DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,729,318

Ác Mộng (trích đoạn) - Ngô Ngọc Bội

26 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 9769)
Ác Mộng (trích đoạn) - Ngô Ngọc Bội

Ác Mộng




ac_mong



LTS. Cuốn truyện dài Ác Mộng của Ngô Ngọc Bội được nhà xuất bản Hồng Lĩnh ở California ấn hành vào năm 1992, trong đó chỉ có một dòng ngắn giới thiệu tác giả: “Ngô Ngọc Bội, sinh năm 1929 tại Vĩnh Phú. Biên tập báo Văn Nghệ.” Tác phẩm này có lẽ được viết trong thời kỳ gọi là “cởi trói” ngắn ngủi cho văn nghệ sĩ tại Việt Nam từ sau năm 1986, mô tả cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc từ khi đất nước chia đôi năm 1954 cho tới khi “sửa sai” vào cuối năm 1956. Đúng như tên gọi của nó, những gì tác giả viết ra quả là một cơn ác mộng có một không hai trong suốt chiều dài của lịch sử đất nước chúng ta, do người cùng dân tộc Việt gây ra với nhau.Chúng tôi xin trích đăng lại một số đoạn tiêu biểu (với những tựa đề nhỏ do chúng tôi đặt) để độc giả cảm nhận được một phần nào cơn ác mộng đó.
(diendantheky)



Cưỡng Bức


Chiều hôm ấy thấy Lê Ngọc Chuẩn tong tả đi lên. Trông Chuẩn vui ra mặt. Và cũng diện ra trò: tóc bồng, quần lụa, dép trắng, áo đầm chửa màu hồng. Tay xách cái túi rất hợp “mốt thời đại.” Rõ ràng hôm nay Ngọc Chuẩn có điều gì khác lạ, vì ăn mặc như thế trong công tác “ba cùng” có thể coi là một điều cấm kỵ. Nhưng người thính nhạy như Bảo, anh đoán biết ngay. Chuẩn diện đây là diện vì anh, chứ chẳng phải vì ai khác. Hai mươi tám tuổi đời, mười năm công tác, anh đã chiêm nghiệm thấy, mình có những nét hấp dẫn phụ nữ đến kỳ lạ. Đã bao nhiêu phụ nữ chủ động tỏ tình và tấn công trước, anh phải lảng tránh. Cũng có lúc bị động như trường hợp với Bin, nhưng anh đã tìm cách để chấm dứt ngay. Thắng được những hoàn cảnh trớ trêu ấy, thứ nhất anh vốn con nhà nền nếp xưa nay, hai nữa sợ kỷ luật, vì kỷ luật của Đảng rất nghiêm ngặt về chuyện ấy. Đã có nhiều người vì chuyện trai gái mà thất điên bát đảo, làm phí hoài cả tương lai. Thứ ba là sức khỏe của anh, cái bệnh sốt rét kinh niên, báng số ba, da vàng ệch, làm anh kém hăng hái. Với Chuẩn, anh đã thấy cô khác ý từ buổi gặp đầu tiên. Ngồi họp với nhau, Chu
ẩn nhìn anh chằm chằm, nét mặt đằm thắm, rồi cứ tìm cách ngồi gần, tìm dịp tiếp xúc... Anh vẫn giả đò như không biết gì.




blank



Thực ra, hình thức Chuẩn không có gì lộng lẫy, nhưng không nét nào đáng chê. Nếu ở đúng vị trí của một người đàn bà, chắc chắn Chuẩn là một cô gái đảm đang, công việc làm ăn chắc khá. Những buổi liên hoan của Đội, Chuẩn lo sắp xếp lo toan công việc nội trợ, sửa sang tiệc tùng rất tài. Ngày xưa cô sống với gia đình Nguyễn Thị Năm, nên cũng học tập được khá nhiều nền nếp sinh hoạt và văn hóa của một nhà giàu. Do bị nhuốm cái cốt cách “chỉ huy Đội,” với lập trường giai cấp, cùng một số lý luận không tiêu được làm cho cô bị cương lên, trở thành trâng tráo rất khó chịu. Chính cái đó đã hại cô, hăm nhăm hăm sáu tuổi vẫn chưa có ai yêu. Đối với Bảo, vì lâm vào cảnh “qua sông anh phải lụy đò,” nên tiếp xúc với Chuẩn, anh tỏ ra hết sức cởi mở và nồng nhiệt:
- Chị Chuẩn giúp tôi việc này, tôi vô cùng cảm ơn!

- Anh Bảo có thể gọi em khác đi được không? Em còn kém anh những mấy tuổi!

- Không! Đây là tôi xưng hô với cấp trên của mình!

- Em chả muốn làm cấp trên của anh. Anh còn phải răn dạy em nhiều điều!

- Thế thì gọi bằng em vậy nhá!

Chuẩn cười, và toát lên hết cái vẻ đẹp của người đàn bà.

- Anh Bảo mới đi đợt này là đợt đầu à?

- Anh đi đợt đầu nên lớ ngớ quá!

- Anh chả lớ ngớ đâu, cái chính là anh chẳng muốn nhúng tay vào những việc oái oăm này. Nói thật với anh làm cái việc này mãi em thấy ghê ghê quá đi.

Thế là Bảo phát hiện ra trong Chuẩn đang có hai con người: con người phụ nữ nông thôn Việt Nam, và con người đội phó cải cách ruộng đất, hai con người ấy không hòa với nhau làm một. Đấy là một điều còn may mắn cho Chuẩn. Bảo thăm dò:
- Đây là nhiệm vụ cách mạng đấy Chuẩn ạ!

- Thế sao anh không làm đi?

- Đã bảo anh lớ ngớ không làm nổi.

Chuẩn trở nên nhí nhảnh rất đáng yêu:
- Nếu em làm xong việc này, anh Bảo tặng em cái gì?

- Nếu em có cái gì mà em thích.

- Được rồi, nhớ nhá! Ngoặc tay!

Chuẩn chìa tay ra, buộc lòng Bảo phải ngoặc tay cam kết.

Lúa đưa Thục vào. Hôm nay làm việc tại nhà Lúa. Vừa nhìn thấy Chuẩn, mặt Thục tái nhợt. Thục ngồi cúi gằm xuống, tay liên tục giật giật cuống chiếu. Chuẩn vẫn cứ nhìn xói vào Thục, thôi miên. Mắt Thục lấm lét, Chuẩn đánh phủ đầu:
- Ngày Tây đóng bốt, mày đem thư của Lý Đức xuống bốt cho Đội Hợi mấy lần, Thục?

- Ngày Tây đóng bốt, em còn nhỏ, bố em không bao giờ cho em xuống gần bốt.

- Mày phải gọi nó là “Thằng Đức.” Nó là kẻ thù của giai cấp, kẻ thù của mẹ con mày. Lý Đức ruồng rẫy mẹ con mày. Lý Đức làm tay sai cho đế quốc chưa đủ, còn bắt cả mày đang đầu xanh tuổi trẻ làm tay sai nữa. Mày phải tố cáo những tội ấy trước nhân dân, để mà tự giải phóng lấy mình.

- Em không làm bao giờ, em không nói được! Bố em sinh ra em, em không thể...

Chuẩn đập tay xuống bàn đánh thình, Thục nảy người lên.

- Mày không nói tao sẽ bóp cổ mày, lấy kìm rút lưỡi mày ra bắt mày phải nói. Mày sẽ vào trại giam, mày sẽ đi tù, đời mày sẽ tan nát. Tao cho mày ngồi đấy mà suy nghĩ!

Bảo thấy tởm lợm cái việc làm của cô đội phó được mệnh danh là “Tướng phá vây.” Cái con quỷ cái không biết từ lúc nào đã từ một cô gái nông thôn lành hiền trở thành dã thú. Bàn tay nó đã vấy bao nhiêu máu, hung bạo, tàn ác. Nhưng trong việc này, liệu Bảo có lỗi gì không? Có phải vì ta hữu khuynh, vì ta tình cảm mà đẩy Chuẩn phải làm một việc như thế không? Đây là cách làm man rợ. Hoàn toàn trái với đạo đức cách mạng. Một thứ lưu manh hung đồ, giặc cỏ. Tại sao lại cứ phải bắt con lên tố bố, vợ lên tố chồng mới xử tử được kẻ thù? Bảo không thể làm những việc thất đức, phi đạo lý như thế được. Bảo thấy kinh tởm nhưng anh vẫn cứ phải tôn kính nhũn nhặn trước Chuẩn. Chuẩn quay ra, hồ hởi dắt Bảo đi dạo ngoài đường.

- Anh Bảo có thấy sợ không?

- Kể ra tôi được đi vào đợt nữa, tôi cũng làm được.

Chuẩn lườm Bảo rất đáng yêu:
- Thôi đi! Chẳng báu gì đâu!

- Nhưng này, tại sao ta cứ phải bắt con lên tố bố mới được, em nhỉ? Lý Đức đã có bao nhiêu tội rồi kia mà!
- Em cũng không biết. Người ta bảo, làm thế mới có sức kích động quần chúng mạnh mẽ! Thôi, ta quay lại đi anh Bảo. Lần này anh có tin con cái Thục phải nhận lên đấu bố nó không?

- Anh tin.

- Nhớ đã ngoặc tay rồi đấy nhá.

- Xin kiên quyết giữ lời hứa!

Hai người quay trở lại, Thục vẫn đang ngồi khóc như mưa như gió. Chuẩn còn tạt đi ngoài. Bảo lảng lại chỗ Thục nói nhỏ:
- Em cứ nhận đi, hôm lên đấu chỉ cần chỉ mặt một cái nói một câu, rồi giả vờ lăn đùng ra ngất, mọi người sẽ thông cảm chẳng sao đâu, em ạ. Không nhận, không xong với nó!

Chuẩn vào, Thục đã đỡ khóc. Chuẩn hạch:
- Thế nào, mày đã giác ngộ chưa?

- Em nhận ra rồi!

- Ừ em phải tự giác ngộ mà cứu lấy mình. Giờ em ở với mẹ em, với chú dượng em kia mà, người ta sẽ coi em như phần tử tích cực chứ!

- Thế nhưng phải làm gì kia ạ?

- Em cứ lên chỉ mặt, thét: “Đức! Mày có biết tao là ai không? Tao là con gái của mày, khi Tây còn đóng bốt ở đây, mày đã ba lần sai tao cầm giấy xuống đưa cho Đội Hợi, báo Tây đi phục kích bắn cán bộ ở sông Bùi, mày còn nhớ chứ?” Chỉ nói thế thôi là đủ.

- Em xin nhận làm, chị Đội ạ!

*

Pháp Trường



Bảo được thông báo nội bộ: hai ngày tới Lý Đức sẽ ra pháp trường cùng với hai tên nữa, Tổng Khoái xã Hợp Đồng và Hai Thảo xã Chi Lăng. Bắn ba tên đầu sỏ đợt đầu có tính chất thị uy thuộc cụm Ba của Đoàn ủy Ba, đây cũng là đợt xử án đầu tiên trong cải cách ruộng đất đợt năm này.

Trước Đình Cả, người ta lập “Tòa án nhân dân đặc biệt.” Bục xử án dựng cao và rộng. Vì xử ba tên cùng một lúc nên phải có ba chánh án, sáu dự thẩm và ba công tố viên cùng ngồi. Người ta không đào hố cho tội nhân đứng xuống, vì sân đình lát gạch, mà gánh đất đắp thành ba mô cao cho khổ chủ đứng lên tố. Nông dân đã được “vùng lên” nên phải đứng cao hơn địa chủ. Phía trên bãi tha ma Thịnh Đa đã chôn sẵn ba cây tre dài, trắng toát như ba cái cột cờ. Đằng sau ba cột đào sẵn ba hố sâu. Đất cũng được đắp lên thành bệ trước cọc chôn. Đấy là pháp trường, ai nhìn thấy cũng rợn tóc gáy. Bảo không được giao những việc trên. Vũ Long giao anh đặc trách, cùng với đội du kích xóm Thượng, canh gác ba tên “tổ chức cũ” của Quảng Hà: Bông, Tịch, Ngọc, bị tóm từ hôm xảy ra vụ Hào Chót. Ba tên này vẫn ngoan cố, cho chúng dự cuộc xử án hôm nay để khủng bố tinh thần. Ba tên sẽ buộc vào ba gốc đa bên lề đường.

Ngày xử án ba tên đầu sỏ, người ta tập trung tất cả nông dân ba xã. Từ sáng sớm, nông dân các nơi đã cơm đùm cơm nắm, ùn ùn kéo tới, cùng các đơn vị bộ đội đóng gần, học sinh các trường. Bừng bừng khí thế, các đoàn đi theo hàng lối, có cán bộ Đội phụ trách. Người nào cũng có lá cờ con, khẩu hiệu cầm trong tay, dán trên mũ nón, quàng qua vai. Đi đầu là những lá cờ đại, những biểu ngữ, khẩu hiệu lớn bằng giấy vàng dán trên vải đỏ, miệng luôn hô khẩu hiệu, hoan nghênh chính sách cải cách ruộng đất, và đả đảo bọn địa chủ cường hào ác bá. Khu vực Đình Cả phút chốc có hàng nghìn người tập trung. Cuối cùng, những tội nhân bị dẫn tới. Tay bị trói, cổ đeo cái bảng ghi tên tuổi viết bằng vôi trắng. Mỗi tên đều có bốn du kích súng tuốt trần, lưỡi lê đi kèm. Trên bục xử án, các quan tòa đã ngồi bệ vệ, chờ tội nhân tới. Những tên tội phạm, trừ Hai Thảo vẫn bình tĩnh hiên ngang, còn hai tên kia trông không ra hồn người, bước đi thất thểu. Tới đâu cũng bị nông dân hô khẩu hiệu đả đảo rầm rầm. Tổng Khoái đã ngoài bảy mươi, không bước được, sụp hẳn xuống đường, đũng quần ướt rượt. Bốn du kích phải xốc nách lôi đi. Mọi người xô đẩy, chen chúc nhìn tận mặt từng tên. Mất một thời gian lâu mới xếp được trật tự. Bên ngoài, Bảo và mười hai du kích xóm Thượng đã đứng nghiêm túc chực sẵn, chờ du kích xóm Đình dẫn Bông, Tịch, Ngọc tới, buộc vào ba gốc đa, mỗi gốc cách nhau khoảng tám mét, như buộc ba con bò. Nhàu ra lệnh cho Bảo và du kích xóm Thượng chịu trách nhiệm canh gác, xong, đi về phía sân đình làm nhiệm vụ khác. Trên bục xét xử gồm mười hai người ngồi. Mỗi tội nhân của mỗi xã có bốn người ngồi xử. Một chánh án và hai dự thẩm là khổ chủ, một công tố người của Đội. Nguyễn Thị Lúa hôm nay được ngồi ghế chánh án. Bảo mừng thầm, rễ của anh đã được Đội tín nhiệm. Nguyễn Tuấn đội phó làm công tố viên. Cuộc xét xử bắt đầu. Ba công tố viên đều đứng lên đọc ba bản án. Xong, ba khổ chủ của ba tội nhân lên tố. Thỉnh thoảng có tiếng hô đả đảo rầm rầm. Công việc xét xử khá lạ lùng và hấp dẫn. Mười hai du kích xóm Thượng vì tuổi còn trẻ, ý thức trách nhiệm không cao, cộng với thái độ của Bảo chỉ huy cũng lành hiền, các cô các chú cứ tự ý bỏ nhiệm vụ xúm vào chỗ xử án, mặc cho Bảo canh giữ Bông, Tịch, Ngọc. Bảo đã ý tứ nới dây trói cho ba người, và kín đáo nhìn họ bằng ánh mắt thiện cảm. Họ nhìn anh biết ơn và khôn khéo trao đổi với nhau. Bảo biết nhưng cố ý lờ đi, chỉ nhắc khẽ: “Nói nhanh lên rồi tản ra, kẻo họ nhìn thấy!” Ba người nhìn Bảo đầy cảm kích.

Bảo để ý theo dõi những khổ chủ lên vạch tội Lý Đức. Nguyễn Thị Thuận hôm nay là khổ chủ chính, đầu chít khăn sô, nét mặt u sầu. Thuận tố khá trôi chảy, khá dài, lúc bổng lúc trầm, lúc hét lên căm thù, lúc quằn quại đau đớn. Thuận đã thực sự trở thành “diễn viên” dưới bàn tay bồi dưỡng của Nguyễn Tuấn. Cái tội “nợ máu” là mẹ Thuận bị đánh rồi ốm chết, hôm tố khổ điển hình ở đại hội nông dân toàn xã cố ghép cho Tổng Hoàng, nay vẫn tội ấy Thuận lại tố sang Lý Đức. Lý Đức cãi, bị làn sóng căm thù đả đảo. Cuối cùng Thục lên đấu bố –“tác phẩm” của Lê Ngọc Chuẩn. Thấy Thục, mọi người nín thở. Hai chân Thục ríu lại, trèo mãi không lên nổi cái bục đắp sẵn, đành phải đứng dưới thấp chỉ mặt bố:
  • Mày biết tao là ai không Đức? -Lý Đức rùng mình như bị đạn xuyên qua- Tao là... -Thục đổ kềnh ra đất, nhào gần tới chỗ Lý Đức quỳ. Tất cả nhốn nháo, có tiếng khóc sụt sịt. Nhàu lệnh cho hai du kích vực Thục ra. Đầu tóc Thục tả tơi, ngật sang một bên như đã tắt thở. Lát sau tiếng tuyên án của quan tòa vang lên. Đó là tiếng the thé của Lúa: “Tòa tuyên án tử hình Hà Đình Đức tức Lý Đức...!” Cả đám đông ầm ầm như thác vỡ. Bông, Tịch, Ngọc mặt nhợt nhạt, không còn đủ sức ngồi xổm nữa, đành bệt xuống đất. Hàng ngàn con người ào ào xô ra đường cái, chen chúc nhìn sang phía Thịnh Đa, chỗ chôn sẵn ba cây tre cao. Tổng Khoái đã chết giấc hoàn toàn, bốn du kích xã Hợp Đồng lôi hắn lệt sệt sang Thịnh Đa, không kịp trói vào cột, vứt luôn xuống hố rồi xả một băng tiểu liên. Lý Đức cung cúc đi trên bờ ao Đình, đầu cúi gục, mái tóc muối tiêu cờm cợp. Bất thần băng tiểu liên “tằng! tằng! tằng!” Lý Đức gục ngay xuống, mảng xương sọ còn dính nguyên mớ tóc tung lên trời quay quay như con cầu lông rồi mới rơi xuống mặt nước ao Đình; nổi như cái rong đuôi chó. Cá mương xúm đến thi nhau đớp, mảng tóc vẫn bập bềnh trên mặt nước. Còn lại một mình Hai Thảo được trói chững chạc vào cây tre giữa. Hai Thảo còn trẻ, chỉ ngót bốn mươi, người cao lớn. Thảo lắc đầu không cho du kích bịt mắt. Thảo là bí thư chi bộ xã Chi Lăng, Bông, Tịch, Ngọc đều quen thân. Đám quần chúng ồn ào vì ghê sợ sự giết chóc đã bỏ về quá nửa. Ba du kích xếp hàng ngang sẵn sàng nhả đạn. Khi nhét giẻ vào miệng Thảo không chặt, súng nổ lập tức Thảo nhè giẻ ra, hô trọn vẹn câu khẩu hiệu: “cách mạng Việt Nam muôn năm!” rồi đầu mới gục xuống! Thảo giãy giụa, cây cột tre rung lên. Bông, Tịch, Ngọc trông thấy Thảo bị hành hình đều nghiến răng im lặng.

*

Ép Cung



Tịch bị hai du kích dẫn vào. Trước đây, dây trói của Tịch bằng đay ngâm, từ hôm Bông trốn, được thay thế bằng dây dù xanh còn nguyên sáu sợi lõi. Cách trói của Nhàu cũng đặc biệt, giống người miền núi thường trói hổ, trói gấu, không có cách gì tháo được. Nhàu còn đem đốt chập các đầu mối dây dù lại. Khi cần tháo, chỉ có cách cắt bằng dao. Hai cánh tay Tịch sưng tấy tím ngắt.

Vừa bước vào, Tịch đã thấy không khí nghiêm trọng hơn mọi lần truy hỏi trước. Khá đông, có cả những bộ mặt lạ anh chưa hề gặp. Vũ Long ôn tồn sai hai du kích cởi trói. Du kích loay hoay không sao tháo được. Nhàu nháy mắt với Vũ Long. Vũ Long biết ý phẩy tay cho hai du kích quay ra, rồi chỉ sang mười ba khổ chủ và nhân chứng đang cắm mặt ngồi chờ.

- Anh có biết những người này không, anh Tịch?

- Dạ, thưa Đội, người trong xã chúng con cả.

- Anh đã biết những người này đến đây làm gì rồi chứ?

- Dạ, con không biết!

- Có phải những người này đã từng họp với anh ở nhà Hào Chót dưới lá cờ sao trắng không?
- Dạ có!

- Anh kể cho mọi người nghe!

- Dạ, những người này trước đây đều là đảng viên của đảng Cộng Sản Đông Dương. Chúng con họp đều treo cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa liềm vàng. Nhưng vì dùng lâu ngày, lại là vải nội hóa nên sao và búa liềm đều bạc thành sao...

Vũ Long đập bàn:
- Tịch! Mày ngoan cố sẽ chết trước khi mày muốn nhìn thấy vợ con mày.

Thoan ra hiệu cho Vũ Long bình tĩnh. Thâm tâm của Thoan không tán thành việc hỏi cung có tính cách đàn áp. Song, không dám phản đối. Vì bất cứ cương vị nào, cấp trên nào dám phản đối việc “phát động quần chúng” đều có thể nguy hại đến tính mạng. Thoan làm cụm trưởng nên nắm được nhiều việc đã xảy ra: Nguyễn Ngọc Thới đang là phó bí thư Đoàn ủy Hai, cách đây mười hôm còn ngồi duyệt án địa chủ, chỉ vì nói một câu thiếu thận trọng, lập tức ba ngày sau du kích đến lôi đi vừa mới bắn bỏ cách đây hai hôm. Đào Viết Thường, cán bộ văn phòng Trung ương Đảng, xuống tham gia cải cách ruộng đất ở một xã có phong trào cách mạng từ năm 1935 là cơ sở hoạt động của nhiều đồng chí lãnh tụ. Thường thắc mắc mấy trường hợp xử tử không đúng, liền bị Đội trưởng cho du kích trói dẫn trả về Đoàn ủy, bị kết án là “phá hoại phong trào.” Cũng may, Thường là cán bộ cấp Trung ương vào Đảng từ năm 1935, nên Đoàn ủy còn giam lỏng, chưa bắn. Vậy Thoan là cái gì? Nhà Thoan cũng khá giả, bố cũng làm phó lý. Biết đâu mai kia người ta cũng lôi về bắn. Thoan chỉ dám lấy thế cấp trên nhẹ nhàng đỡ lời Vũ Long:
- Anh Tịch ạ, hôm nay Cụm bớt thời giờ đến gặp anh. Tôi biết, gia đình anh trước đây cũng thuộc thành phần nghèo khổ. Nay Đảng có chính sách phát động nông dân xóa bỏ bóc lột. Trên tinh thần ủng hộ giai cấp cũ của mình, anh cũng phải nhiệt tâm cùng với Đội, để hoàn thành công cuộc cách mạng long trời lở đất này. Trong quá trình đấu tranh anh có thể lầm đường, hoặc bị địch mua chuộc, trước mặt Đội anh cứ thành thật khai. Tôi sẽ báo cáo lên cấp trên xin khoan hồng cho những kẻ biết ăn năn hối lỗi. Anh không nên ngoan cố bao che cho kẻ địch. Cũng không có cách gì bao che được. Vì đây là cuộc phát động quần chúng “đào tận gốc trốc tận rễ” kẻ thù.

- Đề nghị Đội cho con nghỉ một chút. Con sắp ngất rồi.

- Du kích đâu, nới dây cho anh Tịch một chút.

Thoan nhắc, nhưng Nhàu đã nháy du kích không lên tiếng. Tịch không tài nào chịu được nữa, anh lăn kềnh ra đất, hai tay vẫn bị gò ra đằng sau. Anh nằm co quắp, vừa run rẩy vừa nói lập cập:
- Đề nghị Đội, con khai xong, Đội cho con về nhìn thấy vợ con một lần.

- Được rồi, anh nằm nghỉ một lúc cho thật bình tĩnh rồi khai đi, tôi sẽ đề nghị Đội dẫn anh về thăm vợ con anh.
Nhưng khai cái gì, Tịch vẫn chưa hề nghĩ ra. Khai không đủ chứng cớ chắc lũ khát máu này không bao giờ chịu nghe. Chục năm hoạt động vào sinh ra tử đối mặt với kẻ thù không bao giờ anh khờ khạo và mất bình tĩnh. Bốn đợt cải cách ruộng đất làm ở các nơi, tin tức đến với anh không ít. So sánh với chính sách, anh tin mình thuộc thành phần bần nông, lại là người có công với cách mạng, với kháng chiến. Anh mong cải cách đến với quê anh từng ngày từng giờ. Nhưng khốn nạn thay, cải cách ruộng đất lại để anh em “tổ chức cũ” ra ngoài vòng pháp luật. Không hiểu sao vụ Hào Chót lại bất ngờ xảy ra. Ông ta xưa nay hiền lành, chịu khó lao động. Ruộng đất chẳng có bao nhiêu, nhưng vì biết làm thợ xây, nên đời sống cũng khá. Hào Chót vì có nghề nên đi đây đi đó nhiều, chắc ông biết những vụ truy bức, đấu tố, xử tử của các đợt ba, đợt bốn. Gia đình ông lại là cơ sở của chi bộ Quảng Hà này. Ông sợ mình sẽ bị xếp vào loại đối tượng của cải cách. Có phải vì thế mà Hào Chót tự tử chăng? Bây giờ ta nhận giết Hào Chót để lấp đầu mối chắc Đội nó nghe, vì trăm lần truy hỏi chúng đều hướng vào việc này. Có lúc chúng đã trắng trợn mớm cung. Không đời nào, một đảng viên như ta lại làm cái trò hèn mạt như thế! Nhưng phải tìm cách mà kéo dài mạng sống.

Vũ Long thấy Tịch đã định thần. Anh ra lệnh cho du kích dựng Tịch dậy, rồi chỉ vào mười ba nhân chứng đang ngồi co rúm bên cạnh.

- Sao, anh Tịch, hôm giết Hào Chót anh giao việc cho những thằng này ra sao?

- Thưa Đội, đi ám sát không bao giờ con lại dám đem nhiều người như thế! Đội cân nhắc lại, Đội thương!
- Thế một, hai người, anh khai rõ ra!

- Tất cả những đứa kia, không đứa nào dám giết người ạ!

- Tiên sư mày phản cung! Bốp!

Nguyễn Tuấn chửi tục, cầm lọ mực ném vào giữa trán Nguyễn Văn Tịch. Tịch quay đơ ra đất, máu và mực loang trên mặt, mắt trợn ngược, miệng xè bọt nhãi. Nông Văn Nhàu ra múc gầu nước đổ vào mặt Tịch, máu và mực loang xuống nền nhà. Tịch cố trút bỏ những tâm tưởng ra ngoài thể xác, anh thiếp đi một giấc dài. Thế là cuộc truy hỏi Tịch lần thứ một trăm lẻ năm lại phá sản.


*


Không đời nào Nguyễn Tuấn lại chịu để phá sản cái “tác phẩm hồ sơ” của Tịch mà anh đã dày công xây dựng trong mấy tháng nay. Anh đã cam kết với Cụm trưởng Thoan, với Ban chỉ huy Đội, sẽ làm bằng được. Giả dụ nếu vụ Hào Chót không thành công thì hồ sơ của Tịch cũng chỉ thiếu có phần hiếp dâm, anh sẽ về dỗ Nguyễn Thị Thuận lên tố cáo “có một buổi sáng mù trời Thuận đi tát vũng một mình, gặp Tịch đi công tác qua đã đè Thuận xuống bờ ruộng!” Nếu cấp trên đòi khám Thuận xem đã mất trinh hay chưa thì tối nay Tuấn sẽ làm cho Thuận mất trinh. “Thủng nồi vơ rế” nếu Tịch không bị tử hình cũng phải tù chung thân chứ không thể tha bổng.

Nhưng Nguyễn Tuấn chưa phải chịu xuống thế như vậy. Truy bức dụ dỗ đều không ăn thua, bấy giờ chuyển sang “đấu sức.” Mà đấu sức, Tịch không thể sánh được với Tuấn. Tuấn kém Tịch những mười tuổi, đang thời trai trẻ. Tuấn, con một gia đình giàu có, được nuôi dưỡng chu đáo. Bố mẹ Tuấn có ruộng đất ở làng Vũ Xái, ngoại thành Hà Nội, chuyên cho phát canh, mẹ có cửa hàng ở nội thành. Toàn quốc kháng chiến, bố lên hoạt động tại Bắc Giang. Tuấn được cơ sở kháng chiến nội thành đưa ra theo bố. Rồi đi học tại Khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc. Về, làm cán bộ ngành giáo dục Khu Ba, đi cải cách ruộng đất đợt hai tại Phú Thọ, rồi đợt ba, đợt bốn, đợt năm. Cải cách nói là phải đi ba cùng cực khổ, nhưng Tuấn có văn hóa, đợt nào cũng chỉ ba cùng qua qua, rồi lại sống ở văn phòng. Từ ngày về Quảng Hà, danh nghĩa Tuấn ở Thịnh Đa, nhưng từ khi Đội quyết định lấy nhà Đội San làm nơi giam giữ người, lại có Nông Văn Nhàu, một tay chúa tể nhậu nhẹt, Tuấn thường ở rịt đấy. Cái buồng của vợ chồng Đội San xưa, nay biến thành nơi ăn uống lén lút. Bữa thì bún lòng, cổ hũ chấm mắm tôm đồng (mắm tôm đồng vùng này cực kỳ ngon), bữa thì chân giò luộc, thịt chó luộc... Các thứ đều do Nhàu ra phố Trúc Sơn mua. Từ hôm tịch thu được cái xe đạp của Lý Đức, Nhàu đi lại càng thoải mái. Bát đĩa ăn xong, để luôn trong buồng, nửa đêm vắng vẻ Nhàu bưng xuống ao rửa. Bởi thế sức khỏe Tuấn mười, Tịch chẳng được một. Tuấn chủ trương đày đọa tinh thần sức lực của Tịch, bắt Tịch phải tự tay ký vào bản án mà Tuấn đã viết sẵn.

Cuộc hành hạ Tịch, Tuấn tổ chức tại nhà Đội San. Tính từ ngày bị Tuấn ném lọ mực vào trán đến nay đã là đêm thứ năm Tịch đối đầu với Tuấn, và là đêm thứ một trăm mười Tịch đối đầu với Đội cải cách. Hai tay Tịch tê liệt hoàn toàn. Tuấn không cho Tịch đứng, không cho Tịch ngồi, cũng không thể nào nằm lăn ra đất được. Dây trói hai cánh tay Tịch, Tuấn buộc lên xà nhà, bắt Tịch ngồi xổm vừa đủ căng, ngồi bệt hoặc nằm, dây treo hai cánh tay đau không chịu nổi. Trên đầu Tịch, Tuấn úp cái bàn gỗ lim, dài hai mét hai, Tịch không đứng được. Trên bàn, Tuấn để sẵn giấy tờ và rải chiếu căng màn ngủ. Tuấn đã chuẩn bị sẵn hộp mực giấu đút trong túi áo. Khuya, thấy Tịch lim dim ngủ, Tuấn đập gót chân xuống mặt bàn thật mạnh, thét:
- Tịch! Hôm ấy mày bóp cổ Hào Chót, hay thằng Ngọc bóp?

Tịch choàng tỉnh:
- Chúng con không ai giết Hào Chót!

- Sư cha mày! Mày phản cung. Ông cho mày đi theo Lý Đức. Xuống đấy sẽ hối.

Hỏi một câu thế thôi, Tuấn lại nằm dài trên bàn ngủ. Khoảng nửa tiếng, Tuấn lại nện gót chân:
- Mày bắt thang treo Hào Chót hay thằng Bông?

- Dạ, chúng con không giết Hào Chót!

Cứ thế, suốt đêm này sang đêm khác, Tuấn cứ hỏi vu vơ những câu như vậy. Đến lúc không thấy Tịch trả lời nữa, Tịch chỉ còn thoi thóp, nhanh như cắt, Tuấn vùng dậy mở hộp mực ấn dấu ngón tay cái của Tịch vào... Thế là xong. Phía trước Tuấn sẽ ghi chú “Tội phạm bị liệt hai tay không ký được nên đã điểm chỉ!” Hoàn tất việc mờ ám ấy, Tuấn nhổ nước bọt vào ngón tay cái của Tịch, lấy khăn mùi-soa lau cẩn thận. Tuấn gọi Nhàu vào thả dây treo trên xà nhà cho Tịch, gọi du kích lôi Tịch đi.

Hôm sau Nguyễn Tuấn đi lên Đoàn ủy sớm. Vụ Hào Chót có thêm Tịch và Ngọc mất đầu, sẽ còn cả Bông nữa. Bước hai cải cách ruộng đất ở Quảng Hà đã kéo dài bốn tháng. Kỳ này chắc chắn được chuyển bước ba.



*


Tỉ Lệ Địa Chủ



Đáng lẽ những cuộc hội họp tập trung đông đảo như hôm nay sẽ rất sôi động, hào hứng. Tiếng hát tiếng cười sẽ rôm rả đầy khí thế. Nguyễn Tuấn lại lên cầm càng đồng ca bài Ánh sáng Hồ Chí Minh. Nhưng Tuấn hôm nay như mèo bị cắt tai. Vì đợt công tác kéo quá dài, trì trệ, không tiến triển được, nên cán bộ, cốt cán và nhân dân đều tỏ ra mỏi mệt. Các kho tập trung của cải địa chủ thu được đã ẩm mốc, thóc lúa bị chuột ăn, lợn gà bị giết sạch, vẫn chưa tiến hành chia bôi được gì. Toàn Đội đang rúc vào tổ kén chưa có lối thoát. Vũ Tiềm phụ trách thống kê đứng lên giãi bày cái nỗi Quảng Hà còn thiếu mười bốn địa chủ nữa.

Tiềm người nhỏ bé, thanh mảnh, dáng thư sinh, da trắng mái, tiếng nhỏ nhẹ như đàn bà: “Theo thống kê, Quảng Hà có một ngàn hai trăm bốn mươi hộ. Tính tỷ lệ sáu phần trăm là địa chủ, Quảng Hà phải có bảy mươi tư phẩy bốn (74,4) địa chủ. Toàn xã ta mới tìm được năm mươi tám tên như vậy, còn thiếu mười sáu phẩy bốn tên (16,4). Cuộc họp thống kê Đoàn hôm ấy, anh em thống kê chúng tôi khiếu nại “sáu phần trăm địa chủ ở nước ta là cao quá,” Đoàn đã kịp thời thỉnh thị lên. Cấp trên đã hạ xuống năm phần trăm. Tôi có nghe lỏm năm phần trăm, “cố vấn” không đồng ý, nhưng cấp trên vẫn quyết. Nếu năm phần trăm thì Quảng Hà còn thiếu mười bốn tên chẵn. Tức là ta phải có bảy mươi hai tên. So với tỷ lệ sáu phần trăm ta rút được hai phẩy bốn tên (2,4).”

Tiềm trình bày dài dòng và tỉ mỉ, không khí hội nghị yên thít. Mặt người nào cũng cúi gằm lấm lét nhìn Vũ Long như nhìn con hổ đói đang thu mình chuẩn bị vồ mồi. Chợt Vũ Long vùng dậy chỉ thẳng vào mặt Lò Văn An, cán bộ Đội, và Hà Văn Thảo, cốt cán của Mã Sơn:
- Mã Sơn tại sao không có địa chủ?

An lúng túng:
- Thưa đồng chí, Mã Sơn chỉ có mười bảy gia đình, toàn nghèo khổ mới ra ở trại từ ngày hòa bình lập lại đến nay. Theo điều tra của chúng tôi, chẳng ai có nổi một mẫu ruộng, trung nông, phú nông còn khó xét, nói gì tới địa...

- Không được! Đã có nước là phải có cá. Có nông dân là phải có địa chủ! Mã Sơn phải nhận một địa chủ, không có thì các anh về Trại Bùi mà kêu.

Trại Bùi là trại giam của Đoàn ủy. Những tội nhân chưa thành án thường đem gửi tại Trại Bùi. Tịch và Ngọc hiện đang bị giam ở đó. Nói “về Trại Bùi mà kêu” là một sự đe dọa trắng trợn. An cúi gằm mặt không dám hé răng. Vũ Long quét ánh mắt nảy lửa sang phía Nhu, Tần: - Tám mươi sáu gia đình ở Đầm Mơ tại sao mới có hai địa chủ? Các anh làm như chó ỉa thế, ăn không thấy đau cơm của nông dân à? Đầm Mơ phải nhận thêm hai địa chủ!


Nhu, Tần ngồi như trời trồng. Vũ Long thấy việc trấn áp phủ đầu của mình có hiệu quả, anh giở sổ đọc luôn số địa chủ do anh và Ban chỉ huy Đội gán cho các xóm: “Liên Trì: hai; Đình: hai; Tam Tỉnh: hai; Sộp: một; Chợ: một...” Luồng ánh mắt của Vũ Long dịu xuống âu yếm nhìn Nguyễn Thị Thuận, cốt cán trung kiên của Nguyễn Tuấn. Thuận đang là con cưng của Đội, đã được Nguyễn Tuấn cho đọc Điều lệ Đảng để kết nạp, chuẩn bị làm Chủ tịch xã, mặc dầu Nguyễn Tuấn chưa bao giờ là đảng viên. Trong cải cách ruộng đất, không phải là đảng viên vẫn có quyền tuyên bố khai trừ đảng viên và tuyên truyền kết nạp Đảng. Do đấy, quần chúng mới phong cho là “nhất Đội nhì Trời.” Thấy Vũ Long âu yếm nhìn mình, cái nét mặt cóc sỉn đen đủi và cái thân hình nhỏ bé như củ khoai của Thuận cũng trở nên ngời ngời, đôi má ửng hồng. Thuận đứng lên:
- Thịnh Đa của chúng em đã có ba địa chủ, trong đó chưa tính Lý Đức, bây giờ em xin nhận bốn địa chủ nữa ạ!

Cả Ban chỉ huy Đội vỗ tay, nhưng tuyệt nhiên hội nghị không ai vỗ tay theo. Vũ Tiềm hấp tấp đứng lên, quản bút gõ gõ vào cuốn sổ:
- Thịnh Đa nhận thêm bốn nữa, thế là vừa khuýp con số mười bốn...

Vũ Long gạt ý kiến đang nói dở của Tiềm:
- Không được, ta không chấp nhận tỷ lệ năm phần trăm, ta phấn đấu bằng được sáu phần trăm. Quảng Hà phải có bảy mươi tư phẩy bốn địa chủ. Xóm Thượng tại sao không nhận thêm hai địa chủ nào? Xóm Thượng mới có một địa chủ, nay nhận thêm hai nữa.

Lúa đứng dậy phát biểu không hề xin phép ai:
- Xóm tôi bán nông bán thương, không lấy đâu ra nhiều địa chủ thế. Địa chủ phải có tiêu chuẩn ruộng đất, tiêu chuẩn bóc lột. Đấu tranh không phải là cái trò bắt chẹt, không phải thứ ăn không nói có, cướp đoạt của cải nhà người ta. Chị Thuận chị ấy muốn xóm chị có nhiều địa chủ để cướp được nhiều ruộng đất, được nhiều miếng ăn, xóm Thượng chúng tôi không thèm! Xóm Thượng chúng tôi xin nhường nốt hai địa chủ ấy cho Thịnh Đa.

Vũ Long hét lên:
- Chị Lúa! Chị là cốt cán không được phá rối hội nghị.

- Tôi không phá rối, làm cái gì cũng phải đúng chính sách. Địa chủ phải có tiêu chuẩn, địa chủ không phải trên trời rơi xuống.

- Tôi đuổi chị ra khỏi hội nghị.

- Chẳng đuổi tôi cũng chẳng hơi đâu dự cái thứ hội nghị này -Vừa nói, Lúa vừa rút cái nón ở gầm bàn ra, bước ra khỏi ghế ngồi - Từ nay tôi xin trả cái chức cốt cán cho Đội, tôi về chịu khó bắt cua bắt ốc, đi chợ đi búa kiếm cơm nuôi chồng nuôi con. Tôi không màng cái thứ của phi nghĩa, thất đức! Xin chào các anh các chị!

Lúa úp nón lên đầu, móc quai xuống hàm, vùng vằng đi ra. Hội nghị yên phăng phắc nhìn theo Lúa ngúng nguẩy đôi mông. Vũ Long mặt như miếng sắt nguội, ra lệnh:
- Thôi, các đồng chí về cứ thế mà làm, ai không làm được thì liệu chừng!

Mọi người về hết. Ban chỉ huy Đội lại vào hậu cung Đình Cả họp tiếp.


Ng
ô Ngọc Bội

Gợi giấc mơ xưa. Lê Hoàng Long. Vũ Khanh


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn