DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,846,762

Xã Hội VN: Hơn 2.000 người “đu dây” qua sông - Tin RFA

16 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 6670)
Xã Hội VN: Hơn 2.000 người “đu dây” qua sông - Tin RFA

Tin RFA

Bản tin tối 15-11-12

Bản tin sáng 16-11-12

Quảng Ngãi: Hơn 2.000 người “đu dây” qua sông


Từ trung tâm huyện Sơn Hà, vượt hơn 30km sẽ đến xã nghèo Sơn Ba, nơi có con sông Re chảy vào lòng xã. Khi sông Re hiền hòa, 629 hộ dân phải “đu dây” qua sông. Khi con lũ ập về, 6 thôn trong xã bị cô lập hoàn toàn.


du_day_1-content


Những học sinh treo tính mạng trên một sợi dây, qua sông học chữ



Có dịp đến xã Sơn Ba trong những ngày mưa giữa tháng 11/2012, PV Báo không khỏi thót tim khi cùng người dân và các học sinh ngồi chênh vênh trên chiếc bè gỗ, bên dưới có chằng săm xe ô tô làm phao, vượt qua sông Re. Hành khách trên bè cùng chủ bè con người vít vào sợi dây thừng vắt ngang sông để lấy lực đưa chiếc bè rộng chưa đầy 4m2 sang bờ bên kia.

Xã Sơn Ba có 6 thôn phải qua sông gồm thôn Làng Già, Làng Chai, Mò O, Làng Bung, Kà Khu và Gò Da, với 629 hộ, tương ứng với 2.533 nhân khẩu, trong đó học sinh phải qua sông Re đi học là 234 em, đa phần là con em người H’re.

Thầy Trần Duy Hùng - Hiệu trưởng trường THCS Sơn Ba - tâm sự: “Sau buổi học, các em phải đi bộ gần 2km mới đến điểm đu dây qua sông Re về nhà. Khi mưa lớn, nước lũ từ đầu nguồn đổ về rất hung dữ, nhìn thấy các em qua sông mà lòng tôi lo lắng”.



du_day_2-content

Chênh vênh và hiểm nguy



Theo quan sát của PV Báo, dọc con sông Re thuộc xã Sơn Ba có khoảng 7 điểm kéo dây nối hai bên bờ sông. Dây được nối rất đơn sơ với trụ cây hay bụi tre, nhưng là điểm tựa bao lâu nay của hàng ngàn con người.

Là người đưa khách sang sông với chiếc bè tự tạo và di chuyển bằng cách “đu dây”, ông Đinh Văn La (ngụ thôn Làng Bung) cho biết: “Khi mực nước lên khoảng 30cm nữa thì không thể kéo bè được, chỉ dùng ghe đi qua thôi, nếu nước lũ là không qua được. Mỗi người dân đi qua thường đóng lệ phí 2.000 đồng, có thêm xe máy là 4.000 đồng, riêng học sinh thì tôi

không lấy tiền”.

Các học sinh nơi đây không chỉ lo học cái chữ mà còn lo chuyện sáng đi trưa về, tính mạng các em chênh vênh giữa dòng sông Re. Những lúc dòng lũ ập đến đột ngột, nhà trường phải lo nơi ăn chốn ở cho các em tá túc tạm thời, chờ nước lũ lắng dịu mới cho các em trở về nhà.

“Toàn xã chỉ có 1.007 hộ nhưng số hộ dân bên kia sông chiếm hơn 60%, mỗi khi dòng sông chảy xiết, các học sinh lẫn người dân phải ở lại bên này, chúng tôi phải mượn tạm trường học làm nơi ở và vận động nguồn lương thực giúp bà con. Xã Sơn Ba nằm ở nơi hẻo lánh, tài chính có hạn nên khó khăn đủ bề. Người dân ở đây mơ ước có một chiếc cầu treo để đi lại thuận lợi, kể cả lúc bão lũ”, ông Đinh Văn Nã - Bí thư Đảng ủy xã Sơn Ba - chia sẻ.


du_day_4-content

Mối nối rất sơ sài


Là người dân của xã Sơn Ba, bà Nguyễn Thị Thu Trinh (60 tuổi, ngụ thôn Làng Bung) nói: “Trước đây có chiếc cầu bằng cây nhưng khi mùa mưa đến, nước lũ cuốn trôi và ảnh hưởng tính mạng người dân. Khi cây cầu trôi, người dân chuyển sang dùng bè rồi đu dây qua sông, thế nhưng cũng có nhiều lần cả xe máy lẫn người bị rơi xuống sông rất nguy hiểm”.

“Em ước mơ có cây cầu đi qua sông, chúng em sẽ không sợ hãi mỗi khi lũ ập đến đột ngột và không sợ thiếu ăn, thiếu mặc nữa”, em Đinh Văn Sợ - học sinh lớp 7B trường THCS Sơn Ba) tâm sự.

Từ trung tâm huyện Sơn Hà, vượt hơn 30km sẽ đến xã nghèo Sơn Ba, nơi có con sông Re chảy vào lòng xã. Khi sông Re hiền hòa, 629 hộ dân phải “đu dây” qua sông. Khi con lũ ập về, 6 thôn trong xã bị cô lập hoàn toàn.

Nghệ An: Đoạn trường 20 năm bị bán sang Trung Quốc làm vợ lẽ

A- A A+ ‹Đọc›

Sau 20 năm làm nô lệ ở xứ người, bà Đào Thị H. (xã Hậu Thành, Yên Thành, Nghệ An) không dám tin có ngày mình còn được trở về nơi chôn nhau cắt rốn, gặp lại những đứa con mình đứt ruột đẻ ra.


Những người hàng xóm tới chia vui khi bà Đào Thị H. trở về sau 20 năm lưu lạc
Những người hàng xóm tới chia vui khi bà Đào Thị H. trở về sau 20 năm lưu lạc

Chuyện bà H. trở về sau 20 mất tích không còn “nóng” như trước đây nữa nhưng hành trình 20 năm đau khổ, tủi nhục của bà thì vẫn là câu chuyện được người dân truyền tai nhau bởi sự ly kỳ của nó. Một buổi sáng tinh sương, bà đứng trước ngôi nhà mà đúng 20 năm trước bà đã cất bước ra đi trong đêm tối. Bà cất tiếng gọi những đứa con mà ngỡ như không phải đang gọi bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình bởi quãng thời gian sống khổ nhục bên Trung Quốc, bà không được nói bằng ngôn ngữ quê hương.

Nghe tiếng gọi, những đứa con của bà mở cửa chạy ra, ngơ ngác nhìn. Người đàn bà gầy gò, tiều tụy đứng trước mặt họ 20 năm qua đã không hiện diện ở căn nhà này. Bà ra đi trong một đêm tối trời. Từ đó tới giờ không tin tức, chẳng ai biết là bà còn sống hay đã chết. Sau cái phút giây ngơ ngác ấy là cuộc trùng phùng đẫm nước mắt của những con người cùng chung huyết thống. Bà trở về trong vòng tay gia đình sau 20 năm lưu lạc xứ người.

Câu chuyện 20 năm lưu lạc của bà được tái hiện bằng những giọt nước mắt. Quãng đời ấy bà không bao giờ muốn nghĩ đến. Tất cả cũng chỉ bởi bà quá nhẹ dạ, cả tin…

Mẹ mất sớm, cha đi bước nữa, bà trải qua tuổi thơ cay đắng cơ cực của phận “mẹ ghẻ con chồng”. 31 tuổi, quá lứa lỡ thì, bà nhận lời làm lẽ một người đàn ông hơn cả tuổi cha mình để thoát khỏi căn nhà ấy. 2 đứa con đủ nếp đủ tẻ ra đời giúp bà hoàn thành được tâm nguyện “kiếm đứa con trai” của chồng. Nhưng cũng chẳng vì thế mà cuộc sống của bà đỡ vất vả, nhọc nhằn. Ngày ngày, bà bươn chải với công việc đồng áng, ruộng vườn để nuôi con chồng, con mình và chăm người chồng già yếu.




Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=500271#ixzz2CPwc9c9m
http://www.xaluan.com/


Nghệ An: Đoạn trường 20 năm bị bán sang Trung Quốc làm vợ lẽ


Sau 20 năm làm nô lệ ở xứ người, bà Đào Thị H. (xã Hậu Thành, Yên Thành, Nghệ An) không dám tin có ngày mình còn được trở về nơi chôn nhau cắt rốn, gặp lại những đứa con mình đứt ruột đẻ ra.

 

no_le_1-content
Những người hàng xóm tới chia vui khi bà Đào Thị H. trở về sau 20 năm lưu lạc


Chuyện bà H. trở về sau 20 mất tích không còn “nóng” như trước đây nữa nhưng hành trình 20 năm đau khổ, tủi nhục của bà thì vẫn là câu chuyện được người dân truyền tai nhau bởi sự ly kỳ của nó. Một buổi sáng tinh sương, bà đứng trước ngôi nhà mà đúng 20 năm trước bà đã cất bước ra đi trong đêm tối. Bà cất tiếng gọi những đứa con mà ngỡ như không phải đang gọi bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình bởi quãng thời gian sống khổ nhục bên Trung Quốc, bà không được nói bằng ngôn ngữ quê hương.

Nghe tiếng gọi, những đứa con của bà mở cửa chạy ra, ngơ ngác nhìn. Người đàn bà gầy gò, tiều tụy đứng trước mặt họ 20 năm qua đã không hiện diện ở căn nhà này. Bà ra đi trong một đêm tối trời. Từ đó tới giờ không tin tức, chẳng ai biết là bà còn sống hay đã chết. Sau cái phút giây ngơ ngác ấy là cuộc trùng phùng đẫm nước mắt của những con người cùng chung huyết thống. Bà trở về trong vòng tay gia đình sau 20 năm lưu lạc xứ người.

Câu chuyện 20 năm lưu lạc của bà được tái hiện bằng những giọt nước mắt. Quãng đời ấy bà không bao giờ muốn nghĩ đến. Tất cả cũng chỉ bởi bà quá nhẹ dạ, cả tin…

Mẹ mất sớm, cha đi bước nữa, bà trải qua tuổi thơ cay đắng cơ cực của phận “mẹ ghẻ con chồng”. 31 tuổi, quá lứa lỡ thì, bà nhận lời làm lẽ một người đàn ông hơn cả tuổi cha mình để thoát khỏi căn nhà ấy. 2 đứa con đủ nếp đủ tẻ ra đời giúp bà hoàn thành được tâm nguyện “kiếm đứa con trai” của chồng. Nhưng cũng chẳng vì thế mà cuộc sống của bà đỡ vất vả, nhọc nhằn. Ngày ngày, bà bươn chải với công việc đồng áng, ruộng vườn để nuôi con chồng, con mình và chăm người chồng già yếu.

 Quần quật luôn tay nhưng cái đói, cái nghèo cứ bám riết lấy gia đình bé nhỏ. Đứa con út lên 2 nhẳng nheo như cây sậy bởi thiếu ăn, khóc ngằn ngặt suốt ngày. Bởi vậy, khi một người phụ nữ làng bên (đến giờ bà cũng chẳng còn nhớ mặt, nhớ tên) ngỏ ý giúp tìm một công việc nhẹ nhàng mà thu nhập ổn định bằng cách ra Hà Nội làm giúp việc, bà tin và đồng ý đi theo ngay.

Đêm khuya, đang ôm con ngủ thì người phụ nữ kia gọi cửa. Không kịp từ biệt chồng con, vơ vội mấy bộ quần áo, bà lặng lẽ đi vội vì sợ tới muộn sẽ không xin được việc. Không ngờ rằng lần ra đi vội vã ấy kéo dài biền biệt tới 20 năm sau bà mới có cơ hội quay về.

Trở lại với chuyến đi đêm đó, bà bị đưa tới biên giới Việt - Trung, bị trao cho một người đàn ông trung niên. Ông kia đưa bà đi xuyên rừng đến một căn nhà rách. Lúc này bà mới biết mình đã bị bán làm vợ cho một người nghèo kiết xác bên Trung Quốc. Những ngày đầu bà chỉ khóc và luôn tìm cách trốn chạy. Biết được, người chồng mới đánh bà thừa sống thiếu chết.

Sau nhiều lần bỏ trốn bất thành, bà chấp nhận cuộc đời làm vợ, làm nô lệ ở đất khách. Bà làm việc quần quật từ sáng tới tối nuôi cả nhà chồng nhưng hễ có điều gì không vừa lòng, gã chồng thô lỗ lại trút trận mưa đấm đá xuống thân hình tiều tụy của vợ. Khi bà sinh một cô con gái, chồng bà cũng bớt kiểm soát hơn. Bà được nói chuyện với những người cùng xóm.

Ý định bỏ trốn vẫn nung nấu trong đầu người phụ nữ này. Một ngày, bà gặp một người phụ nữ quê Hải Dương cũng bị lừa bán sang đây làm vợ. Cùng cảnh ngộ, thấu hiểu những nỗi đau đớn, cùng cực của phận nô lệ, hai người lên kế hoạch bỏ trốn.

Bà mất mấy năm trời tích góp từng xu tiền lẻ để làm lộ phí, tranh thủ những lần được ra chợ huyện để tìm cho mình con đường thoát thân. “Quyết định bỏ trốn, tôi bị dằn vặt rất nhiều bởi đứa con gái mang quốc tịch Trung Quốc. Dẫu sao nó cũng là con tôi, là máu mủ, ruột rà, dứt đi răng được. Nhưng mà đưa nó theo thì không thể. Sau nhiều lần đắn đo, tôi quyết định ra đi một mình. Dẫu sao nó cũng cùng huyết thống với người ta, chắc chẳng ai nỡ hành hạ nó nếu tôi bỏ trốn”, bà H. tâm sự.

Bí mật hẹn nhau ở chợ, hai người phụ nữ cắt rừng chạy trốn. “Sợ bị đuổi kịp, bắt về chỉ có nước chết, chúng tôi nào có dám dừng lại để nghỉ. Cứ cắt rừng mà chạy, bất kể đêm hay ngày. Gai góc cào xước hết tay chân mặt mũi, quần áo rách như tổ đỉa. Sau những ngày đói rét, rách rưới chúng tôi đặt chân được tới biên giới. Được sự giúp đỡ của nhiều người, hầu hết là những người chưa từng quen biết chúng tôi đặt chân được về Việt Nam. Đứng trên mảnh đất 20 năm trước mình đã bước chân đi, hai chị em chỉ biết ôm nhau khóc như mưa. Dẫu có mơ tôi cũng không dám nghĩ tới ngày mình còn được trở về, được đứng chân trên quê hương của mình…”, bà trào nước mắt khi nhớ lại quãng thời gian chạy trốn của mình.

Trở về sau 20 năm lưu lạc, cảnh cũ, người xưa không còn nhưng bà vẫn cảm nhận được sự ấm áp, quan tâm chân thành của mọi người. Điều bà thấy mình được an ủi nhiều hơn cả là những đứa con, cả người con riêng của chồng đã chia sẻ nỗi đau, động viên bà vượt qua mặc cảm để sống tiếp.

Sống trong tình yêu thương, đùm bọc của người thân, bà vẫn canh cánh trong lòng về đứa con đang sống ở Trung Quốc và quyết định quay sang. Thế nhưng bà ra đến Hải Phòng thì lực lượng chức năng báo tin: đã bắt được người phụ nữ bán bà sang Trung Quốc cách đây 20 năm. Bà quyết định quay về để đợi ngày người đàn bà ác độc kia phải trả giá trước pháp luật.

Dẫu rằng tuổi trẻ, sức khỏe, tình yêu và hạnh phúc của bà khó có gì đắp đổi được nhưng dẫu sao đó cũng là cái kết có hậu của người phụ nữ với đoạn trường 20 năm sống phận nô lệ ở xứ người.

BVN-TH

(từ báo VN)



 




abcviet (theo dantri.com.vn )
Gửi 16/11/12 13:01

Hơn 2.000 người “đu dây” qua sông

A- A A+ ‹Đọc›

Từ trung tâm huyện Sơn Hà, vượt hơn 30km sẽ đến xã nghèo Sơn Ba, nơi có con sông Re chảy vào lòng xã. Khi sông Re hiền hòa, 629 hộ dân phải “đu dây” qua sông. Khi con lũ ập về, 6 thôn trong xã bị cô lập hoàn toàn.


Những học sinh treo tính mạng trên một sợi dây, qua sông học chữ
Những học sinh treo tính mạng trên một sợi dây, qua sông học chữ
Có dịp đến xã Sơn Ba trong những ngày mưa giữa tháng 11/2012, PV Báo không khỏi thót tim khi cùng người dân và các học sinh ngồi chênh vênh trên chiếc bè gỗ, bên dưới có chằng săm xe ô tô làm phao, vượt qua sông Re. Hành khách trên bè cùng chủ bè con người vít vào sợi dây thừng vắt ngang sông để lấy lực đưa chiếc bè rộng chưa đầy 4m2 sang bờ bên kia.

Xã Sơn Ba có 6 thôn phải qua sông gồm thôn Làng Già, Làng Chai, Mò O, Làng Bung, Kà Khu và Gò Da, với 629 hộ, tương ứng với 2.533 nhân khẩu, trong đó học sinh phải qua sông Re đi học là 234 em, đa phần là con em người H’re.

Thầy Trần Duy Hùng - Hiệu trưởng trường THCS Sơn Ba - tâm sự: “Sau buổi học, các em phải đi bộ gần 2km mới đến điểm đu dây qua sông Re về nhà. Khi mưa lớn, nước lũ từ đầu nguồn đổ về rất hung dữ, nhìn thấy các em qua sông mà lòng tôi lo lắng”.
Chênh vênh và hiểm nguy
Chênh vênh và hiểm nguy
Chênh vênh và hiểm nguy
Chênh vênh và hiểm nguy

Theo quan sát của PV Báo, dọc con sông Re thuộc xã Sơn Ba có khoảng 7 điểm kéo dây nối hai bên bờ sông. Dây được nối rất đơn sơ với trụ cây hay bụi tre, nhưng là điểm tựa bao lâu nay của hàng ngàn con người.

Là người đưa khách sang sông với chiếc bè tự tạo và di chuyển bằng cách “đu dây”, ông Đinh Văn La (ngụ thôn Làng Bung) cho biết: “Khi mực nước lên khoảng 30cm nữa thì không thể kéo bè được, chỉ dùng ghe đi qua thôi, nếu nước lũ là không qua được. Mỗi người dân đi qua thường đóng lệ phí 2.000 đồng, có thêm xe máy là 4.000 đồng, riêng học sinh thì tôi

không lấy tiền”.

Các học sinh nơi đây không chỉ lo học cái chữ mà còn lo chuyện sáng đi trưa về, tính mạng các em chênh vênh giữa dòng sông Re. Những lúc dòng lũ ập đến đột ngột, nhà trường phải lo nơi ăn chốn ở cho các em tá túc tạm thời, chờ nước lũ lắng dịu mới cho các em trở về nhà.

“Toàn xã chỉ có 1.007 hộ nhưng số hộ dân bên kia sông chiếm hơn 60%, mỗi khi dòng sông chảy xiết, các học sinh lẫn người dân phải ở lại bên này, chúng tôi phải mượn tạm trường học làm nơi ở và vận động nguồn lương thực giúp bà con. Xã Sơn Ba nằm ở nơi hẻo lánh, tài chính có hạn nên khó khăn đủ bề. Người dân ở đây mơ ước có một chiếc cầu treo để đi lại thuận lợi, kể cả lúc bão lũ”, ông Đinh Văn Nã - Bí thư Đảng ủy xã Sơn Ba - chia sẻ.
Mối nối rất sơ sài
Mối nối rất sơ sài

Là người dân của xã Sơn Ba, bà Nguyễn Thị Thu Trinh (60 tuổi, ngụ thôn Làng Bung) nói: “Trước đây có chiếc cầu bằng cây nhưng khi mùa mưa đến, nước lũ cuốn trôi và ảnh hưởng tính mạng người dân. Khi cây cầu trôi, người dân chuyển sang dùng bè rồi đu dây qua sông, thế nhưng cũng có nhiều lần cả xe máy lẫn người bị rơi xuống sông rất nguy hiểm”.



Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=500308#ixzz2CPtZBpmr
http://www.xaluan.com/
Mối nối rất sơ sài

Là người dân của xã Sơn Ba, bà Nguyễn Thị Thu Trinh (60 tuổi, ngụ thôn Làng Bung) nói: “Trước đây có chiếc cầu bằng cây nhưng khi mùa mưa đến, nước lũ cuốn trôi và ảnh hưởng tính mạng người dân. Khi cây cầu trôi, người dân chuyển sang dùng bè rồi đu dây qua sông, thế nhưng cũng có nhiều lần cả xe máy lẫn người bị rơi xuống sông rất nguy hiểm”.



Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=500308#ixzz2CPtnPn64
http://www.xaluan.com/
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 5918)
Điều này tôi đã có lời thưa với bạn đọc ở đầu sách
19 Tháng Hai 201412:00 SA(Xem: 7103)
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam
25 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 9755)
Giờ đây các quý bà đã không còn phải tị nạnh với cánh mày râu khi đã có dịch vụ massage yoni chỉ phục vụ riêng chị em.
17 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 13067)
Hồi ở tuổi 15, tôi có đọc được một số thơ của tác giả Huy Phương đăng trên tuần báo “Đời Mới” ấn hành tại Sài Gòn từ 1951 đến 1955, trong đó có bài thơ nhan đề “Cát Lạnh”
04 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 6867)
những người công nhân (CN) tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Hà Nội rất khó khăn và bấp bênh