từ trong nhà bước ra. Nàng vội hỏi, giọng xởi lởi:

-Chào chị, nhà chị có bán gì không? Chè, mít khô hay tiêu?

Nàng nói như là quen kiểu mua bán này quá rồi vậy.

Người đàn bà hỏi lại:

-Cô mua gì?

Nại Hiên lại nhoẻn nụ cười thật tươi.

-Có gì mua nấy, chị có bán gì không?

Người đàn bà cười:

-Ở đây gần chợ Quán Rường lắm, đi một chút là tới. Ai có hàng cũng đem ra chợ Quán Rường bán cho được giá, chứ không bán cho bạn hàng xáo đâu, cô đạp xe lên trên xa nữa kìa.

Nại Hiên chưng hửng. Thế mà nàng tưởng đến đây là quá xa rồi. Hai chân nàng đạp xe, dắt xe qua cầu, qua những bờ kênh đã mõi rụng đôi chân và đôi tay. Nay người đàn bà bảo nàng đi xa nữa. Đi đến đâu, đi đến tận ngọn núi Cà Tý kia phải không? Đến đó, mua đầy hàng rồi chở về nữa. Chao ơi!



hht_11




Nại Hiên kêu thầm trong bụng, nàng gật đầu chào người đàn bà rồi lầm lủi đạp xe đi. Còn bao nhiêu đoạn đường nữa mới đến nơi có hàng thổ sản cho nàng mua. Mồ hôi chảy ra ướt đầm cả vạt áo sau lưng của nàng. Đến xế trưa thì Nại Hiên mới tời khu dân làng ở dưới chân núi Cà Tý. Nàng hỏi một người đàn bà đang đứng trong vườn bên một ngôi nhà tranh thấp, như là đã quen lắm:

-Chị ơi, chị có thổ sản gì bán không? Em mua cho.

Người đàn bà nói:

-Tôi có một ít chè, định đem xuống chợ bán, nay có cô lên mua thì tôi bán cho. Vô đây, vô đây coi hàng.

Người đàn bà vồn vã làm cho Nại Hiên lên tinh thần. Nàng dựng xe bên gốc cây ngoài vườn rồi bước vô nhà. Người đàn bà chống tấm cửa lên rồi nói:

-Cô vào nhà đi, ngồi uống nước nghỉ đi. Tôi vào lấy bao chè ra cho cô coi.

Căn nhà tranh, tối và ẩm thấp. Một căn buồng phía trong dung để chứa đồ. Người đàn bà đem ra cái bao tải đựng chè khô:

-Đây cô coi. Chè nhà tôi hái phơi khô hồi trước Tết. Định để nấu nước uống nhưng nay túng quá, cô mua được tôi bán để mua lúa giống về gieo. Mùa này, ruộng lúa nhà tôi thất bát quá.

Nàng cầm lấy cái bao, bốc chè lên tay coi. Chè tỏa mùi thơn ngan ngát. Đây là loại chè nhỏ, hái bằng nụ chè, phơi sương nhiều lần mới đem phơi nắng. Nàng hỏi nhỏ:

-Chị bán bao nhiêu một ký?

-Nếu tôi đem xuống chợ Quán Rường thì phải hai chục ngàn, nhưng cô đã lên đến đây, tôi lấy mười tám ngàn thôi, để cô về bán lại kiếm chút đỉnh.

Nàng thấy băn khoăn trong dạ, không biết trả giá ra sao, nàng đành nói thật:

-Chị ơi, em mới đi buôn lần đầu, đâu có rành giá cả gì đâu, chị bớt cho em được không? Chị lấy em mười lăm nghìn một ký đi.

Người đàn bà nhìn nàng, như thấy dáng vẻ của nàng không phải là người đi buôn chuyên nghiệp, nên chị ta nói:

-Tôi nói giá thật chứ không nói thách đâu, nhưng mà cô mới ra nghề thì tôi bớt cho cô hai ngàn nữa, mười sáu ngàn đó, cô tin tôi đi, cô mua số chè này về chợ Quán Rường bán lơi chắc mẻm bốn ngàn một ký đó.

Nàng đồng ý mua gần mười lăm ký chè của người đàn bà. Nàng trả tiền rồi bỏ bao chè lên trên cái thúng, đặt lên baga xe đạp, lấy dây ràng cột lại rồi chở đi, sau khi đã uống một gáo nước lạnh từ ảng nước trong nhà người đàn bà. Nàng đạp xe lên trên nữa. Mua thêm một số hàng như cau, trầu, đậu đen, mỗi nơi một hai ký, ba bốn ký. Đến gần ba giờ chiều mới đạp xe về.

Ngày đầu tiên đi buôn “hàng xáo”. Nại Hiên lời trên sáu chục ngàn. Tròn trèm hơn hai ngày đi dạy của nàng. Tuy mệt điếng người nhưng nàng cũng vui. Nàng ghé chợ mua quà cho con và cho bà Khải, dù gì bà cũng ở nhà giữ con cho nàng đi chạy chợ.

Nại Hiên đã trở thành một người buôn hàng xáo thuần thục. Nàng đi lên các xóm nhà sâu trong tận các hẻm núi rừng xã Phước Long. Ở đây họ để dành thổ sản đổi lấy hàng hóa dưới chợ, như vải vóc, áo quần, muối, cá khô, nước mắm, xì dầu. Sau khi hành nghề được khoảng hai tuần, nàng trở thành người trao đổi hàng hóa hơn là đi buôn. Buổi sang nàng chở trên xe một “cần xé” hàng. Buổi chiều nàng chở về một “cần xé” thổ sản. Nàng đem về chợ là có mối mua ngay. Ngày nào nàng cũng kiếm được tiền lời, nhưng thân xác nàng thì hao gầy đi thấy rõ. Chiếc xe đạp kẽo kẹt. Quần ống thấp ống cao. Nón lá đội che đầu, mặt trùm kín mít với cái khăn buộc quanh miệng. Nàng đã trở thành người đàn bà đi buôn thật sự.

Bà hàng xáo.


hht_8


Chương Ba Mươi


Soại sau khi nghe kêu tên mình, anh nói lớn, có mặt, rồi xách đồ bước ra khỏi hàng. Đi theo mấy người bạn được kêu tên trước, bước vào một căn nhà loại nhà tiền chế của Mỹ ở căn cứ Long Giao. Thế là chưa đầy một năm mà anh đã ba lần chuyển trại. Mỗi lần đi là mỗi lần khám đồ đạc.
Đồ đạc của anh chẳng có gì. Áo quần toàn lãnh trong trại, mền mùng cũng vậy. Khám là để tìm loại cấm như dao, búa, hay kèm, cưa, đục, chẳng hạn. Anh làm gì có những thứ đó. Những thằng khố rách như anh, chẳng có gì phải bận tâm.

Soại bước theo những người bạn đi trước. Vào trong lán đã thấy một số anh em khác cũng đang khệ nệ bưng, xách đồ đạc của mình đi tìm chỗ nằm. Anh đến một chỗ còn trống trong dãy nhà dài. Lần này cả đội được chia ở chung một căn nhà dài. Anh đặt xách đồ của mình bên cạnh một anh mặt mày lạ hoắc. Soại hỏi:

-Anh từ đâu về đây vậy?

Người bạn mới nhìn anh rồi trả lời:

-Tụi tôi từ Phú Quốc về, đi bằng tàu, rồi được chỡ bằng xe tới đây.

Soại ngạc nhiên hỏi lại:

-Phú Quốc? Chắc anh trình diện đâu miệt miền Tây?

-Không, tôi trình diện ở Sài Gòn, bị đưa ra Phú Quốc cả năm nay. Nay nghe nói bên Miên sắp đánh qua nên họ sợ, họ cho tụi tôi về.

-Thế mà tôi không biết, các anh ở Phú Quốc có đông không?

-Khoảng ba, bốn ngàn người.

Soại thật ngây thơ. Sĩ quan và viên chức chế độ cũ quá nhiều. Khi buông súng, ai cũng muốn đi học tập cho xong, coi như đi trả nợ đời. Cho nên ai cũng tranh nhau đi trình diện, có người còn sợ đi trình diện không kịp ngày giờ sẽ bị không cho đi học, nên họ thức dậy từ rất sớm. Đến bây giờ thì ngã ngữa ra, ai cũng đã vào trong một cái rọ. Cái rọ không có giây cột, mà không ai thoát được. Bây giờ họ vẫn còn tin là sẽ được học tập, học tập tốt sẽ được tha về. Tập trung như thế này một vài năm là dài quá rồi.

Soại vừa sửa soạn chỗ nằm, vừa nhìn người bạn mới. Anh bạn người bắc, nói năng nhẹ nhàng, trông rất hiền từ. Soại gợi chuyện:

-Anh tên gì vậy, hồi trước làm việc ở đâu vậy?

-Tôi tên Thuấn, ngành Chiến Tranh chính Trị, làm việc ở quận mười một, thuộc đô thành Sài Gòn.

Soại nghe lòng vui vui. Một người bạn cùng ngành với anh, anh sởi lởi nói:

-Tôi cũng là dân Chiến Tranh Chính Trị đây, tôi học Đà Lạt ra, nhưng không được làm Chiến Tranh Chính Trị như anh, tôi đi bộ binh và là dân tác chiến, tôi tên Soại.

Hai người bước đầu đã có sự tâm đắc. Thuấn ít nói, biết nhún nhường, lanh lợi nhưng không bon chen. Soại thấy thích người bạn mới này.
Hai người nằm kề nhau. Soại nghĩ đến Niệm, người bạn cùng nằm gần anh một thời gian ở Trảng Lớn. Bây giờ Niệm ở đâu? Cũng quanh quất đâu đây hay đã đổi ra trung, ra bắc. Anh em cải tạo như những áng mây, hợp đó rồi tan đó.



hht_7


Thuấn nói:

-Mới đầu lên tàu ra Phú Quốc tụi tôi cũng ớn lắm, cứ tưởng mình sẽ bị đem ra bỏ biển. Nhưng ra đến nơi sống tương đối thoải mái. Đi lao động về được ra tắm biển. Phú quốc là một hòn đảo nên quản giáo, cán bộ ít lo chuyện anh em trốn trại.

Soại kể cho Thuấn nghe về vụ nổ ở Long Khánh. Không biết tin tức đâu mà cũng bay lọt đến tai đám Phú Quốc này.

Thuấn nói:

-Tôi nghe nói có vụ nổ, nhưng không rõ chi tiết lắm. Ở Phú Quốc những ngày gần đây, tụi Miên đe doạ đánh qua nên mới chuyển trại đó chớ.
Có Thuấn, Soại cũng thấy bớt đi nỗi cô đơn. Thuấn kể cho Soại nghe về Thuấn, gần ba mươi tuổi rồi mà Thuấn vẫn còn độc than. Khi khăn gói đi trình diện học tập, Thuấn có một cô bé học trò láng giềng vẫy tay đưa tiễn. Hai gia đình có quen biết nhau nên anh định sau khi học tập mười ngày xong, anh trở về sẽ cưới cô bé làm vợ. Cô bé tên Hậu, cái tên nghe đủ dễ thương. Không biết sau gần một năm anh bị nhốt không hẹn ngày về, không tin tức liên lạc gì, cô Hậu có còn giữ lòng với Thuấn không đây?

Trong căn lán mới của Soại còn có thêm hai anh em nhà văn Thứ Lang. Hai anh em cùng nằm sát nhau. Cả hai cùng là sĩ quan quân pháp. Lúc mới lớn Soại đã mê tờ Văn Học do Thứ Lang làm chủ bút và những vở kịch cùng những truyện ngắn, truyện dài của anh. Bây giờ sống với nhau, tiếp xúc với nhau bằng xương, bằng thịt hằng ngày, bằng cuộc sống trong trại cải tạo cam khổ này, tình cảm của anh đối với hai bậc đàn anh văn nghệ này vẫn như xưa. Hình như mỗi nhà văn đều ẩn chứa trong lòng Soại một tình cảm nhẹ nhàng, quý mến.

Sinh hoạt trong trại mới rồi đâu cũng vào đó. Cũng bổn cũ soạn lại khắp mọi nơi mọi chốn: Khai lý lịch, lao động ngoài hiện trường, tối về họp kiểm điểm, lên lớp học tập chính trị. Đã qua hai trại rồi, Soại thấy lòng mình cũng chai lỳ đi. Anh không còn cái hy vọng trở về sớm. Không còn hy vọng gì nữa ngoài cuộc sống như một động vật: ăn, ngủ, ỉa, lao động. Chỉ trừ “cái món kia” là không có.

“Cái món kia” cũng là một khổ nạn. Những ngày lính tráng đi hành quân trên núi rừng hai ba tháng, ngày trở về thành phố dưỡng quân là anh trở về nhà với Nại Hiên. Bây giờ đã một năm xa vô, bị “treo niêu” nên thời gian đầu lúc nào anh cũng thấy náo nức lắm. Nhưng rồi, dần dần, cuộc sống trong tù với khoai mì, bo bo, bắp, gạo hẩm, chỉ ăn với nước muối nên sinh lực dần dần cạn kiệt. Lao động ngoài hiện trường, một ngày phơi thân dưới nắng, đã vắt cạn đi hết cái mầm sống trong anh. Hình ảnh, bóng sắc của đàn bà chỉ còn trong suy nghĩ, trong tưởng tượng, trong những giấc mơ chập chờn tỉnh thức.



hht_6 


Chương Ba Mươi Mốt


Đang đứng bán hàng ở chợ Quán, Nại Hiên thấy như có một cặp mắt nào đó nhìn xốc vào mặt nàng. Nàng ngẩng lên. Thì ra là Hòa. Anh đã đứng ở phía ngoài từ lâu, nhìn nàng như thử cố nhận ra có phải đó là Nại Hiên không. Nại Hiên thấy mình hơi lúng túng, bối rối với ánh mắt đó, và cả với Hòa nữa. Nàng không muốn ai nhìn thấy nàng đang là người buôn hàng xáo. Không thấy nàng bận cặp đồ vải thô xám, đi đôi dép lào lài xài, đứng nói giá, miệng lưỡi lúc nào cũng khen lấy khen để những món hàng của mình. Nàng nhìn ra, Hòa đi gần lại nàng một chút, rồi nói:

-Chị Hiên, tôi có vào trong nhà chị ở chợ Trạm thăm chị, bà nói chị về đây, sẳn dịp tôi đi công tác đến đây, tôi ghé thăm chị và mấy cháu một chút. Vào nhà chị trong xóm mới biết chị bán ở đây…

Hòa chưa nói hết câu, Nại Hiên đã cắt ngay:

-Anh đợi tôi chút nhé. Anh vào quán nước ngoài kia đợi tôi.

Nói xong, nàng cười giả lã với mấy người bạn hàng rồi tiếp tục nói giá.
Chị Bích nói:

-Cô Nại Hiên mới về đây mà đã có bồ rồi he.

Chị Cẩm tiếp lời:

-Trông mặt anh ta cũng còn trẻ quá chớ.

Nại Hiên thấy cần phải đính chính:

-Đâu có mấy chị, anh này đi cùng chuyến xe với tôi ở Sài Gòn về đó. Lúc đó, nhờ anh bồng mấy đứa con, chứ tôi một mình lo đâu nổi ba đứa. Về đây, thỉnh thoảng ảnh tới thăm mấy cháu. Chứ có bồ, kép gì đâu.

Nói vậy nhưng lòng nàng cũng có những rung động nhẹ. Nhớ lần trước mình đã cự với Hòa về chuyện mình bị nghỉ dạy, đã nói cho Hòa biết mình căm thù những người bận đồ bộ đội như anh. Nàng có một chút ân hận khi Hòa đi về rồi. Có quá đáng chăng? Hòa chỉ là một con ốc trong một cổ máy lớn. Mà đã đứng trong cổ máy thì phải theo sự vận hành của nó, chứ không thì phải bị nghiền nát. Bên này hay bên kia, cũng chỉ là những con ốc, con vít mà thôi.

Lần này Hòa đến làm nàng ngạc nhiên và có một chút xao động. Hòa không giận, không tự ái. Bộ quần áo bộ đội làm nàng hơi khó chịu ban đầu bây giờ nàng cũng cảm thấy quen mắt. Cái gì cũng là một thói quen, kể cả thị hiếu hay sở thích của mình.

Bán xong mấy món hàng, Nại Hiên vào trong nhà người bạn hàng xin nước rửa mặt. Xong nàng đi ra chỗ quán nước. Hòa vẫn ngồi đó với một ly cà phê. Thấy nàng vào, Hòa đứng lên chào:

-Mời chị ngồi, chị uống gì?

Đang khát khô cổ, nàng kêu một ly nước đá chanh. Kể từ lúc về đây, đi buôn hàng xáo, nàng chưa bao giờ đặt chân đến một quán xá nào, dù vào đó để uống một ly trà đá. Nàng trở nên tiện tặn vì đồng tiền làm ra cực khổ quá. Nàng muốn tất cả để lo cho gia đình, lo cho con, nàng không giám tiêu hoang.

Nại Hiên ngồi xuống ghế, nhìn Hòa hỏi:

-Anh đến tìm tôi có chuyện gì không?

Hòa không trả lời câu hỏi của nàng, mà hỏi lại:

-Chị buôn bán có khá không?

-Cũng tàm tạm qua ngày, có vất vã hơn nhiều so với đi dạy học, nhưng tôi chịu được. Cái gì riết rồi cũng quen.

Nàng nhìn Hòa kỷ hơn. Hòa không bận đồ bộ đội nữa, có lẽ từ khi biết nàng không thích màu áo đó. Hôm nay Hòa chiếc quần tây màu xanh đậm, cái áo thun vàng nhạt, có cổ màu xanh da trời, đi dép sabô, trông Hòa trẻ ra. Nàng nhìn thấy ở Hòa, mỗi lần tìm đến thăm nàng là mỗi thay đổi về cách ăn mặc. Nàng nhìn xuống thân thể mình, vẫn cặp đồ đen xám với loại vải rẻ tiền, đôi dép hai quai nàng mang đã mòn hơn phân nửa. Có thể nói nàng đã già đi, già trước tuổi nhiều. Mới mấy tháng lăn lộn với cuộc mua bán, bao lần đạp xe lên các xã xa mua hàng về, dưới cái nắng gay gắt của miền nhiệt đới, dù nàng đã đội nón, đã có khăn che mặt, nhưng cái nắng, cái nóng đã len lỏi vào từng thớ thịt nàng, làm rám khô đi những mảng da mềm mại tươi mát. Bây giờ nhiều lúc một mình trong phòng tắm, nàng xối những gáo nước trên thân thể mình, nàng thấy mình như khô cằn đi nhiều với số tuổi của nàng, hai mươi sáu tuổi. Một người mẹ của ba đứa con thơ dại. Nàng nhìn Hòa rồi nhìn bộ đồ mình mặc trên người, tự dưng nàng thấy một nỗi xót xa vô cùng tận.
Hòa nhìn nàng rồi do dự, ngập ngừng nói:

-Tôi thấy chị vất vã quá tôi chịu không nổi, tôi muốn chia xẽ cùng chị. Tôi độc thân nên cũng chẳng có nhu cầu gì lớn, tôi thương mấy cháu. Tôi mới lãnh lương, tôi biếu chị và mấy cháu một ít. Chị đừng ngại, tôi thật tình, chị đem về lo cho mấy cháu.

Nại Hiên bị bất ngờ quá. Đã đành đây là lòng tốt của Hòa nhưng ngoài cái tình thương kia, còn chất dấu bên trong chuyện gì nữa không? Nàng hất gói tiền, được cột lại bắng cộng cao su, về phía Hòa. Nàng nói hơi nghẹn ở cổ:

-Tôi cám ơn anh, nhưng anh đem về đi, tôi và mấy đứa nhỏ không cần đâu, tôi còn có thể làm việc để nuôi nổi chúng nó. Tôi cảm ơn anh nhưng lúc này tôi thấy chưa cần.

Câu nói của Nại Hiên có vẻ hơi thẳng thừng làm cho Hòa hơi sượng. Thật ra, người đàn bà ba con này là một ám ảnh đối với Hòa. Anh đã nghe thầm trong mình nổi rạo rực của một tình yêu đơn phương, đã chớm nở trong trái tim thanh niên, chưa có hình bóng nào ngự trị. Anh có lầm không? Có bị mê hoặc không? Vì đây là người đàn bà vợ một sĩ quan ngụy, là người đã có nhiều liên hệ với chế độ cũ, điều mà trong cương vị anh không được phép quen biết, thân thiết, chuyện trò, chứ nói chi đến chuyện tình yêu. Nhưng anh không cưỡng được trái tim anh, anh nhớ nàng và lúc nào trong tiềm thức anh cũng dậy lên hình bóng đó. Đi thăm mấy đứa nhỏ con Nại Hiên, có phải chăng đó là ngụy trang để anh tìm đến thăm nàng. Như hôm nay, sau bao ngày tìm hỏi, biết nàng đã về đây, Hòa đã tìm đến và nghĩ rằng, sự chia sớt gánh nặng với nàng là một bổn phận, nên Hòa đã hành động. Anh chia đôi tháng lương của anh cho Nại Hiên, anh buộc vào một gói và bây giờ, gói tiền bị trả lại.

Hòa hơi bị choáng vì thái độ của Nại Hiên, anh đã không tế nhị với người đàn bà này. Có phải tấm lòng chân thật của anh phơi bày ra quá lộ liễu? Nhưng dù sao đó cũng là tấm lòng chân thật.

Hòa đẩy gói tiền một lần nữa về phía Nại Hiên, rồi nói:

-Chị đừng ngại gì hết, đây là tấm lòng tôi rất quý chị và thương mấy cháu.

Nại Hiên lần này quyết liệt hơn, nàng trả lời:

-Anh muốn tôi ngồi lại nói chuyện với anh thì anh cầm lại gói tiền của anh đi, không thì tôi đứng dậy đi ngay bây giờ.

Thái độ và lời nói của Nại Hiên quá dứt khoát làm cho Hòa chùn bước, anh cầm lại gói tiền và bỏ vào túi, anh lí nhí xin lỗi:

-Xin lỗi chị, có lẽ tôi hơi đường đột…nhưng thật ra, đó là cái lòng của tôi.

Nại Hiên cười mím môi như bằng lòng, nàng nói:

-Nói cho anh mừng là bây giờ tôi làm việc có hơi cực nhọc nhưng tôi cũng nuôi đủ ba đứa con. Cách sống nào rồi mình cũng quen đi. Nhưng được đi dạy, được đứng trên bục giảng vẫn là điều mơi ước của tôi, lúc nào tôi cũng muốn được đi dạy lại. Hòa hơi nhíu mày, anh suy nghĩ, đắn đo một chút, nhưng cuối cùng anh cũng nói ra điều anh nghĩ:

-Chị Nại Hiên nè, có điều này tôi muốn nói với chị, dù chị không bằng lòng, cũng đừng giận tôi, đây cũng là điều thành thật tôi muốn chia xẻ cùng chị…

Nại Hiên cũng muốn nghe điều Hòa muốn nói gì:

-Anh cứ nói đi, tôi không buồn đâu.


hht_5



Hòa nói thật chậm, anh cố lựa lời để khỏi chạm đến lòng tự ái cũng như tự trọng của Nại Hiên.

-Tôi đã qua gần mười năm theo cách mạng, tôi đã biết chính sách của cách mạng đối với tù hàng binh như thế nào. Hồi ở ngoài bắc, khi hòa bình lập lại năm 1954, những người làm việc cho Pháp hay tề, ngụy, bị bắt đi tập trung cải tạo đến trên những mười năm mới về, có người còn đến hai mươi năm. Cho nên theo tôi nghĩ, anh Soại chắc là còn lâu mới về được, mà chế độ mới là chế độ rất coi trọng vấn đề lý lịch, con cái mà có cha mẹ là thành phần ngụy thì khó có bề làm gì được. Đi học. Đi làm. Đều dựa trên lý lịch cá nhân, lý lịch ba đời ông bà cha mẹ. Anh Soại đi cải tạo, thì các con sẽ không đi học được, càng học lên cao càng khó, cho nên tôi có ý kiến với chị là chị nên làm giấy ly dị với anh Soại đi, hay là làm giấy khai tử cho ảnh đi. Như vậy thì các con chị mới có thể tiến thân được. Đây là đề nghị tốt của tôi, tôi không có ý gì khác đâu. Ý chị thế nào?

Ý kiến của Hòa thật bất ngờ. Dù đã từ lâu, Nại Hiên cũng thấy được sự việc xấu sẽ đến dài dài hay suốt đời với mẹ con nàng. Nhưng nàng không nghĩ đến cái ngõ cụt đang chặn ngang trước mặt ba mẹ con sớm thế. Nàng cam phận sống để nuôi con, để lo cho con ăn học. Bây giờ thì ước nguyện đó có một khối băng sơn chắn ngang. Nhưng nàng chưa bao giờ nghĩ có lúc mình phải li dị chồng hay khai tử chồng. Câu nói của Hòa như một gáo nước lạnh dội vào mặt Nại Hiên làm nàng lặng người đi. Nại Hiên cảm thấy mình như nghe lầm hay nghe không rõ. Nàng hỏi lại:

-Anh Hòa, anh nói chi?

Nàng đã hiểu điều Hòa nói, nhưng nàng muốn hỏi lại đó có phải là một sự thật không? Hòa nói vẫn nhỏ nhẹ:

-Những điều tôi nói với chị là thật, không có một tính toán nào khác. Tôi thương chị, thương mấy cháu, nên nói với chị một sự thật đó thôi. Còn quyết định là do chị. Nếu chị muốn thực hiện những việc đó, tôi sẽ giúp vì tôi có quen biết nhiều.

-Anh giúp đở tôi được gì?


hht_3



-Gì tôi cũng giúp, với Nại Hiên, tôi vẫn mong và cầu chúc cho Nại Hiên được sung sướng, được trở lại với trường lớp. Môi trường đó mới thích hợp với Nại Hiên hơn. Nàng hơi cảm động, dù gì nàng vẫn là một người đàn bà. Dù gì trong hoàn cảnh này nàng cũng cần một người đàn ông để nâng nàng đứng dậy, nàng đuối sức quá rồi, mệt mõi quá rồi.

Hai người uống nước lặng lẽ, không khí như đọng lại. Có một người đàn bà đi vào quán.
Đó là chị hai Kim, chị đi tìm Nại Hiên vì có bạn hàng gọi. Chị thấy Nại Hiên đang ngồi với một người đàn ông, chị nghiêm mặt lại.
Chị Kim không chào Hòa mà chỉ nói với Nại Hiên:

-Mấy người bạn hàng kêu em qua, tính lại tiền hàng.

Nại Hiên thấy cần giới thiệu Hòa với chị Kim mấy câu, cho chị khỏi nghi ngờ. Nàng chỉ Hòa rồi nói:

-Đây là anh Hòa, bộ đội, bà con với em trong quê, nhân dịp công tác ngoài này nên đến thăm em.

Nại Hiên nói dối cho qua chuyện. Hòa biết điều đó. Hòa đứng lên nói:

-Thôi tôi về, khi nào rảnh tôi ghé thăm chị và mấy cháu.

Hòa cúi đầu chào chị Kim rồi bước ra khỏi quán, lên xe đạp, đạp đi. Trời bỗng nhiên có cơn gió lớn.



*


hht_2



Nàng tự dưng thấy Soại thật xa. Như anh đã xa nàng từ lâu lắm rồi vậy. Nhớ lần trở về quê của nàng, hai người ân ái với nhau lần cuối, không để lại dấu vết gì nhiều. Nàng luôn luôn suy nghĩ đến công việc của mình, trước mắt là ba đứa con, choán hết chỗ trong đời sống nàng. Rồi công việc dạy học, nàng luôn đối phó với những cái nhìn xa lạ, những xoi mói xoáy sâu vào điểm yếu của nàng, làm nàng lúc nào cũng phải thủ thế để đối phó. Nàng thấy mình như đang đứng trước một bờ vực sâu thẳm mà phía sau có người lúc nào cũng chực chờ xô nàng ngã xuống. Nàng còn nhớ đến Soại không? Chỉ hàng đêm, nằm ôm con ngủ, cái lạnh lẽo của mùa đông miền trung làm nàng nhớ đến vòng tay của Soại ngày cũ, nàng cũng có những háo hức của một người đàn ba mới hăm sáu tuổi. Nhưng nàng đã bậm môi nuốt nước bọt, cho qua đi những cơn thôi thúc dục tình. Dần dà cái thôi thúc đó cũng loãng đi. Có lúc nàng nghĩ Soại như một hình bóng xa mờ, khuất lấp, tít tắp. Có lúc anh đến thật gần, như bên cạnh nàng. Bây giờ thì đã mấy năm, còn bao nhiêu năm nữa anh mới được trở về. Cái xuân sắc của nàng cũng sẽ tàn phai. Những điều Hòa nói vừa qua như một quả bom nổ chậm, vang dội trong vùng sâu thẳm của ký ức. Trong tiềm thức nàng vọng lên tiếng kêu: Cuộc sống. Cuộc sống. Nàng sẽ mãi mãi là người đàn bà đi buôn hàng xáo, như chị ba Trà, chị Sử, chị Cần ở đây sao? Không ai đi học, không ai đỗ đạt gì. Còn nàng, bốn năm đại học sư phạm mà nay phải xếp bỏ đi sao? Cái tiềm thức như vực dậy, cổ vũ sự sống, bon chen vào đời sống. Sao mình lại cam phận với cuộc sống này cả mấy tháng nay? Rồi tương lai những đứa con sẽ ra sao?

“Em không coi anh là ngụy, nhưng em tạm thời dứt bỏ những quan hệ ràng buộc giữa anh với em. Mà anh biết không? Có thể là năm năm, mười năm sau anh mới trở về, sự ràng buộc bây giờ có nghĩa gì đâu. Lúc anh về, em sẽ tiếp tục làm vợ anh ở một nơi chốn nào đó, không phải ở đây, một nơi chốn không có ai dòm ngó. Bây giờ em phải quyết định cho các con được ăn học, cho các con có tương lai. Đó cũng là nguồn sống của anh mà.”

Gió nổi lên và cơn mưa đổ xuống dữ dội. Mưa dông. Nại Hiên trở về nhà với đôi gánh trên vai. Vai nàng đã trầy và u lên thành cục. Những lời nói của Hòa vẫn âm vọng trong đầu óc nàng trên suốt chặn đường đi về.

“Em vứt bỏ anh một cục u sần trên vai em hiện có, đã làm đau em bây giờ. Mai này khi vết thưong lành lặn. Em sẽ là của anh. Anh tha thứ cho em, anh yêu dấu.” Cơn mưa làm nàng ướt nhẹp.




hht_4



Trần Yên Hòa

(còn tiếp)



NGÀY XƯA HOÀNG THỊ
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn