DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,846,821

Dương Thu Hương

06 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 33122)
Dương Thu Hương

Dương Thu Hương 

 



dth_1

nhà văn Dương Thu Hương




Vài hàng về tác giả

Sinh năm 1947, bà bị khai trừ khỏi Đảng và Hội Nhà Văn năm 1990. Người ta khiển trách thái độ chống đối và cuộc đấu tranh cho dân chủ của bà. Dịch giả của bà nói: “Trong xã hội trọng Khổng Giáo, chỗ đứng của người đàn bà không có. Trong chiến tranh, người ta cần họ, thật là đau lòng, nhưng sau chiến tranh, người ta thích họ quay về với cái bếp.” Trong chiến tranh, năm 20 tuổi bà đã ra chiến trường và điều khiển một đoàn văn công

Bà đang ở Paris nhân dịp ra mắt quyển sách - Chốn Vắng - Terre des oublis. Bà tươi cười, vui vẻ. Và bỗng chốc, bà bừng lửa.: (thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.

Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói.

Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ..., nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.

Talawas




***


Đọc


Chốn vắng

Talawas


Hơn một thập niên sau, tại hải ngoại mới thấy xuất hiện một cuốn truyện dài mới của Dương Thu Hương, là Chốn vắng, đăng nhiều kỳ trên tạp chí Hợp Lưu xuất bản tại California trong những năm đầu của thiên niên kỷ thứ 3. Sự vắng mặt lâu của Dương Thu Hương về văn học không làm ai ngạc nhiên vì biết bà bị một thứ quản chế mà G. Orwell trong tác phẩm nổi danh 1984 gọi là "bốc hơi", nghĩa là Đảng CSVN vẫn để cho bà sống ở Hà Nội, nhưng không được viết, hiện diện, nhắc nhở... trên mặt báo chí, sinh hoạt văn học... tại Việt Nam nữa. Những nhận định tuyên ngôn này nọ đòi tự do tư tưởng, sáng tác và nhân quyền tối thiểu, chỉ ra được nước ngoài theo cách thế thường được gọi là "chui". Dĩ nhiên kể cả cuốn tiểu thuyết mới nhất của bà: Chốn vắng.
Thời gian đã trôi qua hơn mười năm kể từ cuốn Tiểu thuyết vô đề, đã làm Dương Thu Hương chín chắn hơn, biết tiết chế ngòi bút, nghĩa là nói tóm tắt: bà viết hay hơn, vững hơn hồi còn trẻ. Thời gian của truyện: Sau khi cuộc nội chiến 60-75 chấm dứt. Về phương diện xã hội, miền Bắc gần như cũ, nhưng đã bắt đầu nhẹ thở và dễ sống hơn, dù công cuộc Đổi Mới mới chỉ bắt đầu ở miền Nam. Không gian: Lần này không ở trong núi rừng Trường Sơn như Tiểu thuyết vô đề, mà ở một thị xã nửa tỉnh nửa quê miền Bắc, gần biển nhưng không xa núi.
Nhân vật chính: Vẫn bộ ba cổ điển, như trong huyền thoại Táo quân hai ông và một bà, hay như trong nhiều tiểu thuyết và phim ảnh Pháp hiện đại. Người nữ chính: Miên, dĩ nhiên là đẹp và sexy. Người nam thứ nhất: Bôn, bạn từ nhỏ và 17 tuổi lấy Miên làm vợ, trước khi lên đường vào miền Nam "chống Mỹ cứu nước". Sau hơn mười năm Bôn mất tích kể như chết, Miên chính thức đi lấy chồng khác, là Hoan, tuy cùng lứa tuổi nhưng được miễn đi lính vì có gan bàn chân bẹt. Hoan mánh mung giỏi nên mang lại cho Miên một đời sống tương đối đầy đủ. Hai người đã sinh con thì chiến tranh chấm dứt và Bôn sống sót trở về, và như một lời ca của Phạm Duy, "anh trở về dang dở đời em". Bôn không què quặt nhưng mất sức toàn diện, nghèo (lính chiến giải ngũ xứ nào chẳng nghèo), thêm bệnh thối mồm vì thực quản bị hở. Chính quyền địa phương và dư luận ép Miên phải trở về với ông chồng cũ, một anh hùng bộ đội. Không lẽ để kẻ đi chiến đấu nơi chiến trường xa, trở về lại mất vợ vào tay một người không một ngày lính. Vậy là thảm kịch bắt đầu. Trong một bầu khí hiếm khi có trong văn chương miền Bắc, là bầu khí dục tình. Như khung cảnh mà Hoan, chồng số 2, đã sống qua:


Mùi biển đêm không chỉ còn là mùi nước mùi gió mùi rong rêu sóng táp vô bờ mùi lũ cá nóc trương phềnh trên cát mùi gỗ thuyền hớp nắng đang nhả dần vì nắng khét đổi chỗ mùi vỏ chanh đám người ăn sò huyết ném lại... mà còn là thứ mùi khác lạ hoà trộn với tất cả những mùi quen thuộc trên khiến không khí đặc thành thứ keo vô hình, và khi hít thở thứ không khí ấy, con người bị nhiễm cơn đói dục tình, ấy là mùi toát ra từ những cặp tình nhân đang quần thảo trong các kho chứa lưới, trên các cồn cát vàng và trong bóng tối rừng dương. Sóng vỗ không mỏi mệt không ngừng nghỉ như kẻ gác đêm trung thành để tiếng ầm ào ồn ĩ khoả lấp tiếng thì thầm tiếng kêu rên của cặp trai gái nhưng mùi biển không lấn át được mùi các cặp ái ân và vì thế không gian ướt đẫm nhục cảm đầu độc những kẻ đói khát ái tình không may lọt chân vào đó...


Đoạn văn trên gợi nhớ tới một đoạn văn của Lê Thị Thấm Vân tả không khí Sài Gòn khi bà trở lại thăm thành phố này (Xứ nắng). Hai phụ nữ thật khác nhau lại giống nhau ở cái mũi tinh tường: Lê Thị Thấm Vân ngửi thấy mùi tinh khí mùi cửa mình trong không khí Sài Gòn, còn Dương Thu Hương ngửi thấy mùi ân ái của các đôi trẻ đang làm tình ven biển. Các nhà văn lớp trước không hề ngửi thấy các mùi tương tự, không biết tại các cụ mũi không thính bằng lớp hậu sinh, hay tại những lý do gì khác...
Hoan, người chồng thứ hai của Miên, ngoại trừ khuyết điểm là bàn chân bẹt, là một người khá đẹp trai, cao lớn vạm vỡ. Chàng Bôn, người chồng cũ trở về, mới chỉ thấy quần đùi đang phơi của Hoan, đã thấy mọi sự như sau:


Bôn đứng lặng, trân trân nhìn chiếc quần đùi của tình địch như con bệnh tâm thần rồi khoảng khắc sau, không nén được lòng, anh giơ tay kéo nó xuống... Bôn thọc hai tay vào hai ống quần, giang rộng ra xem kích tấc người mặt. Anh biết hai bắp đùi người đàn ông này rất lớn. Bộ mông anh ta ít nhất cũng to gấp ba lần bộ mông teo tóp của anh. Và cùng với cặp mông và bộ đùi ấy anh hình dung đến bộ phận truyền thống của đối thủ... Anh chửi rủa mình. Nhưng não óc anh lại hiện về khung cảnh các phiên chợ xưa, khi anh còn bé tẻo teo. Trong các phiên chợ ấy, người ta mua trâu bò, heo giống, chó mèo giống... Khách thò tay nắn bóp hạ bộ con vật, xem hai hột tinh hoàn của nó cân hay lệch, mềm hay rắn, nây tròn hay méo lép... Rồi họ xoạc gang tay đo chiều dài dương vật... Bôn đau đớn nghĩ rằng chính anh vừa so đo, nắn bóp kiểm soát mình như khách mua kiểm soát một con vật làm giống... (tr. 230 Hợp Lưu số 59)


Vì là người to khoẻ như thế, Hoan đã có những kinh nghiệm dục tình phong phú hơn Bôn nhiều. Có lần một cô gái nhà giàu lỡ không chồng mà chửa, đã khéo léo dụ Hoang ngủ với mình để lấy làm chồng. Nhưng kinh nghiệm dục tình đáng nhớ nhất là lúc còn trẻ, thời kỳ sống trong một cái chòi tre lá đơn sơ, gần một xóm chài nghèo qui tụ những đàn bà goá chồng có con. Một phụ nữ nghèo, lam lũ kiếm sống nuôi con, mê và thèm muốn Hoan, đã lợi dụng một đêm tối trời leo lên chòi lá:


Rồi đột ngột chị úp mặt vào ngực anh, bàn tay thô thám của chị rờ rẫm trên da thịt anh: "Có nháp không?... Tôi có làm anh đau không?"... Rồi như cảm thấy những lời lẽ vụng về thô mộc đó không biểu hiện được sự hàm ơn chị cúi xuống hôn ngực Hoan. Bắt đầu từ lúc đó anh chàng còn biết đến gì ngoài những cảm giác xác thực và mạnh mẽ chị khêu dậy nơi thân xác anh. Cặp môi dạn dĩ đói khác của chị đưa anh vào cõi khoái lạc chưa từng nếm trải. Anh cảm nhận một cách minh bạch rằng anh hoàn toàn tỉnh táo, sáng suốt, không giọt men trong dạ dày, không một ý nghĩ hoặc liên tưởng nào làm hưng phấn dục tình trước khi người đàn bà xóm Hà đến, vậy mà chị dẫn anh leo trên từng nấc thang một, từng nấc liên tục không ngưng nghỉ trên cầu thang bất định đưa con người tới tột cùng sung sướng... "Hãy yên. Hãy lặng yên... Để mặc tôi...mặc tôi..." Chị thì thầm vào một lúc khác, họ chuyển tư thế. Tay chị nhẹ nhàng và kiên nhẫn, khi cởi từng chiếc khuy trên chiếc quần sọc anh mặc, khi đỡ tấm lưng anh vì anh ở vào vị thế chông chênh, cử chỉ nào cũng nương nhẹ, cẩn trọng... như trong cuộc làm tình này chính chị mới là đàn ông thứ thiệt, kẻ hùng mạnh rèn tập, dẫn dắt... bạn tình." (tr. 232-233 Hợp Lưu số 65, 2002)


Dĩ nhiên người đàn bà ra về trước rạng đông làm Hoan không nhìn thấy mặt mũi ra sao. Người đàn bà goá thô kệch còn trở lại vài đêm nữa trước khi biệt tích, và sau đó Hoan có tới xóm Hà nghèo khó, nhưng không tìm ra tông tích "người tình không chân dung". Mười năm sau chàng lại có dịp trở lại vùng này, lúc đó đã trưởng thành và giàu có, lại vào xóm Hà tìm kiếm người xưa. Khi kiếm ra nhà, nhìn thấy phía sau người bạn tình đam mê nhiều đêm năm xưa, này vì vất vả khó nhọc, đã biến thành một bà già tóc tiêu muối đang ngồi băm bèo cho heo. Hoan bỏ chạy không tìm nhìn mặt người xưa nữa, nhưng không quên để lại cho đứa con một món tiền lớn, dặn trao cho bà mẹ. Như vậy Hoan là một người có tình nghĩa và nhiều kinh nghiệm dục tình, trước khi lấy Miên làm vợ. Và sau này khi Miên bị chính quyền địa phương và dư luận ép phải trở về với chồng cũ, là Bôn, người chiến sĩ anh hùng trở về ốm o và nghèo khổ, Hoan vẫn cấp dưỡng cho Miên đầy đủ. Khi được phục viên, Bôn đã biết mình bị bệnh hở thực quản nên thối mồm không ai chịu nổi và bác sĩ cho biết phải vài năm mới chữa nổi. Còn về tính dục, chắc là bình thường vì trong những năm rừng núi Trường Sơn,"... những đêm dài mong nhớ, quằn quại trên võng vì cơn đói dục tình, quằn quại trong hang sâu vì cơn sốt rét... mà nhìn mấy cô giao liên đi qua con giống vẫn dựng ngược lên như mãnh hổ chực vồ mồi..." (Hợp Lưu số 63 tr. 223, 02).
Bởi thế Bôn vẫn hân hoan đón Miên trở về với mình, trong căn nhà đơn sơ tồi tàn thiếu tiện nghi do làng xóm dựng hộ. Anh tự tin hoàn toàn, sung sướng khi được nằm cùng giường với Miên, sau biết bao năm tháng ước mơ trong rừng núi và chiến tranh khốc liệt. Và đúng như người xưa đã nhận xét, "tân thú bất như viễn qui" (mới lấy nhau không bằng đi xa trở về):


... anh cúi xuống cởi những chiếc khuy trên tấm áo màu xanh dương của chị. Miên không để tâm tới điều gì. Chị nằm như pho tượng, hoặc bằng thạch cao hoặc bằng cao su, kiều diễm như tạc bởi bàn tay nghệ nhân tài tình bậc nhất, lạnh lùng như khí núi mùa đông. Cặp mắt chị nhìn vào một điểm nào đó trên mái nhà. Anh cúi xuống hôn bụng vợ quanh cái rốn nhỏ mà anh nhớ có một cái mụn ruồi đỏ bằng hạt vừng ở chếch bên trái... Chiếc quần lụa của Miên mỏng tanh, mặt lụa mát lạnh, Bôn vo tròn chiếc quần lại vừa trong chét tay, và bằng cử chỉ ấy anh có cảm tưởng thâu tóm được người anh yêu một cách dễ dàng. Sau khi đã bóp chặt chiếc quần đó vài ba lần một cách khoan khoái anh ném nó sang một bên và đặt tay lên chiếc quần lót trắng... Trắng như bông và mềm hơn cả lông mèo. Sao mỗi thứ ở nơi Miên đều đẹp như thế?
Cơn thúc hối làm Bôn mờ mắt. Anh chỉ còn thấy tấm thân trắng nhễ nhại của Miên... Rồi anh chìm sâu vào chị.


Mặc dù Miên thụ động, lạnh nhạt vì không còn yêu thương Bôn như những ngày còn trẻ nữa, nhưng Bôn bảo làm gì, chị làm điều đó. Trục trặc, là do phía Bôn, phía người đàn ông. Thông thường khi đàn ông xa đàn bà lâu ngày, hoặc bị kích thích quá độ, như chú rể đêm động phòng, thường xẩy ra hiện tượng xuất tinh sớm. Hoặc mới nằm cạnh người nữ, đã xuất tinh trong quần rồi, như một nhân vật của nhà văn Lâm Chương đã bị, sau mười năm đi cải tạo trên rừng núi, hay như một thiếu niên sung sức trong phim khôi hài nặng dục tình American Pie của Mỹ khá ăn khách gần đây. Hoặc là bị, như một lời nói đùa của nam nhi miền Nam trước 1975, là "khóc ngoài quan ải", nghĩa là cái đó của đàn ông vừa mới diện kiến cái đó của đàn bà, tinh đã xuất rồi. Nhưng ở đây sự trục trặc xẩy tới cho Bôn lại phức tạp hơn, như sau:


Trong khoảng ngắt của hai hơi thở, lời rên rỉ buột khỏi môi anh: thuyền anh nô dỡn trên con sóng dục tình, thấy lại tuổi trẻ của anh... Nhưng bỗng nhiên một luồng khí bị dồn nén chạy dọc sống lưng, xuyên suốt thân xác anh như một mũi tên, khoái lạc và mộng mơ cùng lúc vọt ra rồi tắt ngấm. Con thuyền đắm say rơi từ đỉnh sóng xuồng bờ cát, nằm vật vờ như mảnh ván mục... Rồi bỗng dưng bộ phận truyền giống của anh đi vắng, nó chẳng còn là của anh, mà như một thứ đồ vật ngoài thân thể, ngoài ý muốn và sự điều khiển của anh. Nỗi sợ hãi hùng hổ thẹn cùng lúc làm sống lưng anh lạnh toát trong khi hai thái dương và đầu anh nóng phừng phừng như lửa đốt... Anh lặng lẽ tụt xuống chân Miên, không dám nhìn vào mắt chị... vơ chiếc quần đùi mặt vội để che đi cái phần héo rũ trên cơ thể.


Trường hợp xẩy đến cho Bôn, tục thường gọi là "chưa lên xe đã tuột xích", chưa xuất tinh mà dương vật đã mềm xèo, rủ xuống như lá héo. Nếu Bôn sống tới thập niên này và ở những nước không XHCN, thì tình trạng "có vấn đề" như thế, có thể giải quyết bằng cách xin bác sĩ gần nhất một toa Viagra, Cialis hay Levitra. Đằng này Bôn sống ở miền Bắc Việt Nam sau chiến tranh...Bôn buồn cho mình và xấu hổ với Miên, nằm thiếp ngủ tới gần sáng, khi tiếng gà gáy cất lên, thời gian cái giống đàn ông bình thường thường cương lên vì buồn tiểu, lại len lén "luồn tay xuống dưới háng như một thằng ăn cắp. Chẳng còn gì nữa để hồ nghi. Nó đã rũ xuống như tàu cải héo, một nhúm da vặt vẹo giữa hai bẹn. Anh biết ngay bây giờ, giá như Miên thay đổi thái độ, bỗng nhiên vuốt ve hôn hít anh bỗng nhiên tự cởi bỏ quần áo và chủ động bế thốc anh lên bụng chị... Giá như thế, anh cũng không thể nào đánh thức được cái nhúm da không gân cốt kia.. Anh muốn khóc, nhưng cố nghiến hai hàm răng. Khóc thì hèn quá. Anh đâu phải là đồ hèn?... Nhưng đây không phải trận mạc. Đây là cái giường đôi."
Cả khu vực có Miên, là một phụ nữ đẹp, Hoan, một người giàu có tháo vát to khoẻ, có Bôn, một chiến sĩ anh hùng trở về từ chiến trường xa xôi, ai ai cũng theo dõi mối tình Táo quân, nên sự kiện Bôn đã bất lực truyền đi rất nhanh. Ai có chút kinh nghiệm y khoa, kinh nghiệm sống, đều làm cố vấn không công cho Bôn, một phần vì lòng tốt tự nhiên của con người, một phần có lẽ vì hối hận đã ở trong số đông ép Miên trở về với chồng cũ. Dĩ nhiên Bôn đang lâm thế tuyệt vọng, ai khuyên gì cũng nghe: "Đã bao ngày trời anh kiên trì uống thứ thuốc ông già Phiêu tốt bụng kê đơn: Dâm dương hoắc - Nữ trinh tử - Tật lê tử... Anh theo chân loại dê lên núi cắt lá dâm dương hoắc. Già Đột cho anh rượu mạnh nấu bằng gạo nếp nương nhà. Mọi người cưu mang anh như cứu mạng một kẻ tật nguyền." Và cũng dĩ nhiên cũng vì bận bịu tìm thuốc uống thuốc, khóc lóc một mình, Bôn không đi kiếm việc làm. Hoàn toàn sống nhờ Miên, và nàng cũng đâu có tiền, phải về lấy của ông chồng số 2 là Hoan. Và Hoan là người tốt: "người tình không chân dung" của mười năm trước, Hoan còn trở lại tặng một khoản tiền. Nữa là Miên, người yêu, người vợ anh yêu mến, mẹ đứa con duy nhất của anh. Vậy Miên cần bao nhiêu, anh cũng đưa, dư biết cả nhà bên Bôn ăn bám vào Miên. Sự kiện đó lại càng làm Bôn, người hùng chiến địa, thêm tủi hổ. Nhưng tủi hổ thì tủi hổ, phải xin tiền Miên mua thuốc thôi. Và Miên là người vợ hiền chân chính, vẫn chi ra đều đều... Và bao dung ông chồng số 1, kể cả khi ông nghe lang băm, xin bắt huyết dê mới chọc tiết, pha rượu rồi ngâm dương vật vào. Bị bỏng muốn nhảy nhổm lên, lđúng lúc Miên về, làm đổ bát huyết lênh láng khắp phòng...
Thời gian cứ qua đồng đều cho tất cả, ban ngày Bôn bận bịu lo thuốc men phục hồi con chim của mình, đại khái như sau:"... Ông dạy cho anh cách uống rượu dê với những món ăn thích hợp, cách nấu lẩu tinh hoàn dê với hạt củ sen củ súng, cách hấp tinh hoàn dê với hành tỏi ướp ngũ vị hương và rượu mạnh, cách ăn gan dê nướng vào lúc người đang tháo mồ hôi và cách uống sữa dê vào buổi sáng..." Rồi cứ đêm xuống, anh lại tìm mọi cách khác nhau làm tình với vợ, nhưng "chị không đủ sức chịu đựng những nụ hôn đắm đuối và hôi hám của anh, đã đẩy anh ra nhoài người khỏi giường nôn thốc nôn tháo. Từ đó Bôn không còn dám hôn chị. Anh chỉ dám úp mặt xuống phần dưới cơ thể chị trút vào đó tất cả mối tình cuồng nhiệt và khổ sở của anh. Cùng một lúc, chị xót thương và kinh tởm..."
Mọi sự rồi sẽ ra sao, người viết bài này không biết vì truyện dài Chốn vắng tạp chí Hợp Lưu ngưng đăng tiếp, vì lý do kỹ thuật. Chúng ta cùng đợi thôi, đợi xem tác giả Dương Thu Hương giải quyết ra sao truyện vợ chồng Táo quân thời hậu chiến... Biết bản chất nồng nhiệt của tác giả, nếu dùng chữ của tạp chí Việt ở nam bán cầu trái đất, biết cái "tạng" đấu tranh cao độ của Dương Thu Hương, chúng ta chỉ có thể dự đoán hồi kết cục sẽ không êm đềm như nước ao hồ tù đọng cả ngàn năm Hà Nội, mà sẽ như sông Hồng mùa nước lũ. [2]


© 2007 talawas


 [1]Trước đó nhà thơ Quang Dũng đã bị phê bình là "đồi truỵ" khi tả đôi má đỏ hồng của cô hàng, và nhà thơ Nguyễn Đình Thi bị kết án tiểu tư sản, có con mắt thứ ba khi làm hai câu thơ nổi tiếng: "Người ra đi đầu không ngoảnh lại, Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy".

[2]Theo người viết Việt Nguyên, đã được đọc hết bản dịch tiếng Anh Chốn vắng, truyện này có kết là một thảm kịch, có máu lửa điên khùng..., đúng văn phong nhà văn Dương Thu Hương. Nàng Miên sau cùng trở về sống sung sướng với chồng sau Hoan, sau khi bị chồng cũ bắn cụt mất hai ngón tay. Anh chồng cũ người hùng chống Mỹ cứu nước ngày nào sau cùng phát điên. Kết như thế, nhà văn Dương Thu Hương vốn đã bị Đảng CSVN ghét từ trước, nay bị ghét thêm.


Tôi là Phật Tử theo cách riêng của tôi


Dương Thu Hương


Sau khi trả lời ông Đinh Ngọc Ninh bỗng nhiên tôI nhận được một loạt thư, hỏi:


- Bà có phải phật tử không? Chúng tôi thấy nhiều quan điểm trong bài viết của bà rất gần với lý thuyết đạo Phật.

- Nếu điều chúng tôi nghi ngờ là đúng, tại sao một người đấu tranh cho dân chủ lại có thể là phật tử?.....

Câu trả lời của tôi là: Tại sao không?
Đạo Phật không biên giới. Đó là một tôn giáo thẫm đẫm tính đạo đức và triết lý. Đạo Phật cũng như bất cứ tôn giáo nào khác đều tồn tại và phát triển thông qua hằng hà sa số các cá nhân. Bất cứ cá nhân nào cũng có một gốc rễ văn hóa, cũng mang một nhãn hiệu bản thể gọi là quốc tịch. Do đó khi trong một con người cùng tồn tại song song hai tình yêu lớn: tôn giáo và tổ quốc, người đó ắt phải tranh đấu cho hai kỳ vọng, hai niềm tin.

Vì thế, câu trả lời của tôi là: Tại sao không?
Tuy nhiên, tôi chỉ là phật tử theo cách của riêng tôi. Tôi không đi lễ chùa. Chẳng phải là cố tình tìm một cách tồn tại độc đáo nhưng vì tôi không có khả năng thỏa hiệp, cho dù đó là một sự thỏa hiệp dễ chịu nhất.

Cách đây chừng mười bảy mười tám năm một ngày Xuân tôi đi viếng cảnh chùa. Ngôi chùa đó nằm gần phủ Tây Hồ. Trên đường tới phủ rẽ tay phải chừng non trăm mét là tới. Tôi không còn nhớ rõ tên chùa mặc dù đó là nơi trước khi xảy ra sự việc năm nào tôi cũng tới, khoảng một hai tháng một lần, siêng năng nhất là mùa xuân và mùa Thu. Đó là ngôi chùa cổ còn may mắn sót lại sau những cơn đốt phá đình chùa đền miếu theo chủ trương "tiêu diệt tàn dư phong kiến" của chính quyền cộng sản. Không có gì đặc biệt ở ngôi chùa ấy, ngoài một mảnh vườn nhỏ vừa trồng đào vừa trông mai. Có lẽ cảnh tượng thân ái của những cây đào và cây mai chen vai, thích cánh cuốn hút tôi vào mùa xuân và khi mùa thu đến, đám cành trần trụi khẳng khiu vươn lên trong lặng lẽ cũng mang lại một vẻ đẹp u sầu và nghiêm cẩn, vẻ đep ta thường gặp ở mọi ngôi chùa cổ xứ Bắc.

Trưa hôm đó, tôi qua cổng chùa đi vào ngôi nhà ngang. Vừa đặt chân lên bậc tam cấp tôi chứng kiến một cảnh tượng không tương hợp chút nào với chốn từ bi: Trên tấm phản gỗ mốc, sư cụ bà ốm nằm còng queo, bát cháo ăn dở ở một góc phản khô đét lại. Nhà "sư nữ" ngoại tam tuần mắt long sòng sọc, tay nắm cổ người bệnh lắc, miệng rít lên:
- Mày chết đi, mày chết ngay đi cho người ta nhờ!....
Sư cụ đã quá yếu không động cựa nổi, cái đầu lắc lư ngật ngưỡng như quả bưởi trong tay người đàn bà trẻ hung hãn:


- Mày chết đi...


Tôi định lui ra nhưng cô ta đã nhìn thấy tôi. Quá muộn cho cả đôi bên. Hẳn cô ta không ngờ có kẻ đột nhập vào "ngang hông" bởi thông thường khách thập phương phải qua sân đi vào chùa chính. Cô ta không biết rằng tôi quen mọi ngõ ngách và thường đi tắt qua nhà ngang vào chùa sau để hầu chuyện sư cụ. Không thể mở miệng "mô phật" như lần trước cô ta ném cho tôi một cái nhìn giận dữ và thách thức rồi ngoay ngoảy quay đi. Tôi ngồi xuống phản với sư cụ. Cụ không mở mắt nổi và giọng nói đã đứt quãng nhưng hoàn toàn minh mẫn. Đó là người đã xuống tóc từ thời chính quyền 1945 chưa thiết lập, đã duy trì và tu tạo ngôi chùa này qua mọi thăng trầm của thời gian. Nhưng cụ không có mảy may quyền hành để lưu giữ các chân tu ở lại, thay cụ chủ trì. "Nhân sự" do "bên trên" đưa xuống.


Vậy cái gì là "bên trên"?


Quyền lực nào áp chế những người tu hành và thả lũ lợn bẩn thỉu vào khắp chùa chiền xứ sở? .... Chẳng có gì bí mật cả, "bên trên" là A 25 Cục bảo vệ văn hóa thuộc Tổng cục 1 Bộ Nội vụ. A 25 có nhiệm vụ đào tạo sư sãi để "yểm" Hội Phật giáo Việt Nam, để trấn giữ hệ thống chùa toàn quốc. Không ai quên rằng chính nhà nước cộng sản đã dấy lên cơn bão kinh hoàng nhằm tàn phá đình chùa, đền miếu thậm chí đào mồ hốt mả chúng sinh, tiêu diệt tất cả những gì mà họ cho là"tàn tích của chế độ phong kiến". Trong một thời gian dài, những người cộng sản muốn xóa sạch tất cả các tôn giáo, bắt chúng sinh thờ vị thần duy nhất mắt xanh mũi lõ tên là Karl Marx và đám tông đồ của ông ta. Nhưng để xóa đi một đức tin và thay thế vào một đức tin khác không dễ dàng như họ tưởng. Và không phải bất cứ lúc nào họng súng cũng đem lại những kết quả mong muốn. Thời gian không ủng hộ họ. Bức tường Berlin sụp đổ và Lénine vĩ đại của họ sụp đổ theo. Dân Nga xích cổ tượng ông ta kéo lê trên bùn. Đám tín đồ phương Đông đứng chơ vơ không biết từ nay "người cầm lái vĩ đại" của họ sẽ là ai? ... Trong lúc đó dân chúng ào ào dựng đình, cất chùa. Khắp nơi miếu mạo, đền chùa, lăng tẩm dựng lên theo trí nhớ. Chính quyền cộng sản có thể truy bức tàn sát chúng sinh, cướp bóc phá hủy tài sản của họ, nhưng trí nhớ và niềm tin là những thứ không thể bắn thủng bằng các loại đạn. Và như thế, giờ đây dân chúng đã xây lại tất cả những gì đã từng bị họ tàn phá, nếu không nói là còn nhiều hơn. Nhu cầu tâm linh hóa ra cũng là một nhu cầu sinh tử của kiếp người.


Trước tình hình này A 25 trở nên quan trọng hơn trong vai trò "bảo vệ nền chuyên chính". Nhiệm vụ của họ là "khống chế hội phật giáo" biến chùa chiền toàn quốc thành hệ thống pháo đài của quyền lực, rình mò theo dõi tư tưởng dân chúng và ....điều này nữa, các tín đồ của Marx không quên: tận thu nguồn lợi béo bở từ đám chúng sinh "mê tín" kia. Vậy là đội quân "sư nhà nước" được hình thành. Nguồn đào tạo chính là C 500 (đại học ngành an ninh). Thêm nữa, sinh viên tuyển lựa từ các đại học khác như Tổng hợp, Sư phạm, Ngoại ngữ .... có thành phần cơ bản (lý lịch đáng tin cậy) được vũ trang bằng lý thuyết giai cấp của Marx-Lénine và một thứ chủ nghĩa duy vật hạ đẳng. Sau đó, lớp người này được "tráng men" bằng lý thuyết đạo Phật và trước hết các phương pháp niệm kinh, hành lễ để "vào nghề".


Như thế nhà nước cộng sản đã tạo nên một đội ngũ "tôi tớ trung thành" được quyền thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và nhục thể dựa trên sự đầu cơ trục lợi"những khát vọng tâm linh" của dân chúng. Các ông sư bà sư áo quần phấp phới cưỡi xe vù vù đi "họp kín". Họp kín ở đây tức là họp "giao ban" ngành dọc A 25. Họ báo cáo rành mạch mọi thành tích. Riêng những cọc tiền thu được từ các hòm công đức là "không thể rành mạch" vì các sư còn phải mang về quê xây nhà tầng và lo cho các con học đại học trong nước và ngoài nước. Sư hành nghề ở Thái Nguyên, Hà Bắc thường có quê quán gia thất tại Thanh Hóa, Nam Định và ngược lại .... So với các nghề khác trong Bộ Nội vụ, "nghề làm sư" là béo bở, chỉ thua kém "Cục buôn lậu ma túy" thôi.


Cả một bộ máy lừa bịp vận hành nghiễm nhiên và ngang nhiên dưới ánh mặt trời, trước mắt dân chúng.


Dân chúng, tuy thường xuyên phải cúi mặt nhẫn nhục cam chịu, đôi khi cũng vùng lên tranh đấu, đòi đuổi sư nhà nước, giành chùa cho chân tu. Vụ biểu tình của các tín đồ chùa Láng Hà Nội cách đây ba năm là một ví dụ. Trong tối hôm đó, công an đã bắt giam trên một trăm tín đồ.


Vậy tôi xin trở lại lý do khiến tôi không đi lên chùa từ gần hai thập kỷ nay, sau kỷ niệm đau buồn với sư cụ tôi không còn muốn nhìn thấy một lần nữa bọn "thầy chùa đểu".


Nhưng chưa hết.


Tôi không đi lễ chùa cũng còn vì chùa chiền giờ đây đầy rẫy bọn "đao phủ" đi "đánh quả" thần, phật. Gọi là "đao phủ" vì chính lũ người đó trước đây đã ra lệnh phá đình chùa, đuổi sư sãi, vặt cổ vặt tay tượng phật làm củi.... giờ đây chúng lại xì xụp hương khói hơn tất thẩy mọi người.


Vì sao có sự đổi hướng quay chiều? ...


Tôi sẽ trả lời tường tận nhưng trước hết, để tránh rơi vào lối ám chỉ chung chung tôi xin nêu dẫn chứng:


- Một là, những người dân Huế cỡ trung niên hẳn chưa quên câu ca này:


Bùi San cùng với Trần Hoàn
Hai thằng ngu ấy phá đàn Nam Giao


Bùi San: bí thư tỉnh ủy. Trần Hoàn: trưởng ty văn hóa. Công trình chung của họ là hủy diệt một di tích lịch sử nơi xưa kia các vua Nguyễn tế Trời Đất và tiên vương. Sau này, ông Trần Hoàn ra làm bộ trưởng Bộ Văn hóa, vợ con ông ta xem bói từ Nam ra Bắc, khấn lễ mọi nơi, đặc biệt lễ hậu là Bia Bà để cầu cho ông được"vững vàng". Riêng tôi, tôi nhìn thấy ông nhiều lần cắp cặp đứng trước cổng nhà các vị"Bộ Chính trị". Quả là một cuộc hiệp đồng tác chiến; vợ con ông đi đút lót "thần, phật" còn ông đi hầu hạ các "thánh sống" để ông được duy trì thêm 4 năm trên ghế bộ trưởng vì ông đã già lại quá nhiều khiếu kiện, cấp trên của ông đã chấm ông "vào sổ hưu".


- Hai là, thời kỳ Lê Khả Phiêu làm tổng bí thư Đảng, ngoài chiến dịch "Thanh Hóa hóa bộ máy cầm quyền" ông ta đã tranh thủ đào bới ngân khố quốc gia để xây dựng lại, mở mang hoành tráng đền thờ Lê Lai, tin tưởng đó là tổ tiên trực tiếp, là thần hộ mạng cho mình.

- Ba là, vài năm gần đây nhiều người họ Trần vênh vang tuyên bố rằng họ Trần sắp sửa bước vào thời kỳ "đại phát" vì Trần Đức Lương vừa cho xây khu mộ cổ họ Trần tại Thái Bình. Khu mộ này sẽ được xây theo thế "rồng phục" sao cho ít nhất, chín đời họ Trần sẽ liên tục "làm vua" ...v v.. và ...v v..

Theo logic, ngày nào chế độ độc tài này còn tồn tại thì tất thảy bọn cầm quyền họ Miêu họ Thử họ Ngưu họ Mã .... sẽ lần lượt vét ngân khố quốc gia để xây dựng mồ mả đền miếu cho riêng dòng tộc của chúng với một chủ đích hoặc ngụy trang hoặc lộ liễu: Duy trì quyền lực.

Quyền lợi, đó là căn nguyên sự quay chiều đổi hướng của kẻ cầm quyền. Marx và Lénine hết sài được thì quay sang "đầu tư, đánh quả" thần, phật. Hạng người ti tiện, lòng tham ngùn ngụt như vậy làm gì có "tâm hồn tôn giáo"?..., nhất là một tôn giáo có quá nhiều yêu cầu đạo đức, cấu trúc trên tinh thần khắc kỷ như đạo Phật? ... Không phải vô cớ mà so với đạo Hồi và Thiên Chúa giáo, đạo Phật có ít tín đồ hơn. Con đường dốc khó trèo. Con đường dốc ấy làm sao tương hợp được với bọn cởi áo đao phủ khoác áo cà sa điềm nhiên như diễn viên thay trang phục sân khấu, không một chút ngượng ngùng, không mảy may hối tâm, không một lần thành khẩn trước tha nhân? 
Lẽ ra, chính quyền Việt Nam phải xin lỗi dân chúng một cách công khai, một cách thanh thật, một cách nghiêm khắc vì tội ác phá đền chùa lăng miếu, đào bới san ủi mồ mả tiền nhân của chúng sinh. Nếu họ cải tâm họ đã phải làm điều đó trước khi đặt chân lên thềm những đền chùa mà dân chúng gom góp xây dựng lại.

Nhưng cái ngã mạn của kẻ cầm quyền khiến lương tâm họ mù tối. Họ không cần xin lỗi ai bởi vì họ tự nhận là "Đảng thần thánh và vĩ đại". Và vì "thần thánh và vĩ đại" họ đã thản nhiên làm cái việc mà cổ nhân từng cảnh báo:


"Thế gian có mặt mũi nào
Đã nhổ lại liếm làm sao cho đành"


Tôi chuyển sang mục thứ hai: Tôi là phật tử theo kiểu của riêng tôi. Không đi lễ chùa đã đành, tôi cũng không tin tuyệt đối vào lòng từ bi. Đối với tôi, lòng từ bi không thể độc hành. Lòng từ bi phải bước song song với một trí tuệ sáng suốt và khả năng chiến đấu chống lại điều ác.

Khi lòng từ bi không được rọi chiếu dưới ánh sáng trí tuệ, nó dễ dàng đưa ta đến tai họa. Chỉ cần nhớ lại tích "Đường Tam Tạng đi lấy kinh" là đủ. Đã bao nhiêu lần vị sư phụ này mắc lừa bọn yêu quái, niệm chú để xiết chặt vòng kim cô làm Tôn Ngộ Không đau đớn vật vã điên cuồng. Và cũng chớ nên quên rằng bao nhiêu lần ông ta mắc lừa, bấy nhiêu lần Tôn Hành Giả đi giải cứu.


Khi thiếu khả năng chiến đấu chống lại cái ác, lòng từ bi của chúng ta biến thành chất dầu nhờn, bôi trơn cỗ máy nghiền của loài ngạ quỷ và chính cỗ máy này sẽ nghiền nát chúng sinh. Một dân tộc hiền hòa như dân tộc Tây Tạng đã mất nước vì thiếu khả năng chiến đấu. Quân lính Trung Quốc không chỉ xâm chiếm, tàn phá đất nước Tây Tạng mà còn đổ than hồng vào đầu vào họng các nhà sư và tra tấn họ bằng tất cả những hình thức tra tấn thời Trung cổ.

Thêm một ví dụ nữa: Ai cũng biết ở Khơ-me đạo Phật là quốc giáo. Vậy mà chính tại xứ sở này nạn diệt chủng đã xảy ra. Hơn hai triệu người bị giết dưới chính quyền Khơ-me đỏ. Thê thảm thay, rất nhiều cuộc tán sát man rợ lại xảy ra chính tại các chùa. Nơi thờ cúng linh thiêng biến thành địa ngục và giờ đây, thành một thứ bảo tàng lưu giữ đầu lâu của các nạn nhân.

Với nghiệm sinh, tôi xin góp một dẫn dụ nhỏ. Năm 1991, trong gần tám tháng tù, tôi nhớ nhất câu này:

- Chị sẽ được ra tương ớt! Chị sẽ được nghiền ra tương ớt!

Không phải vì câu nói được lặp đi lặp lại mà vì thái độ của những người nói. Họ có một vẻ hài lòng đáng sợ, một sự điềm nhiên đáng sợ. Tôi không thù ghét họ: một đại tá, một đại úy, một trung úy. Có lẽ về bản chất họ không phải người ác người xấu. Nhưng họ đã được đào tạo để làm cái việc "nghiền người khác ra tương ớt".Vì thế, đối với họ, việc nghiền ai đó ra tương ớt là phận sự, là phương tiện sinh tồn, giống như người thợ phay bào một con ốc thép hoặc người đầu bếp xào món rau.

- Chị sẽ được nghiền ra tương ớt!

Mỗi lần nghe câu nói đó, tôi đọc thấy trên gương mặt họ niềm hạnh phúc thanh thản của "Gã nông phu vừa cày xong thửa ruộng, Ngả mình trên nếp cỏ ngủ ngon lành".
Đương nhiên, họ chuẩn bị mọi sự để cho tôi ra "tương ớt". Nhưng không may cho họ, một tuần sau cuộc đảo chính ở Nga thất bại, thành trì của chủ nghĩa xã hội sụp đổ tan tành, cả ê-kíp ba người hỏi cung tôi tái xanh tái xám, mặt họ hiện lên nỗi hoang mang thê thảm, không còn chút tự tin.

Họ phải dừng tay, không dám cho tôi ra "tương ớt".... Và rồi, với 95 triệu franc viện trợ không hoàn lại của chính phủ đảng Xã hội Pháp, nhà nước cộng sản đã thả tôi ra....

Hơn một thập kỷ trôi qua, tôi vẫn không quên hình ảnh "tương ớt". Vì cỗ máy nghiền con người ra tương ớt vẫn tồn tại. Và nó tiếp tục nghiền những người khác. Cả một đội ngũ "thợ nghiền" tiếp tục nuôi sống bản thân cũng như vợ con họ bằng nghề nghiệp này. Liệu các vị có thể dùng lòng từ bi hỉ xả như vũ khí tối hậu và duy nhất để làm thay đổi cỗ máy nghiền này chăng? ...

?....?....

Tôi không tin.

Vì thời gian hữu hạn, khả năng con người cũng hữu hạn.

Vì sự tập nhiễm là bản năng thứ hai có sức mạnh ghê gớm mà chỉ riêng lòng tốt không đủ để đổi thay.

Vì lẽ đó, cuộc đấu tranh của Phật Tử cũng như của giáo dân không thể chỉ tựa trên sức mạnh của lòng từ ái. Cuộc đấu tranh nào cũng phải có chiến lược và chiến thuật, tùy cơ ứng biến. Và dù đứng dưới bóng Phật hay bóng Chúa, con người cũng cần có một bộ óc phán đoán phân tích sắc bén cộng với một khả năng đủ cho việc chống lại cái ác, bên cạnh lòng hỉ xả từ bi,

Tôi là phật tử theo kiểu của riêng tôi vì tôi không bao giờ chủ trương đạo Phật trở thành "quốc giáo", tôi đấu tranh cho một nền dân chủ đích thực mà nền dân chủ đích thực chỉ cho phép tồn tại một nhà nước thế tục trong đó tất thảy các tôn giáo đều được bảo vệ một cách bình đẳng nhưng trước hết mọi tín đồ đều có nghĩa vụ làm công dân xứng đáng.

Với tôi, chỉ có một nền dân chủ đích thực cho phép thay đổi thường xuyên các chính phủ thối nát, lạm nhũng mới cho phép các tôn giáo tồn tại đúng với tư cách tôn giáo, đền chùa và nhà thờ mới tồn tại như những chốn thiêng liêng nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của cõi người mà không bị biến thành đồn bốt bảo vệ cho quyền lực nơi đám cường hào trá hình ức hiếp người tu hành và bóc lột chúng sinh.

Bây giờ, là một câu hỏi có tính riêng tư:

- Cơ duyên nào đưa bà đến cửa thiền?

Tôi xin trả lời:

- Sự đưa dẫn của số phận.

Đúng như vậy. Tất cả những ngả rẽ lớn trên đường đời, tôi không trù tính. Tất cả, đều xảy ra như những ngẫu nhiên. Nói một cách bóng bẩy hơn suốt phần đời tôi đã trải qua là tạo phẩm dưới bàn tay vô hình của số phận. Tuổi thơ, tôi không mơ ước làm nghề viết văn. Trưởng thành tôi cũng không hình dung được có ngày tôi trở thành kẻ thù số 1 của chế độ này. Tương tự như thế, chưa bao giờ tôi cố ý đi tìm đọc giáo lý nhà Phật.

Sau cái chết của cha tôi 1992 trong tôi bỗng nảy sinh nhu cầu siêu hình. Vì sao, chính tôi cũng không rõ. Có điều, tôi biết chắc chắn rằng đời người thường chưa chất những ngộ nhận, những nhầm tưởng, những bí ẩn, những che giấu.... tất cả những gì mà ta thường gọi là "bờ lú bến mê". Trong quan hệ giữa con người với con người, những mê lú thường đem lại khổ đau, hờn oán.. Thâm tình càng sâu, khổ đau càng lớn. Bởi vì, chỉ những người ta yêu thương mới có khả năng làm cho ta đau đớn. Phật tổ Như Lai dạy: "Con cái là những sợi xích bằng vàng". Với tôi, sự thật dạy thêm vế đối: "Cha mẹ là những chiếc cùm bằng ngọc". Trong gia đình tôi, tồn tại một nguyên tắc "Gia pháp cao hơn quốc pháp". Vì lẽ đó, trong hơn một thập kỷ cha tôi đã áp dụng với tôi mọi hình thức kỷ luật quân đội để ép tôi sống với người chồng cũ, vì "bỏ chồng là điếm nhục gia phong".....Có lẽ vì những ẩn ức đó tôi bỗng có nhu cầu siêu hình sau cái chết của ông, dù người âm kẻ dương chúng tôi vẫn là cha con và vẫn có nhu cầu trò chuyện.. Cũng chính vì những ẩn ức đó cuộc gặp gỡ và thờ phụng Phật bà Quan Âm đối với tôi là một hạnh duyên, một may mắn vĩ đại và thần bí.

Là người viết văn tôi biết rằng với thời gian và qua thời gian tất thảy các nhân vật lớn thuộc mọi tôn giáo đều được thần thoại hóa. Nhưng cho dù tước bỏ mọi chi tiết huyền hoặc, mọi sợi chỉ óng ánh thêu dệt chân dung tôi vẫn thấy Phật Bà là một nhân cách vĩ đại tỏa sáng. Bị chinh phục hoàn toàn vì nàng công chúa từ bỏ cuộc đời xa hoa của hoàng cung, chạy trốn sự truy đuổi của quân lính triều đình, cưỡi hổ về phương Nam tu hành, tôi đi tìm đọc giáo lý nhà Phật.

Vậy là con đường tôi đi ngược chiều với nhiều người khác. Tuy nhiên phương Tây có câu: "Mọi con đường đều dẫn đến Roma".


Tôi tin rằng có nhiều con đường khác nhau dẫn đến tôn giáo nói chung cũng như cửa Phật nói riêng. Tùy theo duyên phận từng người, họ có thể dấn thân vào hành trình đó sớm hay muộn, lâu dài hay ngắn ngủi, sâu hay nông, thành thực hay chiếu lệ ...v ..v...

Đối với tôi, đạo Phật đem lại nhiều chân lý vĩnh hằng: Tính vô thường của Tồn Sinh, luật ly hợp của con người, vòng quay Sinh Diệt ...v..v... Nhưng trước tất thảy mọi triết thuyết, đạo Phật dạy ta xử lý ra sao trong các mối mâu thuẫn nan giải của đời người. Lịch sử cá nhân của Quán Âm Bồ Tát đem cho tôi một sức mạnh mới mẻ và sự thanh thản triệt để trong tâm hồn.. Tôi hiểu là từ ngàn xưa những con người vĩ đại đã giải quyết ra sao mối mâu thuẫn giữa các thế hệ đặt trong bối cảnh tình huyết nhục.


Tôi hiểu rằng ngoại trừ ngày cha mẹ đặt ta vào cõi đời, con người phải tự mình sinh đẻ ra mình, và lần sinh trưởng thứ hai này mới thực sự quyết định cho nhân cách cũng như sự nghiệp.

Tôi hiểu rằng không phải vinh quang cũng không phải chiến thắng mà chính là Tình Yêu và sự Hy Sinh nâng con người lên cao.

Và tất thảy những ý tưởng ấy được chắt lọc ra khi tôi đọc "Chuyện Quan Âm". Cho nên tôi như được hồi sinh khi tẩy xóa mọi ẩn ức, thanh lọc tâm hồn. Tôi cúi đầu trước vong linh cha tôi vì hiểu rằng chính ông và chỉ ông mới tạo ra tôi nhưng tôi vẫn đi đúng con đường tôi đã chọn, không mảy may nao núng. Tôi cũng không bao giờ ép duyên hay can thiệp vào đời tư của các con tôi. Và bài học lớn lao ấy tôi học được từ Phật bà Quan Âm. Ngài chính là cơ duyên đưa tôi đến cửa Thiền.

Cuối cùng, để cảm ơn tất cả những ai đã quan tâm hỏi tôi, nhất là các Phật tử tôi xin phép nói rằng:


Tôi vẫn mơ ước có một ngày, khi lũ lợn bẩn thỉu bị đuổi khỏi đền chùa, mọi nơi thờ cúng linh thiêng được trả lại cho các chân tu những người mà mệnh và nghiệp gắn kết họ với tôn giáo... Ngày ấy, nếu Trời còn cho sống tôi sẽ lại "vãn cảnh chùa", để thưởng thức mùi hương thuần khiết, thanh cao của hoa mộc hoa sói, hoa lan.... những loài hoa chỉ được phép trồng nơi thiêng liêng hương khói.


Chân dung Dương Thu Hương


Nguyễn Đăng Mạnh


Tôi không nhớ rõ đã quen Dương Thu Hương từ bao giờ. Có lẽ từ hồi


chị học trường viết văn Nguyễn Du chăng (1981)?. Tôi được mời dậy trường


này mấy khoá đầu. Dương Thu Hương học khoá một cùng với Ngô Thị Kim


Cúc, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Hữu Thỉnh, Chu Lai, Nguyễn Khắc


Trường... Hôm làm lễ bế giảng, chị mặc áo dài trắng, khoác tay tôi cho Hoàng


Kim Đáng chụp. ấy là năm 1982. Dương Thu Hương là một phụ nữ có tính cách


rất dữ dội và ngang tàng.


Tôi nhớ trong một cuộc họp rất đông văn nghệ sĩ nghe Hoàng Tùng nói


chuyện, ở câu lạc bộ báo chí xế xế Nhà hát lớn. Có lẽ nghe chán quá, nhiều


người bỏ xuống tấng trệt giải khát. Giữa chỗ đông người, Dương Thu Hương


nói lớn: “Trừ anh Hoàng Ngọc Hiến là thày tôi, anh Nguyễn Đăng Mạnh là


người tôi kính trọng, còn tất cả bọn phê bình đều là dòi bọ. Riêng Phan Cự Đệ


là con chó ngao”.


Hồi tôi còn ở nhà B10, khu tập thể Đồng Xa, chị có đến vài lần. Một lần


chị đến với đạo diễn điện ảnh Tiến. Tôi đi vắng. Khi về, thấy có một mảnh giấy


gài ở cửa, ghi mấy chữ: “Em đến anh cùng với Tiến để trao đổi về tác phẩm của


nhà văn trâu bò của chúng ta (tức cuốn Người đàn bà trên chuyến tầu tốc hành


của Nguyễn Minh Châu, chị muốn chuyển thành kịch bản phim). Rất tiếc, anh


đi vắng. Ngày mai em lại đến. Nếu anh không có nhà thì cái trường Đại học Sư


phạm của anh sẽ bị đốt”.


Hồi chị viết Bên kia bờ ảo vọng, ban đầu đưa đến nhà xuất bản Lao


động. Lúc ấy Ma Văn Kháng làm giám đốc. Kháng ngại không in, có lẽ vì sợ


đụng đến Nguyễn Đình Thi. Chị đưa cho nhà xuất bản Phụ nữ và được chấp


nhận. Trên đường đi về, tình cờ chị gặp Ma Văn Kháng và một anh nữa cũng ở


Nhà xuất bản Lao động. Họ đi xe đạp ngược chiều nhau. Dương Thu Hương gọi


hai anh kia đỗ xe lại và nói dõng dạc: “Này hai thằng mặt dày, sách của tao in


rồi!”. Trong một cuộc hội thảo khoa học kỷ niệm 35 năm văn học cách mạng


(1980), Dương Thu Hương lên diễn đàn, chị phát biểu “Đôi điều suy nghĩ về


nhân cách của người trí thức”, phê phán nhiều văn nghệ sĩ tư cách rất hèn. Chị


cũng phàn nàn về đời sống nhà văn. Chị nói: “Viết một tác phẩm rất khó nhọc


mà nhuận bút thấp. Nếu tôi không say mê văn chương thì tôi đi làm thợ may hay


bán bánh rán còn sống tốt hơn. Cả hội nghị đói, anh nào cũng mặt xanh nanh


vàng cả. Ta có quá nhiều nhà thơ và anh hùng mà thiếu người làm kinh tế...”


Lại nhớ một lần tôi cùng Dương Thu Hương, Hoàng Ngọc Hiến,Nguyễn Văn


Hạnh được trường Đại học Sư phạmViệt Bắc mời nói chuyện. Hôm Dương


Thu Hương đăng đàn diễn thuyết, tôi có đến nghe. Chị vừa nói vừa đi đi lại


lại rất hiên ngang. Tôi nhớ loáng thoáng, mở đầu chị phê phán Hồ Chí Minh:


“Năm điều bác Hồ dạy, không nói yêu cha mẹ nên bây giờ trẻ con hư hỏng hết.”


Lúc đó có một anh cán bộ giảng dạy đứng lên hỏi, đại khái, có phải tác


phẩm nào đấy của chị là kết quả của chuyến đi thực tế ở đâu đó không? Chị


mắng luôn anh cán bộ nọ: “Lẽ ra tôi không thèm trả lời. Việc gì tôi phải đi thực


tế! Chỉ có bọn cán bộ lãnh đạo quan liêu mới phải đi thực tế chứ! Chính tôi là


thực tế, còn phải đi đâu?”


Có một lần tôi đến Dương Thu Hương lúc chị còn ở Ngô Thì Nhậm.


Chị nói, ông Đỗ Mười có sai một anh thư ký đến mời chị đến gặp. Chị trả lời :


“Ông Đỗ Mười hay Đỗ mười một muốn gặp tôi thì đến đây mà gặp”.


Tôi và Dương Thu Hương có một cuộc dong chơi có thể gọi là một


cuộc “bát phố” Hà Nội rất thú vị. Từ Ngô Thì Nhậm, chị rủ tôi đi bộ. (Dương


Thu Hương rất cảnh giác, không đi xe đạp, không đi xe máy, sợ bị thủ tiêu).


Chúng tôi cứ đi lang thang từ phố này sang phố khác. Thỉnh thoảng chị lại chỉ


nhà này nhà nọ, hỏi tôi: “Anh có biết nhà ai đây không?”. Tôi không biết. Chị


nói: “Cớm đấy!” Theo chị, Trần Quốc Vượng, Phạm Hoàng Gia cũng là cớm.


Đi mãi, mỏi chân, chúng tôi vào ăn ở một cái quán ven đường Trần Quốc Toản


chỗ giáp Trần Bình Trọng. Ăn xong, tôi rủ Dương Thu Hương đến nhà Văn


Tâm chơi. Văn Tâm ở Phan Bội Châu, gần đấy. Hương nói: “Văn Tâm là thằng


khốn nạn, không đến!”. Tôi ngạc nhiên nói, Văn Tâm không phải thế đâu, cũng


là người tử tế. Chị nói: “Thôi được, đã là bạn của anh thì đến cũng được”. Văn


Tâm hôm ấy hơi mệt, vào thấy đang nằm trên giường. Vợ chồng Văn Tâm thấy


Dương Thu Hương đến thì cảm động lắm, vội vàng tiếp đón niềm nở.


Nhìn thấy bức tranh Lưu Công Nhân vẽVăn Tâm treo trên tường, tôi nói: “Tranh


của Lưu Công Nhân”. Dương Thu Hương nói “Lưu Công Nhân là thằng khốn nạn!”.


Từ Đà Lạt, nó dám viết thư gọi: “Em vào đây với anh – Thằng khốn nạn!” Chị Cam,


vợ Văn Tâm nói: “Chị uống ca cao nhé!” Dương Thu Hương : “Không, uống cà phê”


Chị Cam: “Cà phê chúng tôi cũng có nhưng để bị hả mất rồi!”


Dương Thu Hương : “Thì ra ngoài phố uống!”.


Vợ chồng Văn Tâm phải nài khéo chị mới ở lại.


Bỗng Dương Thu Hương chỉ mặt Văn Tâm nói: “Anh là thằng khốn nạn!” Văn Tâm


ớ người, không hiểu sao. Dương Thu Hương giải thích: “Anh làm thầy dùi phá đám


cuộc tình của Cao Xuân Hạo và Phương Quỳnh phải không? (Lúc này Dương Thu


Hương còn chơi thân với Phương Quỳnh).


Văn Tâm phân trần: Anh không hề can thiệp gì đến cuộc tình ấy. Thậm chí anh còn


cho đấy là mối tình đầu tiên thật sự là tình yêu của Cao Xuân Hạo.


Chẳng qua là vợ Hạo trong Nam doạ sẽ thuê bọn voi xanh voi đỏ ra phá tan nhà


Phương Quỳnh, vì thế họ phải chia tay. Dương Thu Hương không nói gì nữa.


Đấy khẩu khí của Dương Thu Hương là như vậy. Thế mà khi đến nhà tôi, vợ tôi thấy


chị có vẻ rất hiền. Cười rất tươi. Tính cách Dương Thu Hương như vậy, nên viết văn


cũng dữ dội lắm.


Hồi ấy tôi viết bài Những phiên toà của Dương Thu Hương (1986) là muốn diễn


tả cái chất văn quyết liệt ấy. Chất văn này mà được phát huy trong thể văn bút


chiến, tranh luận thì phải biết! Sau này quả là chị đã trở thành ngòi bút chính


luận rất sắc sảo. Sắc sảo hơn văn tiểu thuyết. Chính Dương Thu Hương cũng


không đánh giá cao văn tiểu thuyết của mình. Có lần chị nói với tôi: “Văn của


em là văn cải lương, anh đọc làm gì!”. Dương Thu Hương rất có ý thức viết


văn không vì mục đích văn chương mà vì mục đích chính trị, mục đích chiến


đấu cho lợi ích dân tộc, cho chân lý – chị tuyên bố như thế.


Hồi Dương Thu Hương mới ở tù ra, tôi tình cờ gặp ở quán cà phê vỉa


hè chỗ 51Trần Hưng Đạo. Không hiểu sao chị lại ngồi với một nữ trung uý công


an rất xinh xắn (Dương Thu Hương là nữ mà lại mê những cô gái đẹp). Đối với


những người có liên quan đến chị mà phải làm việc với công an khi chị bị tù,


chị nghi ngờ tuốt và khinh tuốt, như Đỗ Đức Hiểu (từng dạy chị tiếng Pháp),


Nguyễn Huy Thiệp, cả Nguyên Ngọc và người bạn gái xinh đẹp và thân thiết


của chị là Phương Quỳnh. Chị hỏi tôi: “Này, có phải Nguyễn Huy Thiệp sợ vãi


đái ra phải không?”.


Dương Thu Hương thích nói năng kiểu dân dã, kể cả nói tục. Thích giọng đời.


Không thích giọng văn chương. Coi nhiệm vụ công dân lúc này là cao hơn nhiệm


vụ làm văn.


Nhân chuyện Hoàng Ngọc Hiến nghe Đỗ Chu nói dối đi hội chen về


mà tưởng thật, và chuyện anh dại dột tham gia vào một đảng nào đấy, Dương


Thu Hương gọi Hiến là đồ ngốc, “nếu là đàn bà thì chửa hoàng hàng tỉ lần”.


ở Dương Thu Hương, dường như nói bạo, nói thô, nói tục là để át đi


một cái gì có thực trong lòng là những tình cảm đằm thắm, là sự nhạy cảm về lý


tưởng, do đó tự thấy là yếu đuối. Con người dữ mà thực ra lành. Đốp chát đấy


mà hay nể người. Rất cảnh giác mà lại cả tin. Dễ bị lừa. Thách thức kẻ thù, hiên


ngang đối mặt với kẻ thù, sẵn sàng cô độc giữa bầy sói, nhưng lại cần tình bạn.


Ôi! Tình bạn vô tư, chân thật sao mà hiếm có trên đời, nhất là đối với một cô


gái xinh xắn trên đất Việt Nam này! Cho nên viết văn là nhu cầu tất yếu, là lẽ


sống, để có thể có người tri kỷ mà không có tình dục xen vào. Văn chương là


người bạn vô tư. Dương Thu Hương hay viết về tình yêu - đúng ra là những vụ


án tình. Nhưng trong truyện của chị, xem ra không hề có tình yêu tốt đẹp, được


ngợi ca như là hạnh phúc đời người. Tình yêu trong tác phẩm Dương Thu


Hương, hoặc chỉ là tình yêu ảo vọng của những cô gái ngây thơ và lãng mạn,


hoặc chỉ là thứ “tình chài gái, lừa gái” của những gã Sở Khanh hiện đại.


Dương Thu Hương tuyên bố thoải mái: “Tôi là con đàn bà lại đực


(Còn Nguyễn Khải là thằng đàn ông lại cái)”. Chị thích chơi với bạn trai nhưng


rất ghét những thằng cứ muốn chuyển sang tình yêu nam nữ, như Lê Đạt, Trần


Đĩnh... Khi nhận thấy có biểu hiện như thế, lập tức chị đuổi luôn. Dương Thu


Hương cũng không thích phiền luỵ đến những gia đình mà do chồng có quan hệ


với chị mà vợ chồng lủng củng. Có lần Dương Thu Hương rủ Nguyễn Duy Tiến


(một tiến sĩ toán có giúp đỡ gì đó đối với con hay cháu của chị) đi nhậu cho vui.


Nhưng khi biết vợ Tiến có ý nghi ngờ, ghen tuông, chị cắt luôn, không chơi với


nữa. Riêng tôi và Hoàng Ngọc Hiến vẫn được chị coi là bạn vô tư. Với chúng


tôi, chị có thể nói như nam giới với nhau về thói dâm ô của người này người


khác, như chuyện Hoàng Tùng nửa trên, nửa dưới như thế nào đó...


Một người có vẻ sắc sảo và luôn cảnh giác như thế mà đã nhiều phen


bị lừa... Chẳng hạn chuyên làm nhà làm cửa gì đấy với Lam Luyến, hay chuyện


mua phải thuốc bổ rởm (làm bằng thuốc tăng trọng lợn) bị phù và lở loét khắp


người. Tóm lại Dương Thu Hương có vẻ giầu nam tính – tính cách mạnh, ăn


nói ngổ ngáo – nhưng thực chất vẫn là một phụ nữ giầu tình cảm và luôn có


mặc cảm của một cô gái trong xã hội Việt Nam với những thành kiến, những


định kiến về người phụ nữ. Ăn nói tạo tợn dữ dội, bốp chát, ngang tàng, đúng là


một cách để che dấu sự mềm yếu của nữ tính và để đối phó với những định kiến


xã hội nói trên. Cho nên chị mới phải “tự thiến” (Uống thuốc diệt dục). Có ba


điều dễ mắc phải và dễ bị lợi dụng, bị vu khống là danh, lợi, tình dục. Danh lợi


chị không thèm. Nhưng tình dục thì phải “tự thiến”.


Dương Thu Hương đã từng có lúc tưởng chỉ còn vất vào nhà xác (uống


nhầm aspirine bị chảy máu dạ dầy). Hai lần uống thuốc tự tử. Lấy phải thằng


chồng vũ phu, bị nó đánh có thương tích (Nguyễn Văn Hạnh nói, có lần Dương


Thu Hương dùng mưu trả thù: lừa chồng chui đầu vào gầm giường nhặt hộ cái


gì đó, rồi lấy gậy quật thật lực).


Dương Thu Hương không dấu tôi chuyện gì. Hỏi gì cũng nói: Hương


sinh ở Thái Bình (quê nội) được một năm thì nhà chuyển đi Bắc Giang, chỗ


giáp Bắc Ninh (Việt Yên). Nhà bị bom, chuyển vào thị xã Bắc Ninh cho đến hết


kháng chiến chống Pháp. Học trường Hàn Thuyên cho đến 1964. Sau đó học


trường lý luận nghiệp vụ Bộ văn hoá. Từng cắn máu tay viết đơn xin đi tuyến


lửa Quảng Bình (1966- 1975). Chín năm ở tuyến lửa. Khi chiến thắng thì vỡ


mộng: lý tưởng vấp phải thực tế đầy tiêu cực, bị phá sản. Những thần tượng bị


sụp đổ. Tự coi như bị lừa dối, chị từ bỏ thơ, xoay ra viết văn xuôi để lên án


những kẻ đã làm vấy bùn lên lá cờ lý tưởng của mình. Từ nay, tất cả đều phải


cảnh giác, chỉ tin ở mình thôi. Chấp nhận sống cô độc, chấp nhận sống giữa kẻ


thù để chiến đấu.


Nhưng thật ra có tin ở một cái gì mới hăng hái chửi bới, phủ định như


thế chứ! Chín năm ấy dẫn đến sự vỡ mộng, nhưng cũng là chín năm rèn luyện


một niềm tin ở mình và cuộc sống.


Dương Thu Hương kể chuyện với tôi, chị lấy phải một thằng chồng thô


bỉ mà mãi không bỏ được. Ông bố là một sĩ quan quân đội rất phong kiến,


không cho bỏ chồng. Ông bắt con phải kiểm điểm chỉnh huấn theo kiểu Tầu,


học được ở Quế Lâm. Con gái lớn mà bắt đứng úp mặt vào tường. Li dị chồng


rồi vẫn thế (Dương Thu Hương thế mà lại là đứa con ngoan, rất sợ bố).


Mãi sau ông cụ mới hiểu ra. Sáng sớm hôm ấy, ngồi đầu giường con đang ngủ,


hút thuốc lào, nhìn con, thương con, ông hối hận. Giờ ông mới hiểu, do biết thằng


rể thực chất là một thằng đểu. Mười bốn năm sống với nó, còn gì là đời con gái!.


Có lần Nguyễn Tuân mời Dương Thu Hương đến chơi. Chị từ chối, vì


thấy ông ấy kiêu ngạo quá. Nguyễn Tuân nhắc lại. Chị nói: “Cháu chè, thuốc,


rượu, chả biết”. Vậy là Dương Thu Hương không thích quan hệ trên dưới kiểu


gia trưởng. Con người này sinh ra thích bình đẳng, có máu dân chủ.


Dương Thu Hương đặc biệt căm ghét bọn trí thức hèn nhát, trí thức


quý tộc đi Volga mà hèn. Căm ghét khái niệm “đi thực tế”. Bọn quan lại: đi ôtô,


xa thực tế mới cần đi thực tế. Còn nhà văn là phải sống với thực tế cả đời chứ!


Đâu còn loại nhà văn tháp ngà!


Sau khi đi tù về, Dương Thu Hương ở một căn hộ thuộc một chung cư


ở Trung Tự (A8, B17). Sống một mình. Hai con có chồng có vợ, trưởng thành cả


rồi. Chị hay mời tôi với Hoàng Ngọc Hiến (gần đây thêm Nguyễn Thị Bình) đi


ăn, khi ở nhà hàng Phú Gia, khi ở nhà hàng Vân Nam, thường vào dịp đầu xuân


hay sau một chuyến đi nước ngoài về. Chị không muốn có quan hệ với bạn mới,


sợ liên luỵ đến người ta.


Gần đây, Dương Thu Hương luôn tự nhận mình là giặc, và là một


người đàn bà nhà quê, răng đen, mắt toét, mặc váy. Chị nói, dân tộc Việt Nam


thực ra là một dân tộc nông dân. Chị thích văng tục vì đấy là ngôn ngữ nông


dân. Phải nói bằng ngôn ngữ nông dân mới diễn đạt được đích đáng mọi sự thật.


Nhưng Dương Thu Hương là người rất công bằng. Có lần chị được


mời sang Pháp. Một đám Việt kiều ở một tỉnh nào đó mời đến nói chuyện. Bọn


này muốn chị mạt sát Hồ Chí Minh. Nhưng chị vẫn đánh giá Hồ Chí Minh, dù


sao cũng là một nhân vật vĩ đại. Thế là chúng tức tối, có thằng đến khách sạn


doạ đánh chị. Dân Việt Nam là thế, hay bè phái. Mà bè phái thì bất chấp chân


lý, bất chấp lẽ phải.


Hồi ấy nhiều người cứ tưởng Dương Thu Hương ở lại Pháp không về.


Thực ra đúng thời hạn, chị về ngay.


Gần đây, chị lại sang Pháp. Lần này chị chủ trương ở lại. ở trong nước,


bị quấy nhiễu quá, không làm việc được. Có hồi người ta cắt cả điện thoại của


chị. Viết truyện, Dương Thu Hương thường hay luận về vấn đề hạnh phúc


của những cô gái trẻ. Những cô gái hợm hĩnh và lãng mạn, chẳng hiểu tình yêu


và hạnh phúc là gì, cứ chạy theo những tình yêu mơ mộng và huyền hoặc, để


cuối cùng đánh rơi mất tình yêu và hạnh phúc thực của mình. Dương Thu


Hương từng luận về hạnh phúc như một người đầy trải nghiệm: nó như quân


xúc sắc trong trò chơi. Cần thì không đến. Không cần lại đến. Nhưng nó đến mà


đánh rơi nó, đánh mất nó như chơi. Hạnh phúc phải do chính mình quyết định.


Là ý thức, là hiểu biết, nhưng nó cũng là sự hồn nhiên, chân thực, thật thà, trước


hết với mình. Đừng có dại nghe ai xúc xiểm – vì hạnh phúc chỉ có cá nhân mình


mới hiểu được.


Không rõ Dương Thu Hương tự thấy đời mình thế nào, còn theo tôi,


chị chưa bao giờ có hạnh phúc. Đời người đàn bà như thế là khổ lắm.


Tôi thật sự khâm phục Dương Thu Hương. Cảm phục sự dũng cảm của


chị – sự dũng cảm đã phải trả giá rất đắt: một người yêu đời, rất cần tình bạn và


sự cảm thông, mà phải sống cô độc, một mình chống chọi với cả một Nhà nước.


Tôi cũng thật sự thương Dương Thu Hương, một người đàn bà như thế là khổ


lắm. Hiện nay Dương Thu Hương đang ở Pháp.


Nghe nói tiểu thuyết Chốn vắng của chị được dịch và Những thiên đường mù sắp


được chuyển thành kịch bản phim.


Xin chúc mừng chị.


NĐM



Tình dục trong văn chương Dương Thu Hương


Thế Uyên



dth_2_0



Từ 1951, năm Đảng Cộng sản Việt Nam sau một thời gian lẩn vào quần chúng, xuất hiện công khai trở lại với tên mới là Đảng Lao động Việt Nam, miền Bắc Việt Nam bắt đầu theo một thứ đạo lý mới, thường gọi là đạo đức cách mạng hay đạo đức xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ Liên Xô, cải biến bởi Trung Quốc, trước khi nhập nội. Nội dung về phương diện tình yêu và tính dục tương tự như chế độ thanh giáo trung cổ của các nước theo Công giáo, nên còn có thể gọi là thanh giáo XHCN. Đã là thanh giáo thì thanh giáo nào cũng giống nhau, cũng tìm đủ cách kiềm chế khống chế bản năng tình dục, kiểm soát tối đa có thể cái giống của con người, nam cũng như nữ. Sự kiểm soát này được đẩy tới cao độ trong hoàn cảnh có chiến tranh, đẩy tới đỉnh điểm trong mọi chế độ thần quyền chuyên chế, nhất là chuyên chế kiểu toàn trị, vô sản như trong những nước theo chế độ XHCN. Hậu quả dễ thấy nhất là trong địa hạt văn học.
Trong các tiểu thuyết xuất hiện thời kỳ này, đàn bà kể như là không được phép yêu đương lãng mạn như kiểu tiền chiến, thậm chí ngay vú, mông, đùi, âm hộ và các thứ linh tinh như phấn son, nước hoa, quần áo đẹp, gợi tình... đều không được phép nhắc tới. Cùng lắm, nhà văn chỉ được nhắc tới kinh nguyệt là chấm hết. Các thi sĩ vẫn được dùng hai đại danh tự "anh" và "em", nhưng không được chỉ người nam và người nữ đang yêu nhau. Khi chữ "em" lỡ phải xuất hiện, thì "em" phải vô tính, không nam không nữ. Nếu cùng lắm phải là nữ, thì phải chưa dậy thì. Hậu quả là xã hội "thanh khiết", ít nhất trong những biểu hiện bên ngoài, đến độ sau ngày 30 tháng 4. 1975, phụ nữ miền Nam, nhất là giới kinh doanh bằng vốn trời cho (bây giờ gọi là "vốn tự có"), thường chế nhạo quân đội miền Bắc là "chim bộ đội chỉ dùng để đái"...

Trong một hoàn cảnh như thế, khi giới văn nghệ sĩ được "cởi trói" trong một vài năm khi mới Đổi Mới 1986, xuất hiện hiện tượng mà sau này hải ngoại gọi là phản kháng, với một số nhà văn mới, trẻ, có tài, như Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài... Và tương tự như trong mọi phong trào phản kháng, cách mạng... đã xẩy ra trước đó, ngoài việc tranh đấu cho tự do sáng tác, tự do nói chung và nhân quyền tối thiểu, các nhà văn cũng đả phá những ràng buộc của nền đạo lý cũ, được coi là lỗi thời, nhất là trong địa hạt tình yêu và tính dục. Báo chí tiếng Việt hải ngoại, một phần vì lý do chính trị (chống cộng quá đà...), một phần vì không ít chủ biên chủ báo theo Công giáo La Mã từ hồi còn ở Việt Nam, cũng chủ trương thanh giáo như ai, nên đã chỉ làm ồn ào về khía cạnh chính trị, không để ý đến hay cố tình bỏ qua khía cạnh cách mạng thứ hai, là về tình yêu và tính dục.
Những nhà văn thuộc lớp phản kháng Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương... đều thực hiện cuộc cách mạng thứ hai, mỗi người một kiểu, một cách, tuỳ văn phong và "tạng" mỗi người. Trong phạm vi bài này, chúng ta cưỡi ngựa xem hoa tiếp tục, nhìn vào khu vườn chữ nghĩa của Dương Thu Hương, thưởng thức những bông hoa cấm, qua hai truyện dài mới chỉ được in nguyên văn tại hải ngoại, là Ti
ểu thuyết vô đề


Tiểu thuyết vô đề


Cuốn này Dương Thu Hương viết tại Hà Nội và không thể in ở trong nước, chuyển bản thảo sang Mỹ, nhà xuất bản Văn Nghệ tại California in lần đầu năm 1991 với giới thiệu và phân tích của nhà bình luận văn học Thuỵ Khuê (Paris). Dương Thu Hương đưa ra một mẫu người bộ đội thật hơn, người hơn, với đủ tình yêu và tính dục bình thường. Đó là Quân, một quân nhân mang cấp bậc đại đội trưởng (quân đội miền Bắc hồi đó không dùng quân hàm, chỉ dùng chức vụ để gọi nhau). Quân được điều vào miền Nam tham dự cuộc nội chiến Nam Bắc 1960-1975, và như mọi người lính khác trước khi ra trận, Quân đến từ biệt người yêu tên Hoa. Thông thường theo ấn bản qui định trong nền văn học XHCN, chàng phải đứng bên này một cây cổ thụ mà động viên nàng ở lại phải "ba đảm đang, bốn sẵn sàng" và nàng cũng khuyên chàng "tuyệt đối tin tưởng ở Bác và Đảng và cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước thần thánh..." Dương Thu Hương đã làm một cách mạng nho nhỏ [1] khi tả đôi trẻ Quân Hoa từ biệt như sau:


Hoa ngoái đầu lại, cười. Vì thế vấp, ngã. Đang đà bước tới tôi ngã chồm lên cô. Trời tối... nhưng tôi thấy rõ khuôn mặt Hoa kề dưới cổ tôi, khuôn ngực phập phồng dưới vòng tay tôi... Tôi choáng váng, xây sẩm mặt mày, lần đầu tiên chúng tôi gần gũi đến thế. Lần đầu tiên tôi thèm muốn điên cuồng... Tôi đã là một thằng con trai. Chuyện thầm kín giữa đàn ông và đàn bà như một trái cây chín đong đưa ngay trước miệng... Có lẽ đây là cơ hội đầu tiên tôi có thể trở thành đàn ông một cách toàn vẹn. Nhưng tôi nghe Hoa thì thào: "Đừng anh... "
Tay cô vẫn đặt trên ngực tôi, môi cô vẫn kề môi tôi trong nụ hôn mê man. Khi chúng tôi ngừng lại để thở, cô nói tôi, lần này rành mạch hơn:
"Đừng anh... Chúng mình chưa cưới. Bố mẹ sẽ đánh đuổi em nếu mà..." (Tiểu thuyết vô đề)


Vậy là chàng Quân vẫn còn trinh nam hay đồng nam khi vác súng vác đạn lên đường "sinh Bắc tử Nam", tham dự ngập đến tận cổ cuộc nội chiến dai dẳng. Với thời gian Quân được thăng lên cấp sĩ quan, và cũng có dịp để mất trinh:


Ấy là bận hành quân qua Nghệ An, một làng nhỏ ven núi. Con gái vùng ấy thực dễ dàng. Các cô sán đến cấu chí, trịn đùi cọ vú vào bọn tôi. Tối đến, chúng tôi lần mò lên đồi. Gió thổi mát rượi giữa những tiếng cười rúc rích, lướt qua những thảm cỏ mịn màng ấm nóng sau những tiếng thì thầm, tiếng rên, tiếng nấc của những bụi sim hổn hển, chao đảo, nhấp nhô... Trong vòng tay tôi, cô ta vừa ôm chặt lấy tôi, vừa líu ríu nói gì đó tôi nghe không rõ." (tr. 81, sđd.)


Đọc đoạn văn trên, thấy khi có dịp thuận tiện, thì người hùng cách mạng cũng biết chim mình không phải chỉ để đái mà thôi!
Sau nhiều năm chiến đấu gian nan, Quân được cái phép về Bắc thăm gia đình. Chàng đi ngược đường mòn Hồ Chí Minh, dĩ nhiên là đi bộ với tấm thân suy tàn vì chiến đấu quá nhiều, ăn uống thiếu thốn, bệnh tật. Một ngày kia đến một trạm giữa rừng, người duy nhất hiện diện là trưởng trại, một phụ nữ xấu xí bẩn thỉu nhưng vạm vỡ, vừa mới kéo ba xác bộ đội đi chôn. Cô đơn giữa rừng lâu ngày, người đàn bà này thèm khát đàn ông kinh khủng. Cô tận tình tiếp đón anh chàng trung uý trẻ mới ở mặt trận trở về, cho ăn uống tắm rửa và nằm chung giường.


Rồi không kiên nhẫn được nữa, cô túm lủng quần tôi, lay... Tôi không dám mở mắt nhưng tôi xoay người lại, nói ôn tồn:
"Đồng chí Viềng... Chính vì đồng chí ở đây một mình nên tôi không dám gây phiền phức. Lỡ có chuyện gì không may xẩy ra thì chết mất..."


Dĩ nhiên đồng chí Viềng đang lên cơn động tình, lần đầu tiên cơn hứng tình của phụ nữ được nói tới trong văn chương miền Bắc, đã không nghe lời, tiếp tục "xách nhiễu tình dục" chàng trai, một cảnh tấn công tình dục kéo dài đến ba trang giấy, có lúc nàng"... riết chặt lấy tôi, ôm bổng lên bụng mình" và vân vân. Nhưng chàng bộ đội cương quyết không chịu và Dương Thu Hương cho biết không phải vì quân phong quân kỷ đạo đức cách mạng chi hết, chỉ vì nàng xấu và hôi như một phu đào huyệt chính cống, không phải như là, mà là người có nhiệm vụ kéo xác tử sĩ về rồi chôn cất... Sau cùng:


Viềng vụt đưa mắt hồ nghi nhìn tôi rồi bất chợt thọc tay vào bụng dưới tôi, khoảng giữa hai đùi... Lúc đó, rõ ràng cô đã thấy tôi là thằng đàn ông vô dụng! Cuộc khám nghiệm có kết quả đảo ngược tình thế. Nữ chủ nhân thu tay về, đưa mắt nhìn tôi im lặng, cái nhìn đầy bao dung và khinh bỉ. Kẻ bị thương hại bây giờ là tôi. "Thế là may rồi! Thật hú vía!" ... tôi thầm nghĩ… (tr. 48-151 sđd.)


Chàng và nàng ai trở về giường người nấy, và sáng hôm sau chàng tiếp tục cuốc bộ đi ngược đường Trường Sơn, tinh lực tình dục dồn nén từ mấy năm vẫn chưa giải quyết, để chàng thỉnh thoảng nằm mơ dâm tình:


Nhưng, thân thể vừa ấm, tôi chìm ngay vào cơn mê buốt lạnh. Tôi thấy Hoa. Cô đang ăn nằm với một gã đàn ông đen sì, dị dạng. Cô kêu ú ớ, mặt tái nhợt như kẻ chết trôi. Gã đàn ông bóp nặn cô với đôi cánh tay gầy, lông lá. Tóc hắn dựng đứng. Tấm thân gã cử động khó nhọc và quái dị như một con đười ươi. Tôi thấy gã nhìn tôi, nhăn nhở cười, phơi bầy cuộc chiến thắng bỉ ổi một cách hể hả... Tim tôi đau nhói vì ước muốn trả thù. Tôi định hét to lên một tiếng.


Sau một cơn bịnh làm Quân phải nằm bệnh xá một thời gian, chàng được chứng kiến sự xuất hiện của một cô gái ở giữa rừng xanh núi xám và đám lính xa nhà đã lâu. Dương Thu Hương tả cảnh đó tương tự như bức tranh "Vénus sortant de l'onde" (Vệ nữ ra khỏi sóng), và bà có lý, vì tự bản thân lúc trẻ đã đi thanh niên xung phong vào rừng núi Trường Sơn:


Sớm nay thứ hai, giao liên tới: "Nữ giao liên, anh em ơi...!" Có nhiều cậu nhẩy cẫng lên. Cả đám người xao động, nháo nhác chạy ngược xuôi. Tôi đứng lẫn trong đám đông, lòng rộn ràng. Mãi mười phút sau tôi mới thấy người con gái đó. "Cũng bõ công chờ đón..." Cô xinh xắn, nhưng không đẹp. Da trắng xanh, tóc đen, mắt đen, răng khểnh. Cô lại nhỏ bé, có vẻ yếu ớt.
Tất cả chúng tôi xô ra, ai cũng cố nói với cô một câu, chạm vào vạt áo đen mềm hay mái tóc xoã ngang lưng. Cô giao liên cười với tất cả, gật đầu chào tất cả bằng thái độ bình tĩnh, nhẫn nại. Chắc cô đã quen với cảnh rồ dại của đám đàn ông bị nhốt lâu trên rừng.


Khi Tiểu thuyết vô đề xuất hiện ở Mỹ, không ít độc giả Việt Nam hải ngoại cằn nhằn tác giả về đoạn bịa đặt biệt kích miền Nam tàn ác, sa-đích đối với các thanh niên xung phong miền Bắc đi lạc: "Chúng tôi hướng vào góc rừng đã toả ra mùi thối khủng khiếp. Tới vực Cô Hồn, gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ chung quanh."
Đó chỉ là một huyền thoại tuyên truyền thường được sử dụng trong chiến tranh để tạo lòng căm thù đối phương. Tương tự như huyền thoại do tờ Sài Gòn Giải Phóng phổ biến sau ngày 30 tháng 4. 1975: các dân quân của chi khu Hải Yến miền Hậu Giang, vốn gốc là dân tị nạn cộng sản Tàu, thích ăn thịt đàn bà, chứ không chỉ xẻo ra,
vứt chơi không. Ai thích ăn vú, được gọi là Hai Vú, ai thích ăn thịt cái đó của đàn bà, gọi là chi... Có thể các huyền thoại kiểu như thế dùng để doạ các cô thanh niên xung phong vào Trường Sơn, trong đó có Dương Thu Hương lúc trẻ, để mấy cô đừng có rời đơn vị đi lang bang. Có ngáo ộp trong rừng đó!



Th
ế Uyên

Ngày Xưa Hoàng Thị - Quang Dũng and Thanh Trúc and Loan Châu.mp4

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Mười Một 20183:30 CH(Xem: 25)
Tên thật: Nguyễn Văn Nhĩ. Nơi sinh: Trà Vinh. Năm sinh: 1943. Năm mất: 1978 tại Paris. Như một poète maudit, Nh. Tay Ngàn sống lang thang, khốn khó ở Paris,
16 Tháng Mười Một 20187:19 SA(Xem: 86)
(h. VTD). Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1938 tại Gò Vấp. Học Trung Học trường Petrus Trương Vĩnh Ký
13 Tháng Mười Một 20188:17 SA(Xem: 127)
Tuổi Quý Mùi (1943) Quê Hội An, Quảng Nam Làm thơ, làm lính trước 1975. Sau 75 ở tù cải tạo
11 Tháng Mười Một 20187:20 SA(Xem: 83)
Đọc văn Phan Ni Tấn như nghe một người kể chuyện có duyên… Nam bộ. Trước và sau anh, từng có những nhà văn được yêu chuộng của dòng văn học Nam bộ này, thế nhưng ở Phan Ni Tấn, cái dấu ấn “Nam kỳ lục tỉnh” thật đậm nét
07 Tháng Mười Một 20185:08 CH(Xem: 141)
Nguyễn Lệ Uyên quê ở Phú Yên, học ĐH Sư Phạm Cần Thơ, ra dạy tại Gò Công, và lập gia đình với một “nhạn trắng” Gò Công