DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,399,723

Thành Tôn

Tuesday, November 9, 201012:00 AM(View: 26982)
Thành Tôn


Thành Tôn

thanhton_1_-thumbnail


tên thật Lê Thành Tôn. Sinh ngày 09.9.1943 tại Lộc Phước, Đại Lộc, Quảng Nam. Cựu sĩ quan VNCH. Tù cộng sản từ 1975-1982. Định cư tại California từ 15.01.1997

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Người Tình Sông Thu (thơ, cùng Thái Tú Hạp, Hoàng Quy - phổ biến hạn chế)
  • Thắp Tình (thơ, 1969, Ngưỡng Cửa)

 

Hà Khánh Quân

 

Thắp Tình Thành Tôn



 Mang vinh dự “di sản thế giới” từ năm 1999 bởi Unesco, phố cổ Hội An ngày nay có khá nhiều dáng vẻ lòe loẹt lẫn khoe khoang, dù vóc dáng cùng khuôn mặt thị xã không có nhiều thay đổi. Vào những năm đầu của thập niên 60, trong sự thanh bình của nền đệ nhất cộng hòa, thị dân phố cổ có một đời sống thật an lành, bình dị. Quan hệ giữa người và người như có sợi dây vô hình gắn bó với nhau thật chân tình. Trong không khí hạnh phúc ấy, sinh hoạt nghệ thuật thầm lặng phát triển. Thi ca là nụ hoa hương sắc đã sớm nở giữa những nóc nhà, những vách tường giàu cỏ rêu.

 

  Cửa Đợi, Sông Hoài (1) sông có biết

 

 sông hoài nhìn cửa đợi mà thương

 

 hiểu ra cửa đợi sông hoài đó

 

 lòng đọng nghìn thu nét đẹp buồn

 

 (Hà Khánh Quân)

 

 (1) Dòng sông Hoài xanh mướt, ôm sát gót Hội An còn có tên Sông Thu. Mỹ danh này chợt thành tên khai sinh cho một bút nhóm thật thanh xuân.

 

 Thành Tôn, được kể là một trong tam trụ của nhóm bạn thơ thời bấy giờ. Hình thức văn đoàn, bút nhóm hình như không thật sự thành hình. Nhưng sự giao hảo, trao đổi giữa những người cùng sở thích đã giúp họ cù rũ nhau sáng tác, tạo nên những sản phẩm nghệ thuật. Các tạp chí Bách Khoa, Văn Học, Hành Trình... tại Sài Gòn đã cấp cho Thành Tôn, Thái Tú Hạp, Hoàng Quy rồi Hoàng Lộc... những thông hành chính thức để mỗi người đi vào một đại lộ thi ca riêng.

 

 Sau lưng tuyển tập thơ Sông Thu (của ba người) một thời gian khá dài, năm 1969, Thành Tôn chính thức cho trình diện đứa con-thơ đầu lòng của mình trong im lặng, nhưng lại được biết đến hết sức rộng rãi. Trên kệ sách miền Nam tự do đã có thêm tập thơ Thắp Tình vào tháng 8-1969.

 

 Thắp Tình là một tập thơ rất đặc biệt trong công việc ấn loát. Tác giả của nó đã bỏ tâm huyết và công sức một cách trọn vẹn vào các khâu: trình bày bìa, sắp chữ, đạp máy in, đóng, cắt và phát hành. Công việt thật nhiêu khê, tỉ mỉ như vậy, tôi tin chắc chưa có một nhà thơ Việt Nam nào đủ chân tình và khả năng để thực hiện.

 

 Công việc của chúng ta hôm nay là ngắm và đọc những nâng niu, trân quí của nhà thơ Thành Tôn. Xin bắt đầu từ hình thức.

 

 Bìa tập Thắp Tình, quả thật không giống với bất cứ thi phẩm nào đã có mặt. Nó không màu mè, không phơi phới một khuôn mặt thiếu nữ dưới tay cọ tài hoa nào. Đen không đậm đà. Trắng không trong sáng. Xám không sạch sẽ. Cả ba màu buồn tối ấy hòa hợp với nhau để đỡ những vạch ô, không hẳn chủ nhật, không hẳn hình vuông, nhỏ lớn không đồng đều, nằm bên nhau tạo nên những mắt cáo trầm lặng, u uất. Trên cái nền bìa đầy ưu tư như vậy, tên tác giả, tên tác phẩm được sắp dán bởi những chữ cắt ra từ một tạp chí. Nghệ thuật này có vẻ bà con với loại tranh collage của họa sĩ Hồ Thành Đức. Nhìn chung, không thể không kết luận tác giả tự trình bày bìa chưa tới, dù không non tay. Ngày nay nhìn lại bìa tập thơ, tôi chắc nhiều người cho là thiếu mỹ thuật. Nhưng với thời điểm giữa thập niên 60, trong không khí u uất của cuộc chiến Nam Bắc Việt Nam, bìa tập Thắp Tình quả đã bật mí chút ít cái nội dung đang chứa đựng bên trong. Điều này làm nên khuôn mặt của tập thơ. Và đó chính là mỹ thuật. Quí hơn nữa là do chính bàn tay, tấm lòng của người thi sĩ tạo nên.

 

 Đứng tên xuất bản, ghi trên bìa không là Am Tiêm hay Lá Bối rất thân quen với Thành Tôn mà là Ngưỡng Cửa, một nhà xuất bản tỉnh lẻ do chính Thành Tôn và vài người bạn văn nghệ khác tại Đà Nẵng chủ trương.

 

 Thơ vốn được quí ở cái phẩm. Số lượng thường không được cho là điều đáng quan tâm. Có lẽ vì vậy, nên vóc dáng của những tập thơ có mặt trước đây, đa số đều rất mảnh khảnh. Cụ thể hơn, số trang mỗi một tác phẩm thơ chừng một trăm năm mươi trang trở lại. (đạt được số trang này cũng rất hiếm) . Đã thế mỗi trang thơ thường có những khoảng không gian giấy trống khá lớn. Dễ chừng những con chữ của thơ vốn khó thở, nên những người chăm sóc ấn loát đã rộng lòng. Biết đâu khoảng trống bên dưới những câu thơ cũng đã thành thơ không chừng. Dù gì nhìn những trang chữ thoải mái như vậy, người xem cũng thấy đẹp mắt. Và sự thư giản rõ ràng có hiệu quả,

 

 Tập Thắp Tình của Thành Tôn vừa đúng một trăm trang, một số lượng đạt được điểm chuẩn. Mỗi trang thơ của Thắp Tình, phần nhiều có 8 câu, chia làm hai khổ. Số trang, tên sách cùng tên tác giả được in phía dưới. Hình thức chung này, quả thật làm trang thơ đẹp ra, phân biệt rõ ràng với trang văn, nếu là thơ tự do.

 

 Trong một trăm trang thơ, Thành Tôn chia làm hai chủ đề. Mỗi chủ đề chỉ ghi một số thứ tự thay tên gọi.

 

 Ở chủ đề thứ nhất gồm mười hai bài: Nói Với Con Gái, Hương Đồng Phấn Nội, Hồi Âm, Đầy Tháng Con, Thâm Tạ, Thư Cho Mẹ, Quê Hương Loài Chim, Thư Cho Các Em, Hương Khói, Nói Với Mẹ Từ Đà Lạt, Nghìn Năm Sa Mạc, Chứng Tích.

 

 Thành Tôn đã dùng 12 bài thơ này để phơi trải tấm lòng của mình với những người thân yêu ruột thịt. Muốn sự bày tỏ đạt đến mức tự nhiên và đi vào đại chúng, tác giả đã khéo léo vẽ lên những góc cạnh của quê hương, những nét tang thương nghiệt ngã từ bom đạn để làm nền. Có thơ dành cho mẹ, dành cho con, dành cho anh em, dành cho cả bè bạn. Tất cả được mở ra một cách chân tình.

 

 Mẹ vốn là một nền nhà, một bậc cửa rộng, để những đứa con dù hư, dù nên, dễ dàng trở về quì gối, sướt mướt đổ ra những tâm sự, những dằn vặt, những vui buồn. Mẹ chính là điểm tựa an toàn nhất trước mọi kẻ thù. Mẹ chính là nơi chốn để trút đổ hết những bất tài, bất lực, non yếu, lẫn phẩn nộ của riêng mình. Mẹ không phải là nơi trú ngụ thứ nhất hoặc sau cùng mà là nơi trú ngụ duy nhất và vĩnh viễn của một đời người. Mẹ dù còn sống hay đã quá vãng, con người vẫn luôn có mẹ, dù nhiều khi ta không hề nghĩ đến, không hề nhớ ra. Còn hơi thở vẫn còn có mẹ cha, điều này giúp cho mỗi câu thơ có một cái tâm tuyệt hão nhất. Sẽ khá mơ hồ để hiểu ra cái hồn của thi ca. Nhưng mọi sự trở nên sáng rõ hơn, nếu ta nhận biết một câu thơ giàu tình cảm, nhờ luôn giữ ấm sự thương yêu của đấng sinh thành. Thành Tôn có đến hai bài dành riêng cho mẹ trong mười hai tuyển chọn (phần 1) của anh. Xin được trích bài thứ nhất:

 

  trên xứ sở xanh xao từng tiếng súng

 

 trong hồn người dấu đạn đã chia phe

 

 con ôm ngực từng đêm đau tiếng động

 

 và từng đêm đường máu muốn lui về

 

 

 

 thân sỏi đá len dần trong vô vọng

 

 con quay đầu bỡ ngỡ ngắm dung nhan

 

 cha nhát cuốc tình thương nuôi ý sống

 

 xanh dần lên hương nội phấn hoa ngàn

 

 

 

 mẹ hiu hắt đèn chong đêm ngóng đợi

 

 nhà phên thưa gió thấm lạnh câu hò

 

 núi sông cũng ngậm ngùi theo tay với

 

 của thằng em đói cả tiếng ru hời

 

 

 

 tôi bất lực như quê hương nhỏ bé

 

 nhìn người thân dần khuất bóng tre buồn

 

 nghe nỗi nhớ lớn dần lên dáng mẹ

 

 hình ảnh cha trong xứ sở xa nguồn

 

 

 

 còn ở đó thân gầy tay yếu đuối

 

 làn da nhăn, mái tóc bạc bơ phờ

 

 thư cho mẹ cùng xóm thôn cát bụi

 

 nghe hồn hiền hơi lạnh bốc như thơ

 

 

 

 cha nằm xuống giữa quê hương mòn mỏi

 

 mảnh đất sầu có tiếp thịt xương không ?

 

 mẹ ở lại đớn đau mềm sợi khói

 

 thắp cho lòng ? con cháu ? cho non sông ?

 

 (Thắp Tình trang 32 đến trang 34)

 

 

 

 Bài thơ sáng, dễ hiểu, chắc khỏi cần dựa vào từng câu, để hưởng thụ chuyện “bình thơ”. Tuy nhiên, tôi thấy cần nêu rõ những câu tôi rất yêu thích.

 

 Ở đoạn một, giàu hình ảnh, chữ dùng đơn giản nhưng thích hợp, mở rõ ra một chiếc cuộc trường kỳ với sự cam chịu của con người. Câu thứ nhì hay nhất đoạn này, nói rõ sự phân chia, thù hận bắt nguồn từ đâu. Trong khi đó câu thứ tư có một chút gì không sáng lắm.

 

 Ở đoạn hai, câu thứ ba hay nhất.

 

 Và đoạn 3 là đoạn, theo tôi, hoàn hão nhất của bài thơ:

 

 mẹ hiu hắt đèn chong đêm ngóng đợi

 

 nhà phên thưa gió thấm lạnh câu hò

 

 núi sông cũng ngậm ngùi theo tay với

 

 của thằng em đói cả tiếng ru hời.

 

  Hình ảnh thật tuyệt vời, theo nhạc điệu sắp chữ của câu thơ. Mẹ hiu hắt/ đèn chong/ đêm ngóng đợi. Sự hiu hắt mơ hồ của mẹ như nhập vào sự hắt hiu của ngọn đèn yếu mỏi vì chờ đợi. Động từ chong trong câu không chỉ nói lên ngọn đèn được thắp sáng mãi, mà còn vẽ rõ tấm lòng người mẹ vẫn đang thắp sáng với những mong đợi, nhớ nhung.

 

 Hình ảnh trong câu thứ hai còn tuyệt vời hơn. Câu hò của mẹ chợt có da thịt, linh hồn để cùng chia xẻ cái lạnh lẽo từ một vách phên không ngăn được cơn gió về đêm.

 

 Câu ba và câu bốn đi cùng một hơi thơ, tô đậm cái nghèo nàn, thiếu thốn trong chiến tranh. Động từ đói ở câu bốn, nói theo lối nói Việt Nam bây giờ, là “trên cả tuyệt vời”. Xin được lẩm cẩm thêm, một chút. Từ với sau danh từ tay là động từ, không phải là giới từ (ai mà không hiểu ?). Với tiếng Quảng Nam thường dùng là vói.

 

 

 

 Ở đoạn thứ 5: “còn ở đó thân gầy tay yếu đuối...”, trong bản in, trang 34 câu thứ hai, in là: “làn da nhen, mái tóc bạc bơ phờ”. Tôi nghĩ có sự nhầm lẫn khi sắp chữ, nên tự ý sửa chữ nhen thành nhăn. Thành Tôn thường dùng chữ chính xác và chính anh sắp chữ cho bản in, nên xin được hỏi lại. Theo tôi, chữ nhăn ở đây là nhăn nheo thay vì nhen nhúm.

 

 Bài thơ thư 2 dành cho mẹ, cũng thuộc thể thơ tám chữ. Giàu hình ảnh là ưu điểm của thơ Thành Tôn. Sự tài hoa của anh còn ở khả năng rất thơm tay trong việc từ hình ảnh lồng vào sự liên tưởng rất bén nhạy và linh động:

 ... “tình cấy xuống đất phì nhiêu ý sống...”

 ... “suối mồ hôi cha mẹ kết nên tình...”

 ... “mọc thơ ngây trong ý đất tình người...”

 

 Thành Tôn hình như sớm bị mất cha, nên không thấy anh dành bài nào cho thân phụ. Tuy vậy, trong những bài viết về mẹ, gần như không bao giờ anh quên nhớ và nhắc đến bậc trượng phu đội trời đạp đá này.

 

 Lòng kính yêu cha mẹ thật vô cùng, nên dù viết thơ cho những đứa em, về những đứa em, anh cũng không quên nhắc nhở đến mẹ cha. Sự nhắc nhở, thương nhớ trở thành một điệp khúc, lặp đi, lặp lại, không chỉ để đám em của anh nghe mà còn để chính người làm thơ nghe lại đáy tình mình:

 

  các em lớn bay xa tìm lẽ sống

 

 trời đầy mây, bão sẽ đến khôn cùng

 

 thấy ở đó tóc tang rừng biển động

 

 anh lưng hồn quê nội mắt rưng rưng

 

 

 

 thấy ở đó quê hương mình lớn dậy

 

 bàn tay cha, quang gánh mẹ theo đời

 

 giọng hát cũng ngại ngùng như mắt thấy

 

 gói âm thanh làm ánh sáng mặt trời

 

 

 

 thấy ở đó hình ảnh cha mỏi mệt

 

 luống cày sâu, cây trái ngọt sum vầy

 

 tình nhỏ xuống làm phân nuôi đất chết

 

 nên ngậm ngùi chút nắng vẽ chân mây

 

 

 

 thấy ở đó mẹ già theo xóm chợ

 

 tóc hoa bay thao thức tiếng ru hời

 

 chúng mình lớn lên giữa nhiều nức nở

 

 giọng âm thầm tay mẹ ngọt tao nôi

 

 

 

 thấy ở đó cả một rừng trăng sán

 

 cả một trời cao, biển rộng, sông dài

 

 và ở đó mây chiều che rối trán

 

 cha mẹ giờ nước mắt chảy theo vai

 

 

 

 anh trở lại con phố buồn bật sáng

 

 tóc ai bay vẽ chiều nét hoang đường

 

 quê hương đằng sau với nhiều vết đạn

 

 mảnh hồn làng nhàu nát nếp yêu thương

 

 (từ trang 39 đến trang 41)

 

 

 

 Với bằng hữu, Thành Tôn, vẫn dành một giọng thơ chân tình thật riêng của anh, với thể thơ tám chữ đều tay. Nhà thơ Nguyễn Nho Sa Mạc đột ngột qua đời tại Đà Nẵng năm 1964. Một năm sau anh có bài Nghìn Năm Sa Mạc. Đây có lẽ là bài duy nhất, Thành Tôn viết về bè bạn, dù gia tài bạn bè của anh đồ sộ không kém gì những bạn văn thơ cùng thời.

 

 người nằm xuống hoang vu hồn sỏi đá

 

 có nghe chăng lời nói hắt hiu này

 

 kẻ ở lại nhìn đời e thẹn mặt

 

 nên vô cùng mỏi mắt cánh chim bay

 

 

 

 còn một chút buồn vươn lên cỏ mọc

 

 một chút hồn thất lạc phố tình xưa

 

 thấy gì khác hơn giọng cười tiếng khóc

 

 chợt bâng khuâng xanh vầng mắt giao mùa

 

 

 

 một năm đó còn gì trong cỏ mộ

 

 tình đã đi ai kẻ nhớ về thăm

 

 còn âm hưởng bước chân mòn mấy phố

 

 cũng ngậm ngùi như hơi thở xa xăm

 

 

 

 người nằm xuống giữa vô cùng sa mạc

 

 chiếc hồn thơ bé bỏng ghé nơi nào

 

 ai thắp khói cho bóng chiều râm mát

 

 để canh trường thao thức mấy vị sao

 

 

 

 còn nhớ gì khi mùa xuân tìm đến

 

 khi tình yêu đánh thức giấc nghìn năm

 

 làm, chút nắng vàng che dòng mắt thẹn

 

 nghe hoang vu hồn sa mạc yên nằm

 

 (trang 49 và 50)

 

 Đọc xong bài thơ trên, tôi thèm được là bạn của Thành Tôn. Thèm được một ngày nào đó khi xuôi tay, nhắm mắt, anh viết tặng cho đôi câu. Chỉ một đôi câu thôi tôi đã mãn nguyện. Bởi vì thơ Thành Tôn, chỉ cần đọc một vài câu đã thấy thú vị. Không tin, mời bạn đọc lại:

 

 “ai thắp khói cho bóng chiều râm mát”

 

 Hình ảnh này đâu dễ bắt gặp, nếu chúng ta không có nhiều dịp ở nông thôn. Và cho dẫu chúng ta thưởng ngoạn những đám khói rơm cao ngất, trên một cánh đồng rộng sau mùa gặt, mà không có con mắt thơ cũng dễ gì nhận ra. Câu chữ của Thành Tôn giản dị, nhưng chất thơ thì vô cùng.

 

 hoặc:

 

 “một chút hồn thất lạc phố tình xưa”

 

 Cái ngậm ngùi lâng lâng cứ thấm dần vào lòng người đọc một cái êm ái nhưng sâu thẳm. Hơi thơ nhẹ nhàng nhưng dây dưa vô cùng tận. Câu thơ này dùng được cho nhiều hoàn cảnh khác nhau, tôi tin rằng người đọc thơ sẽ nghiệm thấy.

 

 Tóm lại với chủ đề tình người và quê hương, chúng ta thấy Thành Tôn rất xuất sắc trong giọng thơ nhắc nhở, kể lể. Sự tỉ mỉ, tường thuật của anh, càng lúc càng thân mật đậm đà. Những hình ảnh anh nhắc nhớ, những tên gọi mộc mạc anh nêu lên, gói ghém tất cả chân tình của một người vốn nặng lòng với bốn chữ hương đồng phấn nội:

 

  “...tất cả ngày xưa, chừ là kỷ niệm

 

 bên trâu dầm, cầu Bà Đội... tang thương

 

 vì bởi thời gian một lòng quyết chiếm

 

 cả chúng mình. Cả bướm. Cả chim muông

 

 

 

 nào Bích, nào Ngân, nào Hà, nào Tố

 

 đã không còn vết tích của ngày xanh

 

 mà lại Ngọc Bích, Thu Hà... rất ngộ

 

 đang bôn ba trên mấy nẻo kinh thành

 

 

 

 và những Đào tong, Thi gầy, Hải móm

 

 cũng lên đường dẹp loạn giữ quê hương

 

 như anh biết tre tàn măng sẽ nhóm

 

 câu hát: à ơi...vẫn quyện trong sương

 

 ... 

 

 (Hồi Âm, trang 21-24)

 

  Đợt khói lam chiều tương tư mái rạ

 

 anh thấy gì trong đó hay không ?

 

 nếp sống bình yên màu xanh sắc lá

 

 gói ghém cuộc đời nắng hạ mưa đông

 

 

 

 tản bộ nhàn du dừng chân xóm Hạ

 

 mới thấy cảm nhiều luyến mến quê hương

 

 những túp lều tranh ấm tình thôn dã

 

 tô đắp cuộc đời một nắng hai sương

 

 

 

 sáng ra đồng những bác Tư cày cuốc

 

 trong trường làng những thằng Út ê a...

 

 vọng từ ruộng dâu tiếng hò quen thuộc

 

 giọng những cô Lài trầm bổng gần xa

 

 

 

 sau cửa hoàng hôn đèn dầu lụn bất

 

 tất cả như vừa quên mọi âu lo

 

 áo vá quần khâu gói tròn chân thật

 

 niềm thương yêu len lỏi giữa câu hò

 

 

 

 trống sớm làng Trung, chuông chùa xóm Thượng

 

 tiếng quê hương vang vọng tháng năm dài

 

 giọng hát : à ơi...chảy tràn tám hướng

 

 tiếng nói cuộc đời khoan nhặt êm tai

 

 

 

 những thứ ấy những hương đồng phấn nội

 

 tô điểm cuộc đời thầm lặng thêm duyên

 

 dù nắng rào đường, dù mưa chắn lối

 

 chốn quê tình vẫn đậm nét trinh nguyên

 

 

 

 nếp sống bình yên màu xanh sắc lá

 

 gói ghém cuộc đời nắng hạ mưa đông

 

 đợt khói lam chiều tương tư mái rạ

 

 anh có thấy gì trong đó hay không ?

 

 (Hương Đồng Phấn Nội trang 17- 20)

 

 

 

 Đọc thơ như thấy ngay trước mắt mình một làng quê nội, hay một thôn quê ngoại từ cái thuở xa xưa thanh bình. Cảnh đẹp, người chân tình, thật khó có thể gặp ở đâu ngoài làng quê Việt Nam, trong thời được học Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Bài thơ trên của Thành Tôn không khác gì một bài học thuộc lòng, mà chúng ta đã được trải qua một thời. Quá khứ ở trước mặt, nhưng khó có thể chạm được, ngoài sự hình dung phong phú. Để viết được, tôi chắc rằng Thành Tôn rất giàu kỷ niệm với nông thôn, ngoài ra anh còn có khả năng hình dung và tưởng nhớ rất phong phú.

 

 Sẽ thiếu sót, nếu không trích thêm một đoạn nhỏ anh viết cho đứa con gái thân yêu đầu lòng (ngày nay đã là một nữ bác sĩ y khoa, hành nghề tại Sài Gòn)

 

 “...Một tháng ra đời điều gì con thấy

 

 điều gì con nghe con khóc con cười

 

 cha ở phương xa mặt trời thức dậy

 

 cha ở phương xa súng nổ ngậm ngùi

 

 

 

 con sinh ra đời nhà thương giải phẩu

 

 nhà thương dành cho cuộc chiến bây giờ

 

 tiếng con khóc hòa tiếng la tiếng ré

 

 anh cụt tay, chị què cẳng không ngờ...

 

 ...

 

 đúng ba mươi ngày trong tầm cuộc sống

 

 chuyền tay thương yêu nội ngoại vui vầy

 

 trên xóm làng ta ì ầm tiếng súng

 

 khoảng trống quê hương con lấp sao đầy

 

 (Đầy Tháng Con)

 

 

 

 Từ thế giới hiện thực, giàu kỷ niệm và hình ảnh ở phần một, Thành Tôn bước qua phần hai với những suy tưởng, ưu tư của một thanh niên trước thân phận của đất nước và con người. Thơ có hơi thở của lý luận, lãng đãng những nhân sinh quan. Chỉ đọc 14 tựa bài : Miền Cư Ngụ, Cuộc Tôi, Tội Đồ, Vào Lòng Đất, Giả Dụ Cho Một Người, Tinh Thể, Cuộc Đuổi Bắt, Gỏ Cửa Đời, Cúi Xuống, Cuối Cuộc Kiếm Tìm, Ranh Giới, Gọi Tên, Tiếng Động, Thuyết Giáo, chắc chúng ta cũng sớm hình dung ra sự thay đổi trong tư duy và ngôn từ thơ Thành Tôn.

 

 

 

 Miền Cư Ngụ mở đầu cho chùm thơ này như sau:

 

 

 

 1.

 

 Bước chân đuổi theo cùng ngày tháng

 

 con đường vòng không dẫn đến đâu

 

 muốn soi mặt mình gương đã rạn

 

 tôi trở về tôi như vực sâu

 

 

 

 tôi thỏa thuận xác thân miền cư ngụ

 

 nhận sống đời như chuyện đã đành

 

 cha mẹ anh em cùng ngôn ngữ

 

 trao đổi nhau như dĩ nhiên

 

 

 

 2.

 

 kể từ đó đứng ngồi cho phải phép

 

 vô lẽ nằm khi thiên hạ đi

 

 cũng có lúc tưởng mình lộn kiếp

 

 nhìn tay chân mặt mũi nghĩ hơi kỳ

 

 

 

 đặt câu hỏi cho từng người đã gặp

 

 nhưng lạ thay, bị từ chối cảm thông

 

 nên trở về tôi thằng lạ mặt

 

 trở về tôi cùng một chiếc gông

 

 

 

 làm kẻ lưu vong trên thây xác

 

 có đứng đi đâu ý định riêng

 

 phải sống là đầu hàng cái chết

 

 sao tranh dành nhau một miếng ăn

 

 

 

 3.

 

 bây giờ tôi như kẻ tử thương

 

 nén cái nhìn tật nguyền lên thân thể

 

 tay có cụt tôi ôm em bằng môi

 

 chân có què tôi đi bằng hai vế

 

 

 

 4.

 

 đến trăm tuổi đời, tôi ngã xuống

 

 sống đã khôn thì thác phải thiêng

 

 thôi giả từ anh em nó về đất

 

 tôi rời tôi như một chiếc tên

 

 (từ trang 55 đến trang 58)

 

 

 

 Đọc thơ, tôi cảm được cái lạ, cái mới, nhưng nắm được ý chính của tác giả thật chính xác thì phải thú thật chưa đủ khả năng. Đại khái cũng chỉ nghiệm thấy mơ hồ:

 

 Miền Cư Ngụ có lẽ chính là cuộc đời. Và cuộc đời của tác giả, đang ở vào thập niên 60, đầy biến động, máu lửa, dấy lên từ chiến cuộc quốc cộng. Con người vốn khó hướng dẫn, quyết định số phận của riêng mình, nên càng sớm trở thành bất lực. Nhịp quay của chiến tranh, kéo bừa chúng ta đi không ngừng nghỉ. Dẫu có ý thức hay không đánh giá được cuộc chơi, chúng ta bắt buộc phải tham dự. Sự bất lực trở thành bất mãn và buông xuôi. Cuộc sống từ đó chóng trở nên vô nghĩa. Những cử động, những hít thở trở thành những động tác cho phải phép vì nhận sống đời như chuyện đã đành.

 

 Tuổi trẻ là giới trực tiếp tham gia vào chiến cuộc. Tiếng nói của súng đạn cộng thêm ít nhiều triết lý hiện sinh từ phương Tây, đã ảnh hưởng trực tiếp đến giới thanh niên tại các đô thị miền nam Việt Nam. Từ đó họ thường trực tưởng mình đang mang những chiếc gông ngàn cân (“tôi trở về tôi cùng một chiếc gông”), hoặc tệ hại hơn nữa là sống trong ám ảnh làm kẻ lưu vong trên thây xác/ có đứng đi đâu ý định riêng/ phải sống là đầu hàng cái chết..

 

 Những ưu tư “bây giờ đau nỗi phân thân/ nặng vai âm phủ nhẹ chân địa đàng...” (cuộc đời) ăn nằm thường trực trong một số trí thức, mang cái “mốt suy tư cuộc chiến” đã làm tầm mắt họ nhìn đi đâu cũng gặp những “ranh giới” đại loại như:

 

 

 

 Vui riêng, cười lẻ, khóc thầm

 

 đời sao sống vậy hồi âm cõi nào

 

 vô ra nhạt bóng lao đao

 

 co thân thủ thế trông vào những đâu

 

 nhện buồn chỉ đó canh thâu

 

 lưới chăng hồn dựng mắt sầu nhặt thưa

 

 tôi lui chân lạc tay thừa

 

 mẹ cha cũng vậy nên chưa hiểu giùm

 

 xuống lên trời tận đất cùng

 

 anh em ngày một muôn trùng cách xa

 

 máu hồng mạch sẻ lần qua

 

 bàn chân vỉa phố một ta kẻ chờ

 

 dây dưa chắp nẻo ơ thờ

 

 ngọn đèn chứng dám cũng mờ bóng quen

 

 sống không tiếng động thân hèn

 

 lại qua cũng vậy chi bằng thu thân

 

 đi, về bóng lạ bàn chân

 

 dòng sông nghiệp dĩ tiếp dần biển khơi

 

 quanh co nghĩ rộng đất trời

 

 cái tôi hiện hữu một thời vong nô

 

 khép dần cánh cửa hư vô

 

 thân chưa nhập thế cơ hồ cách xa

 

 (ranh giới, 83-85)

 

 

 

Thành Tôn nghĩ, Thành Tôn viết, có thể cho thế hệ của anh, nhưng trong đó chưa hẳn có cá nhân anh. Con người của nghệ thuật thi ca, đỡ bàn tay anh viết được những bài thơ mang dấu tích một thời kỳ lắm hận thù:

 

 Tôi rảo bước trên sợi giây ngờ vực/ nhưng lạ thay vẫn giữ được thăng bằng/ tôi giả lơ với tôi từng uẩn khúc/ tra hỏi mình phải sống đây chăng

 

 nó đã đến trú nơi tôi từng bữa/ và tò mò lục lạo nỗi ưu tư/ tôi nhẵn túi có gì đâu đời sống/ tóc đã thưa dần râu đã hư

 

 tôi rờ khắp châu thân rồi tự hỏi/ có tay chân mặt mũi cũng tình cờ/ ở trong đó âm thầm vang tiếng gõ/ và máu hồng chắc cũng hư vô

 

 tôi tra gạn tôi như cuộc chiến/ không lý do trên số phận con người/ sống lẩn lút để thấy mình hiển hiện/ mãi rồi quen nghĩ cũng vui

 

 khi bắt gặp tôi thấy mình ủy mị/ thân cong vòng uốn dấu hỏi bâng quơ/ gương trước mặt vô tình không tráng thủy/ nên lập lờ tôi nỗi hư vô

 

 (Cuối Cuộc Kiếm Tìm, 81 - 82)

 

 Trên mỗi tấm thân xem đã nặng/ hai vai sầu đeo nhánh tử sinh/ bởi có mặt anh tôi hiện diện/ nhưng mỗi chúng ta là cõi riêng

 

 sống không là cõi phúc/ chết đâu nỗi cực thân/ đứng đi như trò bấm nút/ không là nhau nhưng chấp nhận chung

 

 cần có mặt nhau như tấm kiếng/ sao hóa trang thêm những râu/ khi mở mắt biết mình sẽ nhắm/ tranh dành chi nỗi thiệt hơn

 

 Đời chưa đủ giả dối/ sao còn đeo mặt nạ chung thân/ sống là thu vào trong chiếc vỏ/ ta vẫy vùng cho nó lăn

 

 làm người không lựa chọn/ diệt sinh đâu là chuyện tiên thiên/ mỗi chúng ta còn đeo thêm chiếc bóng/ dãn co và lẩn quẩn trong chân

 

 không là anh nếu tôi vắng mặt/ sống là soi vào nhau/ đừng sắp chúng ta thành công cụ/ đã đành là động vật như ai

 

 hãy cúi xuống gõ bốn chân như ngựa/ hãy đứng lên từng bước như đười ươi/ cử động đó đâu là ta có phải/ bởi sống đời không luận suy

 

 Tôi bắt tay anh chắc gì thân thiện/ nhưng đâu thù nghịch nhau/ sống là dửng dưng xoay hai mặt/ sấp ngửa gì cũng chung

 

 (Thuyết Giáo, 97-100)

 Con người đời thường vẫn giữ Thành Tôn đứng với số phận cam chịu, hoặc có thể tích cực, trong sáng hơn. Bởi anh đã tham dự vào cuộc chiến một cách bình tĩnh, và chu toàn trách nhiệm của một thanh niên rất khả quan. Xuất thân từ khóa 25 Bộ Binh Thủ Đức, người con của Lộc Phước, Đại Lộc, Quảng Nam, từng được tập trung cải tạo trong các lò trả thù từ 1975 đến 1982, rồi được bứng ra khỏi quê hương. Mừng thay cái nôi thơ anh vẫn luôn mang theo bên mình.

 

 quê hương là một cái nôi

 

 đặt trong lòng thuở chào đời, muôn năm

 

 đi đâu cũng vẫn ngồi nằm

 

 trong nôi, trong cái tấm lòng quê hương

 

 (Hà Khánh Quân)

 

 

 

 

 

 

 

Hà Khánh Quân

 

 

 

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, October 24, 202012:15 PM(View: 25)
Khi chỉ mới đọc truyện đầu tiên, truyện mang tên của tựa đề cuốn sách, Mặt Trận Ở Sài Gòn của Ngô Thế Vinh, tôi đã có ước muốn, được hỏi ngay, những anh hùng mà ông
Thursday, October 22, 20208:56 AM(View: 92)
Phan Nghị là nhà báo, vừa là tay chơi, cái gì anh cũng biết, cũng thử chơi qua, nên sự hiểu biết của anh dồi dào. Dân Hà Nội chính hiệu, không ngón ăn chơi nào ở Hà Nội anh không biết, từ phố thịt chó đến nơi ăn chơi khác.
Tuesday, October 20, 20204:34 PM(View: 95)
Dẫu cuộc tang hồ anh đã rong rêu như kiếp rừng dã thảo, thời gian đã loang lỗ
Saturday, October 17, 20209:33 AM(View: 162)
Như mọi weekend, vừa uống xong ly cà phê sáng, nhìn ra đường, đã thấy vợ chồng Nghiêu Đề dừng xe sát lề, trước nhà. Chàng mở cửa xe xuống trước, chờ vợ tắt máy, xem lại dung nhan qua kính chiếu hậu
Thursday, October 15, 20208:19 AM(View: 225)
Tôi đã đến với “TÔI CÙNG GIÓ MÙA” của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, bắt gặp “Mưa ở đây như mưa ở quê nhà” để cùng chia sẻ với ông một đoạn đời “mưa” khốn khó, khi ông đang như con chim bay trên bầu trời rộng