DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,848,000

Mẫu Hệ -Trần Yên Hòa (từ chương 35-37)

15 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 12342)
Mẫu Hệ -Trần Yên Hòa (từ chương 35-37)

Mẫu Hệ




bia_mau_he

 


Chương ba mươi lăm



tranh_dc_4

 

 

Bến xe đò An Đông ngày trước nay đã dời ra Bình Triệu. Bến xe mới được đặt tên là Bến Xe Khách Miền Đông. Nơi đây là trung tâm đi và đến của các xe đò liên tỉnh.

Xe đò đã bị quốc doanh hóa và được đổi tên là xe khách. Các chủ xe đò ngày trước đã bị cho giải nghệ và nhà nước cho thành lập Hợp Tác Xã Vận Tải. Dù được đổi tên và có một số công nhân viên làm bảo vệ giữ trật tự ở bến xe, nhưng nạn bán vé chợ đen, nạn lôi kéo khách lên xe cũng vẫn còn xảy ra hà rầm. Muốn di chuyển từ nơi này đến nơi khác, người dân vất vã trăm bê, nhất là những chuyến đi xa, từ tỉnh này sang tỉnh khác, từ bắc vô nam. Nạn chen lấn, dành chỗ, cướp giật vẫn còn xảy ra nhan nhản. Nhiều vụ bảo vệ thấy những băng đảng móc túi, rạch bóp hành khách giữa ban ngày ban mặt, trước mặt họ, nhưng họ cũng không làm sao dẹp hết được. Đó là tàn dư của chế độ cũ. Đĩ điếm, ma cô, xì ke, ma tuý, du đảng hoành hành, đều là tàn dư của chế độ cũ. Chế độ mới nói như thế, dù đã ba năm "giải phóng" miền Nam.

Chuyến xe đò Đà Nẵng-Sài Gòn đỗ xịch xuống bến xe miền Đông. Nại Hiên và ba đứa con xuống xe sau gần ba ngày lăn lộn trên xe cực như con chó. Hành khách dành nhau chỗ ngồi, bọn buôn bán hàng chuyến dành chỗ ngồi của hành khách để chất hàng, đủ loại hàng, lổn nhổn bao bì, bụi bặm, hơi thở, mùi mồ hôi đọng lên quần áo khét lẹt. Lại còn ba đứa con kêu khóc, đòi nước uống, đòi quà. Nàng la đứa này, dỗ đứa kia, nhất là với bé Anh Chi nhỏng nhẽo, mè nheo đủ chuyện.

Bước xuống xe như bước vào một không gian mới, là bước xuống thiên đàng, cho dù thiên đàng gì…gì đi nữa. Sẽ có gió mát thổi vào người, sẽ được đi thênh thang thư giản gân cốt, sẽ được uống ly trà đá mát rượi. Nại Hiên xách cái giỏ đựng quần áo của nàng và mấy đứa con. Còn năm chỉ vàng nàng lận trong quần, khi đưa tay xuống rờ chỗ cất dấu vàng, nghe thấy còn cờm cợm là nàng yên tâm.

Bến xe Miền Đông cũng khác lạ với nàng. Hình như ba năm giam chân ở chốn nhà quê, con người nàng như lú lẫn đi, một vùng quê như đa số vùng quê khác ở miền Trung, một số nơi chưa có điện, chưa có quạt máy, chưa có TV. Nàng không hiểu gì về đời sống bên ngoài, chỉ loanh quanh đoạn đường chợ Quán Rường – Tam Kỳ rồi Tam Kỳ - chợ Quán Rường, suốt ba năm. Bây giờ nhìn bến xe miền Đông, nàng thấy lạ, đông người và xô bồ quá.

Nại Hiên dắt ba con ra khỏi chiếc xe khách thì một đám xe ôm như một đàn ruồi bu quanh lại nàng. Nàng nghe lố nhố tiếng chào mời của những người chạy xe ôm, chị đi đâu? về đâu? Tôi chở cho, tôi lấy rẽ cho. Nàng đứng lại nói với đám xe ôm:

-Tôi có người nhà đón ngoài kia, tôi không đi đâu.

Tiếng nói của nàng thanh và rõ. Có lẽ ảnh hưởng còn lại của một thời còn dạy học khi kêu học sinh lên bảng. Đám xe ôm tản ra chạy theo mời những khách khác, Nại Hiên mới thấy thoải mái trong lòng chút đỉnh vì không bị quấy rầy nữa. Nàng đón một chiếc xích lô chở ba mẹ con nàng về nhà chị Vân.

Sài Gòn sau ba năm, nàng ngó lại, nhìn lại, chẳng có gì mới hơn, mà còn tệ hơn xưa là đằng khác. Những con đường đầy ổ gà, những ngôi nhà cũ kỷ từ ba năm không được sơn phết lại, những gờ tường rêu phủ như một thành quách cổ xưa. Chiếc xích lô từ từ lăn bánh trên con đường Bạch Đằng rồi qua khu Lăng Ông Bà Chiểu. Nàng hỏi người chạy xích lô:

-Chắc mấy con đường này đổi tên hết rồi hả anh? Tôi lâu rồi không trở về đây nên đọc tên đường htấy lạ hoắc.

Người đàn ông vừa gò người đạp, vừa thở, vừa nói với nàng:

-Thì đổi tên hết rồi, mấy vị anh hùng của ta ngày trước đi chỗ khác chơi hết rồi, chỉ còn lại những anh hùng cộng sản thôi. Như đường này ngày trước là Chi Lăng nay là Nơ Trang Long, tới tiếp đây là đường Võ Tánh, nay đổi là Hoàng Văn Thụ, tôi chẳng biết ông này là ai?

Nghe người đàn ông nói, nàng biết anh chàng này chắc thuộc “phe ta” ngày trước, nên nàng hỏi chuyện cởi mở hơn. Nại Hiên dọ ý:

- Không biết ở đây sống có cần hộ khẩu không anh, tôi ngoài trung vào sống với bà chị, mà nghe nói chuyện hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng khó khăn quá, tôi thấy cũng ớn, nhưng ở ngoài trung cực quá chịu không nổi nên tôi phải đi thôi.

Người đàn ông nói qua hơi thở:

-Thì cũng khó đó, công an khu vực kiểm soát hằng đêm, dọa nạt đủ điều, nhưng nếu có tiền cho nó chút đỉnh thì cũng êm thôi, với lại đàn bà con nít thì cũng dễ hơn. Tụi công an bây giờ bắt chẹt dân đòi tiền hối lộ còn hơn cảnh sát ngày xưa nữa đó.

Nại Hiên cũng nghe nói về điều đó, cũng thấy hơi đỡ lo vì nàng đi vào đây chẳng có một cái giấy tờ tuỳ than, chỉ một cái chứng minh nhân dân lận lưng, còn giấy tạm vắng, tạm trú chẳng có. Nếu vậy thì sống lẫn lút cũng được. Trong một xã hội còn tham nhũng, hối lộ tràn đầy, những người sống bất hợp pháp như nàng bây giờ mới còn có đất sống.

Xe chạy qua đường Trần Huy Liệu, tên này mới đây, nàng thấy nhiều bản tên đường đã đổi. Những tên lạ, chưa bao giờ nghe trong lịch sử hoặc trên báo chí, đó là những người bộ đội đặc công hay du kích, chết trong trận năm Mậu Thân hay là những người cán bộ cộng sản gộc. Các nhân vật lịch sử của ta ngày trước được dời đi nơi khác, hoặc biến mất như đường Trương Minh Giảng đây này, ông tướng của vua Gia Long đã mang quân qua đánh tận bên Cao Miên, có công lớn trong việc mở mang bờ cõi cũng bị xóa tên, con đường này nay là đường Lê Văn Sỹ. Lê Văn Sỹ là ai, nàng đâu có biết.

Sài Gòn dĩ nhiên là xô bồ hơn nhiều so với vùng quê, nhưng không còn có cái sinh khí ngày trước. Người ta di chuyển trên đường phần nhiều bằng xe đạp. Xe gắn máy rất ít. Thỉnh thoảng mới có một chiếc xe hơi chạy qua cái vù làm những người đi xe đạp trên đường nhìn theo xao xác.

Cảnh cũ nhưng mà mới với nàng và ba đứa con. Ba đứa nô nức chỉ trỏ đủ mọi thứ, nàng nhìn con vui nàng cũng vui theo. Thành phố lớn vơí nhiều sắc màu làm mê long người hơn thôn quê là cái chắc.

Xe vào con hẻm Bùi Phát, đây là khu họ đạo. Con hẻm ngoằn ngoèo. Trước đây ba năm nàng đã tới đây mấy lần ở nhà chị Vân, nay thì không nhớ nổi, không hình dung nổi vì những quán xá người ta dọn ra bán hai bên hẻm rất nhiều. Nàng đưa địa chỉ chị Vân viết trên bì thư cho người xích lô. Anh ta vừa đạp xe vừa kiếm số nhà.

Một hồi lâu, xe dừng lại bên một căn nhà nhỏ. Nại Hiên nhìn vào, căn nhà đóng cửa. Nàng bế mấy đứa con xuống xe rồi bước tới gõ cửa. Một đứa con trai khoảng trên hai mươi tuổi ra mở cửa, nhìn nàng rồi hỏi:

-Chị tìm ai?

Nàng nói với người thanh niên kèm theo nụ cười:

-Tôi tìm nhà chị Vân, đây có phải là nhà chị Vân không?

Có tiếng đàn bà xôn xao phía dưới, rồi một người chạy lên, đúng là chị Vân.

Chị Vân kêu lên:

-Ỏa, Hiên, em vô đó hả? Sao không báo tin cho chị biết để chị ra đón.

Nại Hiên nhìn chị, chị Vân nhìn Nại Hiên. Mới đó mà ba năm đã qua, khiến ai cũng già đi một chút. Có lẽ vì sự cùng cực, sự suy nghĩ, sự tính toán lo toan hằng ngày, hằng đêm về cơm, áo, gạo, tiền. Chị Vân sống ở Sài Gòn cũng chạy chợ từ đầu này sang đầu kia, cũng bon chen, tất bật, nhưng ít ra, chị còn có ly trà đá để uống, còn mua được bát phở, tô bún bò Huế, tô mì để ăn, chứ Nại Hiên thì làm bà hàng xáo suốt gần ba năm, nàng không “xuống cấp” sao được.

Chị Vân nhìn Nại Hiên rồi la lên:

-Sao em đen thui thế này, sao em bận bộ đồ tồi tàn thế này. Em cực lắn hả em? Chị biết về quê là cực khổ trăm bề mà em cũng đòi về cho được. Chị nhắn bao nhiêu lần là bỏ ngoài đó vào đây mà em đâu có nghe. Thôi cũng chưa muộn đâu, em vô đây là được rồi, vô rồi tính sau.

Nại Hiên và chị Vân ôm nhau khóc. Khóc vì sự nhục nhằn, khóc vì tan tác ly tan của gia đình, anh em mỗi người mỗi nơi. Tuy nhiên, thấy chị Vân vồn vã nàng cũng nghe vui trong dạ, nước mắt nàng lại ứa ra, cái vui cũng làm chảy nước mắt chứ đâu riêng một cái buồn.

Có lẽ sự cảm động, bức xúc bởi cuộc sống đã qua. Cuộc sống khổ cực đã làm thui chột hết trong nàng cái nhìn xa, nàng không định hướng nổi đời mình. May mà hôm gặp Khánh ở Tam Kỳ, Khánh khuyên nàng vào Sài Gòn, rồi chuyện buổi tối với Hòa, đã cho nàng sự quyết định, chứ không thì nàng vẫn còn sống ở đó, với nghề đó, suốt một đời.

Nại Hiên vừa khóc, vừa nói:

-Em cứ nghĩ mình về sẽ được dạy lại, không ngờ mọi chuyện không được toại nguyện. Em cố làm ăn nuôi con để đợi anh Soại về, nhưng tình hình này chắc còn lâu ảnh mới được thả, mà ở ngoài đó cũng chết dần chết mòn đi.

Chị Vân giục:

-Thôi mọi chuyện để đó tính sau, em đi tắm đi, tắm cho khoẻ, tắm luôn cho mấy đứa nhỏ rồi dọn cơm ăn, để chị đi nấu cơm thêm.

Nại Hiên định đi tắm thì thấy người thanh niên khi nãy từ phòng đi ra. Người thanh niên cười với nàng rồi chào:

-Chào dì.

-Á, đứa nào đây?

Nại Hiên vừa nói, vừa đưa mắt nhìn chị Vân. Chị Vân trả lời:

-Đây là Quốc, bạn của thằng Đông. Nó là sinh viên cùng học với thằng Đông, quê ở Bình Định, cha nó là cách mạng đi tập kết, nó vào Sài gòn học và sống tự lập. Thằng Đông kêu nó về ở cho vui.

Nại Hiên nghe biết vậy thì hay vậy, nàng bỏ vào trong lấy áo quần để đi tắm. Ba ngày ba đêm trên chiếc xe đò đầy hơi người, làm nàng ngất ngư, bây giờ đứng trong phòng tắm có vòi sen, phun nước lạnh vào thân thể nàng, nàng nghe một nỗi khoan khoái đến tận cùng các tế bào, nàng ngây ngất, đê mê. Các con được tắm với vòi sen, chúng khoái chí reo hò inh ỏi, tát nước vào nhau chí choé, khiến Nại Hinê phải la tụi nhỏ:

-Ba đứa lo tắm đi, đừng la ồn ào quá, dì rầy đó.

 

Bữa cơm đầu tiên khi trở lại Sài Gòn sau ba năm, với cơm trắng, cá tươi, có thêm cà ghém và canh chua chị Vân nấu, nàng thấy bữa cơm ngon thật là ngon. Dĩ nhiên, chế độ nào cũng vậy, ở thành phố lúc nào đời sống vẫn hơn ở nhà quê.

Căn nhà này chị Vân thuê lại của anh Lân, người anh họ, sau ngày ba mươi tháng tư bảy lăm. Trước đó, chị Vân ở tận bên kia cầu chữ Y. Những ngày Sài Gòn hoảng loạn, chị bèn bỏ căn nhà đó và qua tá túc bên này vì sợ nếu có đánh lớn, cầu Chữ Y bị sập, sẽ không còn cách nào để liên lạc với bà con, anh em. Nhưng không có đánh lớn mà chỉ có đầu hàng, anh em kẻ bị tập trung cải tạo, người di tản qua Mỹ, chỉ còn chị trụ lại Sàigòn từ đó đến nay.

Buổi tối căn nhà chật mà đầy nhóc người. Gia đình chị Vân có năm người, thêm chàng thanh niên sinh viên tên Quốc nữa là sáu. Bây giờ thêm Nại Hiên và ba con nữa là mười. Như vậy là quá đông.

Buổi tối đầu tiên trở lại Sàigòn, Nại Hiên và các con lau nền xi măng thật sạch rồi trải chiếu mà ngủ. Giấc ngủ ngon lành vì nàng đã ba ngày ba đêm ở trên xe đò chật chội. Và cũng nhờ cái quạt máy chạy lạch phạch dỗ giấc ngủ nữa. Cái gì bây giờ đối với nàng cũng thấy lạ, kể cả cái máy quạt cũ kỷ kia.

 

 

 

Chương ba mươi sáu



blank

 

 

 

-Trần Quang Soại.

-Có mặt.

-Ra khỏi hàng, hôm nay anh được phép ở nhà thăm gặp, anh có thân nhân lên thăm.

Soại bàng hoàng khi nghe lời nói của quản giáo Giản. Chuyện bất ngờ quá trong suốt hơn ba năm tập trung cải tạo. Trong đám “con bà phước” ở đây, Soại là người đầu đàn. Không ai điểm danh hoặc phân loại đám này, nhưng ai cũng biết là những người ở quá xa Sài Gòn, phần động là “con bà phước”.

Bây giờ có chính sách thăm nuôi, thân nhân của họ ở xa cả ngàn cây số. Xe cộ, đường sá giao thông khó khăn, lại không có tiền bạc, nên họ không được thăm nuôi là chuyện thường tình.

Có những người ở Sài Gòn nhưng những người vợ đã “nhìn xa trông rộng”, biết là chồng sẽ ở tù mút mùa lệ thủy, nên đã bước đi bước khác. Những người này cũng không được thăm. Cho nên đám “con bà phước” thì đủ thành phần. Nhưng nhìn quanh quất, đã hơn ba năm, những người có thân nhân ở xa cũng được kêu lên thăm một, hai lần. Chỉ có Soại là người duy nhất không được thăm.

Cho đến bây giờ anh mới được kêu lên thăm lần đầu, làm sao mà không sững sờ cho được.

Soại bước ra khỏi hàng, dáng anh vội vã, lạng quạng, tim anh hồi hộp. Anh đứng trước mặt quản giáo mà tay chân run run, lọng cọng.

Quản giáo Giản nhìn anh cười nói:

-Anh Soại có vợ lên thăm, anh về lán thay đồ đàng hoàng sạch sẽ rồi lên gặp tôi, tôi dẫn ra khu thăm nuôi, nhớ là khẩn trương nhá. Anh không được mang gì theo đấy, nhá.

Soại vội vàng chạy về lán mình. Đến chỗ nằm, anh lấy cặp độ cũ mới giặt đã phơi khô ra mặc. May mà còn bộ đồ này. Trong lòng anh, dù không hy vọng về chuyện thăm nuôi, nhưng anh cũng cố giữ lại một bộ quần áo tử tế. Đi lao động, anh cố bận những bộ đồ may bằng vải bao cát, hay những bộ đồ đã rách te tua, còn bộ đồ này thì anh giữ gìn kỹ lưỡng, dành để mặc trong những lúc nghỉ ngơi, những lúc lên hội trường học tập hay những đêm coi phim, xem văn nghệ. Nhờ vậy, bộ đồ dân sự anh mang theo, nay cũng còn lành lặn, chưa rách.

Anh vừa đi vừa chạy ra chỗ quản giáo Giản. Người quản giáo đợi anh đến gần, rồi nói:

-Tôi biết hoàn cảnh của anh từ lâu không được thăm gặp nên chấp thuận cho anh được thăm đột xuất. Anh nhớ là gặp thân nhân phải thi hành đúng nội quy của trại đề ra đấy, anh quán triệt hết chưa?

-Da, thưa cán bộ, rõ.

-Anh đi theo tôi.

Soại đi ra đến chỗ thăm nuôi xuyên qua nhiều bãi đất trống, qua những con đường hẹp. Nơi đây, nhiều lần anh đã đến lao động, anh đã thấy những người thăm nuôi ngồi nói chuyện thân mật với nhau, anh đã từng ứa nước mắt nghĩ về mình, nghĩ đến những cô đơn thui thủi của mình trong suốt ba năm qua. Anh nghĩ chắc chẳng bao giờ mình được thăm, dù một lần. Nhưng bây giờ thì anh được gọi tên, được ra đến đây rồi, và đàng kia, nơi cái bàn gỗ tạp, Nại Hiên đang ngồi với một người con trai.

Quản giáo Giản dừng lại rồi nói với anh:

-Thân nhân của anh ngồi kia, anh tới đi.

-Cảm ơn cán bộ.

Anh vừa đi, vừa reo lên trong bụng, anh đến trước mặt Nại Hiên. Nại Hiên ngồi bên kia bàn, phía bên này bàn có một cái ghế dài đóng đinh với cái bàn. Anh ngồi xuống, hơi ngỡ ngàng.

Soại nói:

-Em đó lả? Em khoẻ không? Các con đâu?

Anh nhìn trong nét mặt Nại Hiên có một vẻ khác, khác quá. Xa lạ, xa lạ quá. Nàng không vồn vả như anh nghĩ, như anh dự tính trong đầu là nàng sẽ reo vui, sẽ nhảy tới ôm chầm lấy anh mà hôn, mà kể lễ. Anh sẽ cầm tay, sẽ hôn vợ đắm say để tỏ nỗi nhớ thương trong ba năm xa cách, dĩ nhiên là phải lén lút khi không có mặt của quản giaó chứ! Anh cũng biết trong những lần thăm nuôi đột xuất như thế này, quản giáo sẽ dễ dãi hơn. Nhưng nét mặt của Nại Hiên không sáng rỡ lên, không nhảy cẩn tới bên anh, không có một cử chỉ ân cần như những ngày xưa khi anh đi hành quân về, anh đâm ngại. Lại có người thanh niên kia, anh không hiểu là ai trong quan hệ với Nại Hiên?

Nại Hiên nói, mặt không có nụ cười:

-Em về Trung làm ăn từ hồi anh đi, cực khổ quá, nên em vô lại Sài Gòn được sáu tháng nay. Mới vô nên cũng còn khó khăn lắm nên hôm nay mới lên thăm anh được, em không dẫn các con theo được, vì không đủ tiền để đi xe.

Nàng trỏ người thanh niên rồi nói tiếp:

-Đây là Quốc, bạn học với thằng Đông con chị Vân, nó là sinh viên, em nhờ Quốc chở đi cho đỡ tốn tiền xe.

Soại nhìn Quốc, Quốc có vẻ lung túng, Quốc nói nhỏ trong miệng:

-Chào dượng.

Tiếng dượng nghe lạ và lạc loài. Soại định gặp Nại Hiên, sẽ nói với nàng nhiều lắm, nhưng có Quốc ngồi bên “cản mủi kỳ đà” nên anh không nói được gì, chỉ hỏi thăm gia đình, những người thân, chuyện làm ăn, cuộc sống. Không thể nói chuyện riêng tư như anh dự tính trong đầu.

“Lâu rồi em sống ra sao? Có nhớ anh không? Các con ra sao, chúng nó học hành thế nào? Chính quyền địa phương thế nào? Công an khu vực thế nào? Anh nhớ em hàng đêm, anh nằm mơ thấy em, anh hôn em, anh bế em, anh ôm em vào lòng. Anh cảm ơn em về sự chung tình, trung trinh, đảm đang của em lo cho gia đình mình.”

Anh không nói được lời nào như vậy hết, vì có Quốc ngồi bên cạnh.

Giọng Nại Hiên có chút chua xót:

-Em bây giờ một nách ba con, em không có khả năng thăm nuôi anh nhiều đâu, anh cố gắng sống và tự lo liệu lấy mình.

Điều này anh đã nói với nàng nhiều lần qua thư. Anh cũng biết, nàng một nách ba con khổ cực trăm bề, nếu nàng đòi đi thăm nuôi anh ba tháng một lần như những người bạn anh ở đây, chắc anh cũng ngăn cản. Nhưng bây giờ nghe Nại Hiên nói ra điều đó, tự nhiên Soại cảm thấy như có một điều gì đó không ổn. Đó có phải là dự báo của một cách ly, một tách rời hay không?

Soại nói thật lòng:

-Anh sống ở đây dù cực khổ, đói khát đủ điều, nhưng em đừng lo, anh chịu đựng được. Em lo cho ba đứa con đủ ăn, đủ mặc, được học hành là anh mừng rồi. Anh biết anh khổ lắm, anh luôn biết ơn em. Anh yêu em.

Câu “anh yêu em” của anh thốt ra lúc này là một dồn nén từ lâu bây giờ mới bộc phát, nhưng nó không đúng lúc, bởi vì hoàn cảnh thăm nuôi, mặt người cải tạo nào cũng như con cá chết trôi, hốc hác, nhạt thếch, mà còn thốt lên tiếng “yêu” là không hợp. Với lại Nại Hiên, sau sáu tháng sống ở Sài Gòn, nàng trông phổng phao, đôi mắt kẻ chì đen, làn má đánh phấn hồng, môi tô son tím nhạt, trông nàng già dặn hơn trước, cách đây ba năm, ngày Soại giã từ nàng ở bến xe An Đông, để nàng về quê, còn chàng thì ôm mền, mùng, vào trại tập trung, bây giờ nàng khác lúc ấy có tí xiú thôi, vẫn còn mang nét kiêu sa, quý phái, đài các của ngày xưa. Soại thì tàn tạ quá so với Nại Hiên.

Hai người, trao đổi những câu ngắn, dù không có quản giáo đứng kề bên, nhưng Soại vẫn không nói được lời gì âu yếm. Tự nhiên Soại đâm ghét người thanh niên này quá, cháu con gì lớn tồng ngồng, da mặt đầy mụn, nổi sần sùi thế kia, mà nó là bạn con của chị Vân chớ có bà con ruột thịt gì cho cam. Sao nó mất lịch sự không tránh xa ra cho anh ôm vợ một cái, hôn vợ một cái. Cũng ba năm rồi, không có hơi hướm vợ, không có hơi hướm con, làm sao anh không nhớ. Nhưng ban ngày ban mặt, có người ngồi bên, chẳng lẽ anh làm một việc coi như vậy được chăng? Soại bực bội trong lòng mà không nói ra, mãi đến khi quản giáo Giản trở vào bảo:

- Đã hết giờ thăm gặp rồi đó anh Soại, liệu mà thu xếp vào trại.

Anh đứng lên, tiếc nuối:

-Thôi anh vào nghe, cho anh thăm mấy đứa con, nói ba nhớ mấy đứa lắm, gởi lời thăm chị Vân và mấy cháu. Em về nhớ giữ gìn sức khoẻ.

Nại Hiên và Quốc đứng lên. Nại Hiên nói:

-Em về.

Quốc cũng gật đầu chào, không nói gì.

Soại cầm tay Nại Hiên bóp nhẹ, anh cố làm một cử chỉ âu yếm, nhưng nàng sè sẹ gỡ tay anh ra.

 

*

 

Trên đường về trại, quản giáo Giản nói chuyện với Soại có vẻ cởi mở hơn những lần thường:

-Vợ anh Soại trông cũng xinh đấy chứ nhỉ, chị lên thăm nuôi anh lần đầu mà sao đem quà cho anh ít quá thế?

-Thưa cán bộ! Tôi viết thư về nhà nói ở đây cách mạng nuôi tôi đầy đủ rồi, nên tôi bảo đừng đem nhiều.

-Thế à, anh bảo thế mà vợ anh cũng tin à? Chúng tôi nói thế thôi, chứ cách mạng cơm gạo đâu mà nuôi các anh cho no đủ được, nếu no đủ thì cần gì gia đình thăm nuôi.

Soại thấy cần nói lại cho người quản giáo hiểu:

-Nhà tôi đơn chiếc lắm cán bộ ơi. Vợ tôi từ miền trung vô Sài Gòn mới có sáu tháng, mà lại phải nuôi ba đứa con nhỏ nữa, nên tôi không muốn sắm quà cáp nhiều, sợ khổ bà xã.

Quản giáo Giản cười cười:

-Tôi thấy chị ăn diện thế kia, nghĩ chắc nhà anh khá lắm. Các anh sống ở chế độ tư bản lâu rồi, làm gì mà nghèo khổ đến vậy.

Soại binh cho Nại Hiên:

-Ơ miền Nam là vậy đó cán bộ, tuy mình nghèo nhưng đi ra ai cũng bận đồ tươm tất, mới nhìn vào tưởng là giàu sang lắm, nhưng chỉ được cái vỏ bề ngoài thôi.

Nại Hiên sắm cho Soại 2 ký đường, một thùng mì gói, một ít bột cám rang, 5 kỳ gạo và một ít cá khô, thế thôi. Nhìn những người khác mỗi lần họ có thăm nuôi, tay mang tay xách, bây giờ anh được thăm nuôi, xách loe ngoe những món hàng đựng trong cái giỏ lác mà Nại Hiên đã mua, anh đi ngang qua những người bạn ở các trại khác đang lao động, tự nhiên anh thấy hơi mắc cở. Những người bạn đang làm việc bên đường, nhìn anh nháy mắt, hỏi nhỏ:

-Có tin tức gì mới không, gia đình có nhắn gì không?

Anh nghĩ anh với Nại Hiên chuyện gia đình cũng không biết nói gì vì có “kỳ đà cản mũi”, thì làm sao hỏi thăm tin tức chính trị bên ngoài. Anh lắc đầu:

-Chẳng có gì cả.


Buổi tối, anh đun nước sôi, nấu một nồi mì, anh chế trà, mời Thuấn và mấy người bạn mà anh đã “nợ miệng” lại ăn với anh cho vui. Anh nói xả lả để che lấp cái nghèo của mình, cũng như binh vực cho Nại Hiên:

- Mấy đứa bay ăn với tau chén mì cho vui. Bà xã tau từ ngoài trung vào thăm, đường sá xa xôi cực khổ quá nên không mua được gì nhiều, tụi mày ăn lấy thảo.

Thằng Nhựt nói:

-Vậy là nhất mày rồi, vợ mày lặn lội từ ngoài trung vào thăm là phước cho mày lắm, chả bù có nhiều thằng vợ đi thăm chồng mà còn dắt theo thằng bồ, ngồi ngờ ngờ bên cạnh, sợ thằng chồng hôn vợ mất dấu của nó.

Soại nghe nóng mắt. Tụi bạn ăn xong ngồi đấu láo đủ chuyện trên trời dưới đất, nhất là chuyện thăm nuôi. Tin tức thăm nuôi ở đây lan truyền đi rất nhanh, đứa nào vợ bỏ đi lấy dân chợ trời, đứa nào vợ bỏ lấy công an, đứa nào vợ bỏ vượt biên với kép mới. Soại ngồi rửa chén ngoài đầu hè mà anh nghe rưng rưng muốn khóc quá. Cũng may hồi sang thăm nuôi đột xuất, chỉ có một mình anh được thăm thôi, chứ nếu thăm chung mà bạn bè thấy thằng Quốc ngồi chình ình bên cạnh vợ anh, chắc vào trại anh cũng được xếp lên danh sách chuyền miệng rồi. Tin hành lang thăm nuôi ở đâu mà lẹ, mà đúng ngay chóc. Không có lửa làm sao có khói?

 

 

*

 

Khi ngồi lên xe Quốc chở về, Nại Hiên mới thấy lòng mình dịu lại. Đã ba năm xa cách vợ chồng, nàng cũng hồi hộp muốn gặp lại Soại, dù cuộc sống bên ngoài đã xói mòn đi trong đầu óc nàng những nhớ thương ngày cũ. Thời gian đã làm nàng quên đi nhiều thứ, nhất là Soại, anh cũng là một hình ảnh nhạt nhòa theo thời gian. Tình vợ chồng, tình yêu, như nước lã, cần được hâm nóng thường xuyên. Hâm nóng, đó là sự gần gũi, sự tựa kề ân ái, là những đam mê trao đổi xác thịt. Soại đi biệt trong nàng, không hy vọng đến ngày trở về.

Anh tư Lộc, rồi Hòa, những người xuất thân từ lò “cách mạng”, đã nói với nàng về ngày về rất xa của Soại. Cho nên nàng cố để sự lãng quên chiếm lĩnh. Soại và nàng đang ở hai lằn ranh của cuộc đời. Trong và Ngoài. Tự Do và Tù Ngục. Đêm và Ngày. Nghĩa là tất cả đều đối chọi nhau. Tình yêu thương. Sự chung thủy, là những giáo điều chỉ còn trong tâm thức. Bây giờ, sau khi nhìn lại chồng, đối diện với chồng, nàng sao cảm thấy xa lạ, cách chia. Nàng nghĩ them một điều nữa. Sự tái ngộ, sự trở về, sự trùng phùng sẽ còn xa lắm, nàng không muốn Soại có suy nghĩ để làm anh buồn đau, nhưng nàng cũng không thể tỏ thái độ cùng cho anh một niềm tin về sự trung thành của nàng.

Nàng cũng có những ý nghĩ sẽ làm những cử chỉ âu yếm, ân cần, vỗ về, săn sóc Soại. Nhưng khi gặp lại Soại, có Quốc ngồi bên, nàng thấy không thể đóng kịch trước mặt hai người đàn ông, dù rằng vở kịch nàng nghĩ trước đó, có thể diễn được.

Đường từ Long Giao trở về, qua nhưng rừng cao su bạt ngàn, buổi chiều gió reo trong những hàng cây. Xe qua những ổ gà vồng lên vồng xuống, khiến nàng ngồi sau phải ôm cứng lấy eo ếch Quốc. Nàng nghe một nổi rạo rực nhè nhẹ dấy lên trong người. Nàng vừa thăm nuôi Soại, ngồi với Soại, nàng vẫn thấy lạnh tanh, nhưng bây giờ ôm vòng eo của đứa cháu không bà con, tự nhiên làm nàng ngộp thở. Có phải Quốc là hiện thân của tuổi trẻ, của phong độ, của ngồn ngộn sức trai.

Nàng nói với ra đàng trước:

-Quốc thấy anh Soại thế nào? Tơi tả quá phải không?

-Ổng ốm quá.

-Cũng tội nghiệp.

Câu nói của Nại Hiên chứng tỏ rằng, nàng với Soại nay đã là có một khoảng cách xa, không cây liền cây, cành liền cành nữa. Nàng như một kẻ bàng quan, đứng ngoài cuộc sống của đời nhau.

 

 

 

Chương ba mươi bày



blank


 

Chuyến tàu chợ Diêu Trì – Nha Trang dừng lại ở ga La Hai. Hai người đàn bà nhà quê xuống tàu, gồng gánh lỉnh kỉnh bước ra cổng.

Người đàn bà trẻ dừng lại hỏi người bán thuốc lá trong ga:

-Đây đi lên trại Xuân Phước có xa không ông? Đi ngõ mô rứa, nhờ ông chỉ dùm?.

Người đàn ông bán thuốc lá chỉ tay về hướng tây:

-Bà đi hướng này này, cứ miết theo đường đó mà đi thì tới, mà con xa lắm, trên mười cây số lận. Hai bà mang theo đồ nhiều làm sao đi cho nổi, sao khong thuê người ta gánh cho đỡ mệt. Đi thăm nuôi hả?

Bà già nói, giọng kể lễ:

-Ờ, đi thăm nuôi. Có thằng con cải tạo ở Sài Gòn đổi về ngoài ni mà mấy năm, nó gởi thơ về xin thăm nuôi mà tui đi đâu có được. Nay gom góp mới đi thăm được đây, khổ quá chú ơi!

-Thời thế vậy thì ráng chịu vậy, tui cũng mới đi cải tạo gần ba năm mới về, không có nghề nghiệp nên ra tủ thuốc bán kiếm lon gạo về ăn, chứ nay biết làm gì bây giờ. Thôi hai bà đi đi, đường sá đi cực lắm đó, qua con suối, cây cầu, nhớ cẩn thận.

Bà Khải và chị Kim chào người đàn ông rồi theo hướng chỉ tay mà đi. Con đường nhỏ nằm theo những ruộng lúa, chạy dài từ đây lên đến tận trên chân núi kia.

Soại đổi ra đây từ năm ngoái, anh hy vọng là gần quê nhà, có thể gởi thư về cho mẹ và chị Kim lên thăm.

Chuyến tàu chợ đã làm cho bà Khải mệt lả người vì đám con buôn hàng chuyến dành chỗ để hàng. Rồi đám nhảy tàu, đám bán nước chè, trà đá, xôi, cháo, trái cây mơì chào, bao nhiêu thứ làm bà ngồi không yên một chỗ.

Con đường gồ ghề, đầy hục hang làm chân bà mỏi điếng. Bà cố gắng theo chị Kim cho kịp, chị Kim gánh một gánh quà cho Soại nữa.

Thật ra, quà nhà quê cũng chẳng có gì. Đó là bánh tráng khoai xiêm, bánh dầu đậu phụng, khoai chà, khoai chín, cám rang, một số mì khô, hai lít dầu ăn, một trả cá nục kho mặn. Chừng đó thực phẩm thôi cũng đã nặng rồi.


Sau ngày Nại Hiên trở lại Sài Gòn, bà Khải biệt tăm tin tức Nại Hiên, dĩ nhiên cũng biệt tăm luôn tin tức Soại. Bà thương con, lo lắng, héo hon người lại, nhưng bà không biết tìm kiếm hỏi han nơi đâu. Đến chừng cả năm sau, bà nhận được tin Soại qua lá thư Soại gởi về thăm bà, kèm cái giấy thăm nuôi. Bà đưa cho chị Kim coi và lần lửa mãi, bây giờ bà mới thực hiện chuyến đi. Suốt đời bà, bà chưa bước ra khỏi cái thôn làng bé nhỏ, cái quận bé nhỏ, làm sao bà biết được những nơi chốn xa hơn. Nhờ có chị Kim đi cùng, bà cũng đỡ lo.

Trên đường ruộng gập ghềnh, dẫn đến trại Xuân Phước, hai người đàn bà lặng lẽ đi. Đôi bóng ngã nghiêng theo hướng mặt trời. Buổi xế trưa, trời nóng, nắng đổ lửa, con đường khô cứng, đá sỏi lồi lõm hục hang. Dọc đường có những người mặc áo công an hay bộ đội đạp xe lướt qua, những người nông dân đang cày dưới ruộng. Trời hạn, đất khô nẻ, cặp bò kéo cày thở hồng hộc, mệt nhọc, nặng nề.

Khoảng đâu xế bóng thì hai người đến chỗ thăm nuôi. Những ngôi nhà lợp tranh thấp, bàn ghế được xếp từng dãy dài. Bà Khải nhìn chung quanh bốn bề, ngõ nào núi cũng chắn ngang, chỉ có con đường mòn độc đạo dẫn từ đây ra ga Chí Thạnh hay ga La Hai.

Chị Kim đem giấy xin được thăm nuôi trình cho cán bộ công an ngồi trong căn nhà nhỏ kế bên. Bây giờ đã hết thời gian quân đội quản chế, đã chuyển sang công an. Sau ba năm của án lệnh tập trung, có người nói, thời kỳ quân đội quản lý là cải tạo viên, thời kỳ công an quản lý là tù. Tuy vậy, danh từ cũ vẫn được gọi là cải tạo viên. Họ được phát những bộ quần áo có sọc đen, sọc đỏ thẩm, hay màu xanh dương đậm, màu xanh da trời, phía sau áo được đóng dấu đen kỹ lưỡng, đậm nét, chữ CT.

Chị Kim vào văn phòng, chào người cán bộ. Chị trình giấy và nói:

-Xin cho tôi được thăm nuôi em trai tôi tên Trần Quang Soại, ở đội thợ hồ, phân trại E.

Người cán bộ cầm cái giấy săm soi, đọc rồi bỏ xuống, bỏ xuống rồi cầm lên đọc, mấy lần như vậy.

Lúc lâu, ông ta nói:

-Chị ra ngoài kia ngồi đợi tôi xin ý kiến cấp trên, hết đợt thăm nuôi rồi.

Chị Kim bước ra, đi về phía bà Khải. Bà Khải ngước đôi mắt mệt mỏi, hỏi:

-Có được thăm không con?

-Họ nói đợi để họ ý kiến cấp trên, hết đợt thăm nuôi rồi, không biết răng đây?

Chi Kim lại ngôi trên chiếc ghế dài thấp bên bà Khải.

Trời đã qua buổi trưa, nắng đã nhạt trên các chòm cây, gió thổi lao xao. Khu thăm nuôi im vắng. Đã qua đợt thăm, bây giờ chỉ còn lác đác. Thỉnh thoảng những người có thân nhân ở xa đi trễ, còn thì khu thăm nuôi trống trơn, lạnh lẽo, như chiều nay chỉ có hai mẹ con bà Khải.

Quá mệt mỏi vì chặn đường dài, chuyến tàu chợ chạy chậm với con buôn với con buôn lên xuống, la ó ầm ĩ, suốt chặng đường Tam Kỳ - La Hai, khiến bà ngồi không yên chỗ. Rồi phải đi bộ, gồng gánh trong suốt quảng đường dài, hai người cảm thấy rã rời, muốn tìm một chỗ nằm nghỉ.

Người công an khi nảy trong phòng làm việc chợt xuất hiện, anh đi lại gần hai người đàn bà, rồi vồn vã nói:

-Thưa mẹ và chị. Tôi đã hỏi ý kiến cấp trên về chuyện thăm gặp của mẹ và chị với anh cải tạo viên Trần Quang Soại, thì được quyết định là ngày mai mới cho thăm, vì bây giờ trời sắp tối rồi, mà anh Soại đang đi lao động thông tầm, chiều tối mới về. Thôi mẹ và chị vào trong thu xếp chỗ nghỉ lại, có bếp núc và dụng cụ nhà bếp cả đấy, mẹ chị cứ tự nhiên xử dụng.

Chị Kim và bà Khải theo lời người công an, đem gồng gánh đồ đạc vào phòng dành cho than nhân nghỉ lại, có mấy cái sạp gỗ. Hai người cũng mệt quá, nên nghĩ ở lại cũng được, chứ thăm gặp bây giờ cũng chẳng ra về kịp vì trời đã tối.

Gió ở thung lũng ban đêm rít lên từng hơi dài. Đêm xuống lạnh lùng chậm chạp.


bky_1



Hơn ba năm, bà Khải không gặp hai thằng con trai. Những ngày tháng ba, Soại từ đơn vị về thăm mẹ lần cuối, rồi anh dẫn đại đội lính từ vùng núi rừng Sơn Tịnh chạy ra cửa bể An Hòa, theo tàu vào Hàm Tân, rồi vào Vũng Tàu. Đến ngày tan hàng anh ở luôn trong ấy. Bà Khải vẫn mòn mỏi trông con.

Bây giờ bà nằm đây, trên cái sạp gỗ ở khu thăm nuôi, Soại nằm trong trại, cách nhau có một đoạn đường ngắn, mà không được gặp nhau. Soại cũng không biết có mẹ và chị ngoài đó. Không ai cho anh biết cả.

Sáng hôm sau, trong khi sắp hàng chuẩn bị đi lao động, Soại mới được gọi thăm nuôi. Như lần trước ở Long Giao Nai Hiên lên thăm, anh cũng lính qua lính quýnh. Bây giờ không biết ai thăm mình đây? Nại Hiên thì đã biệt tăm từ ngày anh đổi ra Xuân Phước.

 

 

Một chiều thứ bảy như mọi chiều thứ bảy khác ở trại Suối Máu, nhưng hôm đó công an áo vàng vào rất đông. Quản giáo đến từng nhà gọi tên. Nhà 8 với 52 người ngồi im lặng, đợi quản giáo kêu lên “bảng phong thấn”. Hiền hay dữ đây? Ai cũng đoán già đoán non, gần bốn năm rồi, lại gần tết nữa, có thể được tha về lắm chứ. 52 người ngồi im, nhưng tim người nào cũng đập rộn rã, hồi hộp, đợi chờ. Người quản giáo nói loanh quanh về nội quy trại, về việc an tâm cải tạo, ở đâu cũng phải lo học tập tốt lao động tốt. Rồi ông kêu tên, Trần Quang Soại, anh hô to, có mặt. Người cán bộ nói tiếp, anh hãy gọn gàng đồ đạc để chuyển trại. Soại ngẫn người, tim đập mạnh, anh nhìn quanh quất. Còn ai nữa không, không có ai được kêu tên tiếp theo. Anh xếp đồ đạc thật nhanh rồi đi theo người quản giáo. Lành hay dữ, ai biết được? Nhiều tiếng nói xôn xao nho nhỏ, nó được về là cái chắc, chỉ một mình nó. Soại vẫy tay Thuấn, bắt tay Thuấn, ông choàng lấy Thuấn, rồi anh đi ra cổng nơi cách ly, anh thấy một số gương mặt quen, những gương mặt có ngành, nghề sừng sỏ, an ninh quân đội, quân báo, chiến tranh chính trị. Anh hết hy vọng được về, cơn vui chợt tắt ngúm. Rồi anh lên chiếc xe bít bùng, hai bên có vệ binh gằm sung, đi suốt hai ngày hai đêm, không đái ỉa, không ăn uống, đến Xuân Phước.

 

Khi trại ra đến khu thăm nuôi thì đã có bà Khải và chị Kim ngồi ở ghế bên kia. Thêm mấy gia đình nữa mời đến buổi sang nay. Lần này thì anh ngồi xa mẹ và chị. Mẹ anh già quá, ốm quá, còn chị Kim thì xơ xác thấy rõ. Người công an coi tiếp tân ngồi phía bên bàn, nên không ai nói được điều gì riêng tư, bí mật.

-Mẹ và chị đi đường có cực không?

-Đi tàu lửa mà cực gì, sướng nu, có hơi chật chút thôi.

-Đi lên đây có xa không mẹ, nghe nói xa lắm, mẹ chị đi bằng gì?

-Thì thuê xe thồ họ chở đi, có gì đâu, đi tiếng đồng hồ là tới, khoẻ ru.

-Ở nhà ra sao mẹ, chị, anh Giang thế nào?

-Nó về rồi, đi kinh tế mới ở Tây Ninh, làm ăn cũng được.

Rồi mẹ hỏi lại:

-Con sống ở đây ra sao? Ăn uống đầy đủ không? No không?

-Mẹ đừng lo, ở đây nhờ cách mạng dạy dỗ và lo lắng, tất cả đều đầy đủ. Con luôn luôn cố gắng học tập tốt lao động tốt để sớm về đoàn tụ với gia đình.

Anh nói theo bài học.

Khi người công an đi vòng vòng để kiểm soát những người thăm nuôi ngồi đàng kia, anh nói nhỏ cho mẹ đủ nghe:

-Đói, ở đây đói lắm, mẹ.

-Ở nhà cũng cực lắm con ơi!

Mẹ và chị anh khóc.

Khi gần đến giờ ra về, người công an đứng lên, nhìn anh rồi nói:

-Mẹ và chị anh ở xa lặn lội đến đây thăm anh, anh đứng lên nói câu gì đi nào, anh hứa với mẹ và chị anh thế nào để anh về đoàn tụ sớm với gia đình, nói đi.

Soaị như người học trò 5 tuổi bị cô giáo bắt đứng lên trả bài. Anh vừa hổ thẹn, vừa tức tối. Nhưng cuối cùng anh cũng đứng lên, cũng cười thật tươi, rồi nói:

-Trước mặt mẹ và chị, con hứa sẽ lo học tập tốt và lao động tốt, để mau đoàn tụ với gia đình.

Anh đỏ mặt lên vì ngượng.

Mẹ và chị cũng đứng lên. Hết giờ thăm viếng.

Hai người lặn lội bốn trăm cây số để vào đây thăm, chỉ gặp được hai mươi phút.

Trên đường xách quà đi về trại, anh quay lại nhìn bốn, năm lần. Bóng bà Khải già nua còm cỏi hắt hiu trên đường, anh thấy thương mẹ quá.

Nước mắt anh chảy ra, Soại khóc vùi, mùi mẩn.

 

 Trần Yên Hòa

(còn tiếp)

Khan cổ gọi tình về. Thơ: Trần Yên Hòa. Nhạc: Nhật Ngân, Bảo Yến hát

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn