DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,728,155

Núi Hai Vai xệ một bên vai - Võ Văn Trực

18 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 13976)
Núi Hai Vai xệ một bên vai - Võ Văn Trực

Núi Hai Vai xệ một bên vai



Núi Hai Vai có tên chữ là Lưỡng Kiên Sơn, một di tích khảo cổ và là một thắng cảnh lớn của vùng Hoan Diễn cổ xưa. Núi thuộc địa phận làng Kẻ Dặm, cho nên còn có tên là Lèn Dặm. Vua Lê Thánh Tông đi kinh lý vào phương nam bằng đường biển, nhìn ngọn núi giống hình người đàn bà búi tóc, bèn đặt tên là Kế Sơn. Nhà sư ở chùa Hà Trang nhìn dáng núi như một vị tu hành chân chỉ tụng kinh niệm Phật, đã đặt tên là núi Di Lĩnh.



blank



Núi ở cách làng tôi theo đường chim bay hơn một kilômét. Làng ở giữa Lưỡng Kiên Sơn và Bùng Giang tạo nên phong cảnh hữu tình. Chiếc võng mẹ mắc hai đầu sông núi, ngàn đời ru cho bao nhiêu thế hệ trẻ thơ lớn lên trong điệu dặm vè và điệu hát ví phường vải. Tôi cũng được lớn lên trong cái nôi trữ tình và thần thoại ấy.
Những cuốn sách cổ về lịch sử và dư địa chí khảo cứu vùng Hoan Châu - Diễn Châu đều có nhắc đến núi Hai Vai như một kỳ công hùng vĩ của tạo hóa. Nho sĩ Bùi Dương Lịch làm thơ ngợi ca Chống trời xương cốt nhục - Non nước nặng hai vai. Trong nhà thờ cụ Nguyễn Xuân Ôn cũng có đôi câu đối tôn thờ ngọn núi như khí thiêng của trời đất. Tại nhà thờ đại tôn đức tổ Triệu Cơ của làng tôi, trong hậu cung, lấp lánh màu vàng ánh câu đối khẳng định sự trường tồn huyết tộc cùng với sự bền vững của núi non: Di linh phong cao thế hệ trường.

Phường thợ đá trong quá trình khai thác đá đã tìm được những di vật của thời kỳ đồ đá mới. Lẫn lộn trong lòng hang, cùng với phân dơi và phốt phát là những bát cổ đời Lý đời Trần, những cọc đèn đồng đời Lê đời Nguyễn, những thanh gươm gỉ thời Văn Thân chống Pháp...


Bao quanh những di vật ấy là huyền thoại của tràng giang lịch sử. Đây là bộ xương người bị ép chặt vào đá - một tài liệu quý của khảo cổ học hay xã hội học? Đây là cửa hang mà vị thần đã nằm ngủ, mộng thấy ngọn lửa xanh lạ kỳ bốc lên từ lòng đất và nơi đó đã trở thành lò rèn Nho Lâm cổ nhất ở nước ta. Nhấp nhô những tảng đá rêu phong kia là trận địa của Mạc Mậu Giang đấy ư? Dưới gốc cây đa cỗi cằn và gan góc kia, La Sơn Phu Tử đã ngủ lại một đêm trên đường đi tìm đất định đô cho vua Quang Trung. Dấu chân Tác Bay, một vị tướng tài ba của cụ Nghè Ôn, còn in hằn trên đá gợi lên khí vị thiêng liêng của dấu chân ông Đùng trong mô típ dân gian...


Đâu rồi, đâu rồi, tất cả những gì xa xưa ấy?


Đầu rồi, đâu rồi, quá khứ cần lao và hùng vĩ?


Đâu rồi? Đâu rồi?...


Còn đâu nữa! Người ta đã phá sạch rồi! Hơn mười năm, một công trường đá được mở ra tại núi Hai Vai để khai thác đá xây dựng đường sá, cầu cống, cơ quan, xí nghiệp. Mìn nổ liên miên suốt ngày này qua tháng khác. Đá ào ào từ trên cao đổ xuống. Rồi đá lại theo hàng đoàn xe tải chở đi tứ phương.


Ty Văn Hóa kiện ty Công Nghiệp. Ty Công Nghiệp phớt lờ. Mìn cứ nổ. Đá cứ đổ. Ty Văn Hóa lại kiên nhẫn phát đơn kiện. Đến lúc ủy ban tỉnh ra lệnh cấm dùng mìn, dùng bộc phá để khai thác đá, thì kết cục thật là thảm hại: núi Hai Vai bỉ xẻ mất một bên vai!


Ngọn núi từ muôn ngàn xưa đường bệ biết bao. Núi là biểu tượng của khí phách của khát vọng dân chúng. Từ phía mặt trời mọc nhìn lên phía tây, núi ngẩng cao đầu, nhô hai vai như dáng người nghị lực phi thường nghìn trận thắng giông tố, bão bùng, giặc giã. Sừng sững giữa trời cao đất rộng một tháp đá uy nghi, vững chãi, thế mà cũng bị con người chém đứt hẳn một bên vai. Ông bí thư đảng ủy còn dõng dạc tuyên bố: “Chúng ta phải mở một nhà máy xi măng ngay ở chân núi Hai Vai. Cho đến lúc hết sạch đá hóa thành đồng bằng, ta có thêm hàng chục mẫu đất để tăng gia sản xuất”. May mà ủy ban tỉnh ban hành lệnh giữ gìn núi Hai Vai không đến nỗi quá muộn, không thì ông bí thư đảng ủy ấy đã dùng phép phù thủy hóa núi thành đất màu mỡ cấy lúa trồng khoai, đem lại ấm no cho nhân dân!


Tôi nói “không đến nỗi quá muộn” tức là cũng đã muộn rồi. Biểu tượng khát vọng của nhân dân bị băm vằm rách nát: Từ làng Nho Lâm nhìn lên, núi giống một người thợ rèn khom lưng cầm búa gõ đe. Cho nên nghề rèn ở Nho Lâm đã được thịnh vượng trên hai nghìn năm. Bây giờ ông thợ rèn khổng lồ ấy đã bị cụt đầu!

Từ làng Đậu Lý nhìn xuống, núi giống cái mũ của quan võ. Cho nên, qua nhiều đời, làng này sản sinh ra những vị tướng tài và đặc biệt là tướng Tác Bay với sức khỏe phi thường đã nhổ gốc đa cổ thụ quật vào đội quân giặc bỏ chạy tan tác. Bây giờ cái mũ của quan võ ấy bị rách rồi!

Từ làng Côn Sắt nhìn sang, núi giống chiếc mũ cánh chuồn của quan văn. Cho nên làng này có nhiều người học hành, đậu đạt cao, tiêu biểu là cụ Nghè Nguyễn Xuân Ôn. Bây giờ cái mũ quan văn ấy đã bị mất hai cánh chuồn!


Từ làng Kẻ Sừng nhìn chếch về phía đông nam, núi giống một đụn thóc. Cho nên vùng này là cái vựa lúa của Hoan Châu, từng cung cấp lương thực các đội nghĩa quân đánh giặc, giữ gìn đất đai tổ quốc. Đồng ruộng nơi đây có loại nếp rồng hạt to và rất thơm. Bây giờ cái đụn thóc ấy đã xệ ra rồi, còn đựng thóc làm sao được nữa!


Từ làng Kẻ Hến nhìn chếch về phía tây bắc, núi giống hình chiếc dao cầu xắt thuốc bắc. Cho nên làng này đời nào cũng có thầy lang giỏi, đi chữa bệnh khắp thiên hạ. Bây giờ con dao cầu ấy đã gãy mất cán, liệu có còn lương y kiêm từ mẫu nữa không?


*


Nghe tin bác Chắt Kế vừa ở trên tỉnh về, tôi chạy đến thăm. Trong lúc trò chuyện thân mật, tôi hỏi:
- Tỉnh có chủ trương xây nhà máy xi măng ở núi Hai Vai không bác?

- Tỉnh chưa có chủ trương. Cháu nghe ai nói?


- Ông bí thư đảng ủy xã ta.


- Có lẽ là nhà máy của huyện...


- Nếu đúng thế thì cháu rất sợ... Làm được một ít xi măng thì ngọn núi bị hư hỏng, tiếc lắm.


- Sao lại tiếc? Lý luận của Mác là con người phải cải tạo thiên nhiên, cải tạo thế giới.


Hai bác cháu rủ rỉ ngồi nói chuyện với nhau khá lâu.


Bác am hiểu khá tường tận về ngọn núi này, biết nhiều chuyện từ đời xửa đời xưa, nào là chuyện hổ về làm tổ trong hang, nào là chuyện nghĩa quân Cần Vương lấy núi làm đại bản doanh... Đang đà vui chuyện, bác kể cho tôi nghe chuyện thời bí mật bác đã phải lẩn trốn trong các hang hốc như thế nào, nhịn đói nhịn khát như thế nào...


- Hay là bác dẫn cháu lên núi, chỉ cho cháu biết “trận địa” của bác? Cháu muốn ghi lại...


- Cũng được...


Thế là bác đi trước, tôi đi sau. Vừa đi đường bác vừa khuyên bảo tôi: “Thanh niên làng ta ít được học truyền thống đấu tranh của Đảng, cháu nên viết lại mà in thành sách. Thời Mặt Trận Bình Dân, chi bộ làng ta cũng họp hành trên núi, cũng giấu truyền đơn trên đó, đến Hàng Khoán là địa điểm liên lạc của Đảng... Cháu nên viết lại thời kỳ đó, gian khổ lắm, oanh liệt lắm cháu ạ...”


Đến chân núi, hai bác cháu dừng lại. Lạ quá, núi thay hình đổi dạng hoàn toàn. Tìm mãi, không thấy lối trèo lên. Những gốc đa sần sùi, những chùm rễ si già cỗi, những lòng hang âm u... đều biến mất. Bác tỏ vẻ bần thần, cứ đi đi lại lại, ngó chỗ này rồi nhìn nơi kia. Thỉnh thoảng bác tự nói một mình: “Chúng nó làm hỏng hết rồi... Phá phách ghê quá...”. Bác giơ tay vẫy tôi, rồi dẫn tôi đi vòng quanh chân núi, như vị tướng già dẫn một tân binh về thăm chiến trường cũ. Chiến trường đã hoang phế, không còn chút dấu vết hùng tráng của dĩ vãng. Gương mặt bác thoáng vẻ buồn. Chốc chốc bác dừng lại và chỉ tay: Nơi ấy hồi trước có cửa hang, chi bộ thường vào họp... Nơi ấy hồi trước có tảng đá nhô lên, bác ngồi chờ suốt mấy đêm để nhận tin tức của Đảng... nơi ấy hồi trước có khóm lau già, mấy đồng chí thường hẹn gặp nhau ở đó...


Nơi ấy, hồi trước... Chẳng lẽ tất cả những gì thuộc về “hồi trước” đều bị xóa đi bởi bàn tay vô ý thức và tàn bạo của con người ngày nay?


Bác Chắt Kế lắc đầu:

- Không được cháu ạ! Phá phách như thế này thì lấy gì mà giáo dục truyền thống cách mạng cho thanh niên?

Tôi hỏi lại:

- Sao lúc nãy bác lại nói là cháu không nên tiếc khi người ta phá núi làm nhà máy xi măng?

Bác không trả lời...


*


Tuổi thơ của tôi gắn bó với ngọn núi trước hết bởi những hang động và chuyện kể về những hang động ấy: hang Nhà Nước, hang Kẽm, hang Bông, hang Thắt Cổ, hang Chó Đẻ...

Những trưa hè chói chang nắng, gió nam dội hùng hục vào núi như lửa dội ngỡ chừng có thể làm sủi bọt cả khối đá vôi khổng lồ. Lũ trẻ chúng tôi tìm được thú vui riêng: chui vào các lòng hang để bắt sáo. Lòng hang mát rượi, vách đá ri rỉ nước thấm mát cả cơ thể tưởng như cái thế giới nhỏ bé này tách hoàn toàn khỏi cái thế giới oi bức ngoài kia.


Tiếng chim líu ríu, trong trẻo và ngây thơ như vọng lại từ thời hồng hoang. Chúng tôi công kênh nhau, bám vào vách hang, leo lên tận trần, thò tay vào những hõm đá để bắt chim. Có tổ còn ủ nguyên những quả trứng tròn xanh, giơ ra trước ánh sáng mờ mờ ở cửa hang, vỏ trứng ánh lên một màu xanh non nã dễ thương, chúng tôi lại cẩn thận đặt vào tổ. Có hốc đá chìa ra mấy sợi cỏ khô động đậy khe khẽ, chúng tôi thò tay vào thì chao ôi, mấy chú chim non còn đỏ hỏn ngọ nguậy. Phải thật sự là những chú chim đủ lông đủ cánh, dập bọng đái, chúng tôi mới bắt về nuôi.


Nhưng thú vị hơn là vào lòng hang để trốn tìm, chúng tôi có khi năm đứa, có khi mười đứa hoặc hai ba chục đứa rủ nhau vào, luồn theo những lối đi cheo leo từ hang này qua hang khác, từ động này qua động khác.

Tiếng hú gọi nhau âm âm u u vọng dài nghe xa xôi như tiếng hú từ lòng đất dội lên. Đang lom khom đi, bất chợt một luồng sáng dọi vào, ngẩng đầu lên: óng ánh chùm thạch nhũ buông xuống ngon lành tưởng có thể há mồm ngoạm ăn như ăn một thứ trái chín ở vườn tiên. Đang dắt díu nhau chui xuống đáy sâu thăm thẳm, ngột ngạt, chợt luồng gió thổi vào mặt mát lạnh, chúng tôi reo lên: “Cửa hang đây rồi!”. Kìa, cửa hang mở ra với cái chuông thạch nhũ treo lửng lơ. Gõ tay vào, đá ngân lên trong trẻo, tiếng ngân lấp lánh theo màu đá đổi thay với những đường vân xanh vân tím vân hồng.

Tòa thiên nhiên lộng lẫy ấy chỉ trong mười năm đập phá là bị tiêu tan hết.


Người ta thù hằn với thiên nhiên chăng? Người ta thù hằn với cái đẹp chăng?


Cách đây bao nhiêu thiên niên kỷ, con người đã in dấu chân lên hòn núi này và đã thổi tâm hồn mình vào đó với những miếu thờ thâm u, những mái chùa thơ mộng, những cửa đền oai nghiêm và nối tiếp chuỗi dài huyền thoại. Mỗi thế hệ đi qua đều để lại dấu ấn của mình, đều tô chuốt cho thiên nhiên đẹp đẽ hơn, huyền diệu hơn. Tại sao đến thế hệ này, thế hệ của những năm cuối thế kỷ XX sau công nguyên này, không những không tô chuốt thêm, mà lại phá trụi mọi dấu ấn của thế hệ trước, hơn thế nữa, còn phá trụi cả tòa lâu đài thiên nhiên đã được tạo lập qua hàng triệu triệu năm.


Ngôi chùa ở lưng chừng núi Hồ Linh, bên cạnh núi Hai Vai vừa là một thắng cảnh vừa có liên quan đến lịch sử thời kỳ Văn Thân và thời kỳ Đảng hoạt động bí mật, đã xếp hạng bảo tồn và cắm tấm biển “cấm vi phạm”. Tất cả những thứ “cấm vi phạm” ấy đã hóa thành một đống đổ nát.


Tôi bần thần ngỡ mình như hòn núi ấy, bị quỷ cướp mất hồn, tôi đi lang thang và dừng lại tại vị trí ngôi chùa cũ ở lưng chừng núi, lưng chừng trời, lưng chừng mây. Tôi bới tìm trong đống gạch vụn và đá vụn, vô tình nhặt được khối thạch nhũ đẹp như bầu vú sữa bị một lưỡi rìu chém đứt ngang.



V
õ Văn Trực
(Trích từ cuốn Chuyện Làng Ngày ấy do Tạp chí Văn Học [California-USA] xuất bản năm 2005)


Chiều Tím. Thơ Đinh Hùng. Nhạc: Đan Thọ. Hồ Hoàng Yên ca


 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn