DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,728,153

Tôi Đếm Cát Sa Mạc Tôi (2) - Lưu Vỹ Bửu (cựu hs TCV)

01 Tháng Mười Hai 201212:00 SA(Xem: 11424)
Tôi Đếm Cát Sa Mạc Tôi (2) - Lưu Vỹ Bửu (cựu hs TCV)
Tôi Đếm Cát Sa Mạc Tôi




blank



2

 

 

“Tác phẩm” đầu tay của tôi là bài thơ tứ tuyệt, thất ngôn. Bài thơ này được tôi “sáng tác” ngay trên bảng đen trong phòng học. Nói là phòng học nhưng thực chất đó là nơi qua lại của những người trong gia đình. Vì thế “độc giả” đầu tiên và duy nhất của bài thơ chính là mẹ tôi. Bài thơ này tôi đã quên 3 câu đầu, chỉ nhớ câu cuối cùng. Câu này lại là câu “độc giả” đầu tiên ấy “phê bình” là: “Sao giống thơ Thế Lữ vậy con?”. Tôi cãi: “Con tự nghĩ ra mà! Mà Thế Lữ là ai vậy mẹ?”. Mẹ tôi lắc đầu: “Mẹ cũng không biết Thế Lữ là ai nhưng câu này đúng là của ổng”. Tôi nhớ, sau đó mẹ tôi đọc cho tôi nghe bài thơ này. Nghe xong, tôi... chùi bảng, coi như “tác phẩm đầu tay” đã bị mẹ tôi – nhà biên tập công tâm - vất vào sọt rác. Đó là mùa hè năm tôi vừa học xong lớp Nhất (lớp 5 bây giờ), từ giã bạn bè và ngôi trường Vân Côi để bước vào trường trung học lớn nhất tỉnh hồi ấy: Trường trung học Trần Cao Vân. Câu thơ giã bạn “bận lòng chi nữa lúc chia phôi” tôi viết trong vô thức, có lẽ do nghe mẹ hát ru hoài, tôi nhập tâm lúc nào chẳng hay.

Mẹ tôi học chỉ tới lớp 3, vừa đủ biết viết, biết đọc nhưng thuộc khá nhiều thơ, nhiều nhạc. Bà hay ru em tôi bằng bài “Nàng gửi con về nương xóm cũ; Nghẹn ngào trở lại đầy xe nôi...” của T.H, bài “Giây phút chạnh lòng” của Thế Lữ và những bài ca dao quen thuộc như: “Ví dầu cầu ván đóng đinh; Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi; Khó đi mẹ dắt con đi, Con thi trường học mẹ thi trường đời” hay “Trời mưa bong bóng phập phồng; Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?” rồi chuyển sang: “Gió đưa bụi chuối sau hè; Anh theo vợ bé bỏ bè con thơ”.... Đặc biệt, mẹ tôi thuộc khá nhiều nhạc Văn Cao, và hay ngân nga bài “Nắng chiều” của ông bạn của bà: nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn. Tôi nghĩ, sau này tôi yêu thích thơ ca, có thể ảnh hưởng từ mẹ. Bà mẹ nào cũng yêu thương con mình. Mẹ tôi cũng vậy. Bà thương con theo cách rất Việt Nam: lo cho con miếng ăn, cái mặc một cách tốt nhất mà bà có thể làm được. Cái gì làm được thì không bao giờ bà nhờ cậy con. Những món ngon vật lạ chị em tôi thưởng thức được phần lớn từ do tay mẹ làm nên chứ không phải ở nhà hàng. So với bạn bè hồi ấy, tôi may mắn và diễm phúc hơn là có một người mẹ thương con hết mực và rất giỏi nấu ăn, từ món bình dân nhất đến món chỉ có trong các nhà hàng sang trọng.


blank

hình minh họa



Trở lại ngôi trường tiểu học Vân Côi: Tôi tin rằng, mãi mãi sau này, nếu trí nhớ còn, tôi không bao giờ quên những tháng ngày ngồi dưới ngôi trường này. Những lứa học trò từng trải qua những tháng năm đầu đời của mình tại đây sẽ không bao giờ quên những giờ học làm người mà sau này, khi lớn lên, trở thành hành trang, thành lẽ sống và là nhân cách của họ. Môn học nào cũng quan trọng nhưng theo tôi, các môn học giúp hình thành nhân cách một con người bao giờ cũng bắt đầu từ bậc tiểu học và khởi sự bằng những điều hết sức nhỏ nhặt, bình thường trong cuộc sống. Tôi luôn nhớ đến bài học được các soeur giảng từ cuốn Tâm Hồn Cao Thượng qua bản dịch của Hà Mai Anh và cuốn Luân lý giáo khoa thư. Các bài học về lòng nhân ái, về sự khiêm nhường, về sự tôn trọng,... được học từ bậc tiểu học sẽ giúp con người khi lớn lên, trở thành những công dân cần có của bất kỳ xã hội nào. Các soeur dạy tôi: Phải đứng nghiêm khi nghe quốc ca; ra đường gặp đám tang đi qua phải giở mũ cúi chào người đã khuất và chia sẻ nỗi đau với tang quyến; gặp người có tội bị cảnh sát bắt giải đi đừng nhìn họ bằng đôi mắt khinh bỉ mà hãy thương yêu họ vì biết đâu, họ không phải là tội nhân hoặc có thể do phút giây không kiềm chế được, họ phạm tội và bây giờ họ đang hối hận, ăn năn về hành vi của mình;... Những bài học đầy tính nhân văn ấy đâu phải chỉ dành cho giáo dục của một chế độ xã hội riêng nào mà đã là người thì đều cần được dạy dỗ như vậy. Các soeur dạy chúng tôi: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng” hay “Một miếng khi đói bằng một gói khi no” khi nghe tin bão lũ vừa gây ra cảnh màn trời chiếu đất ở đâu đó. Các soeur còn cẩn thận nhắc nhở: “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” và hơn thế nữa, dạy chúng tôi: “Cách cho hơn của cho”. Những bài học vỡ lòng thấm đẫm tình người, tạo nên những tâm hồn vị tha, bao dung và đáng để xã hội, để mọi người tin cậy.

Nhớ chuyện cũ lại dắt dây chuyện mới! Báo chí vừa loan tin, một nhà giáo ưu tú, một vị tiến sĩ và là quan chức cao cấp của Bộ Giáo dục viết sách giáo khoa dạy học sinh tiểu học, đại loại rằng: “Hai bàn tay có 10 ngón, lấy dao chặt mất hai ngón, hỏi còn mấy ngón?”. Trước đó nữa thì học sinh tiểu học được dạy: “Trận đầu diệt được 7 tên địch, trận sau diệt thêm được 6 tên nữa. Hỏi cả hai lần diệt được bao nhiêu tên địch?”. Dạy như thế hèn chi cứ lật trang báo mỗi ngày, những tin đâm chém nhau, cướp giật, giết người cứ nhan nhản phát lợm! Dạy như thế hèn chi khi lớn lên, vào đời người ta cứ đua nhau chà đạp đồng loại để vinh thân phì gia. Và để đạt được điều đó, người ta sẵn sàng dối gạt nhau, lừa đảo nhau, nịnh bợ nhau, triệt hạ và nói dối, làm dối không chút hổ thẹn! Khi còn đứng trên bục giảng, tôi phải cố gắng lắm mới dằn lòng phẫn nộ trước những bài giảng cũng như cách “liên hệ thực tế” của nhiều giáo viên khi thực hiện chuyên đề này trong tiết lên lớp theo yêu cầu của ngành.

Có một bài học được các soeur dạy mà suốt đời tôi không bao giờ quên. Đó là câu chuyện về Tổng thống Carnot nước Pháp (năm 1887): Trong một lần kinh lý, qua trường cũ, Carnot ghé vào thăm trường. Gặp người thầy dạy mình khi xưa, Carnot kính cẩn chào, lễ phép thưa: “Con là Carnot đây, thầy còn nhớ con không?”. Sau đó, ông quay sang học sinh nói rằng: “Ta bình sinh chịu ơn cha, ơn mẹ, sau ơn thầy ta đây, vì nhờ có thầy dạy bảo, ta mới làm nên sự nghiệp ngày nay.”. Không biết bây giờ có được vị nào như Carnot không nhỉ? Tôi không rõ nhưng tôi chứng kiến một quan chức cũng thuộc loại cấp cao, khi gặp lại thầy cũ đã ngoảnh mặt làm ngơ. Vợ ông, cũng là học trò cũ, trách: “Ông quên thầy cũ rồi à?”. Ông trả lời: “Không quên nhưng không dám nhận vì sợ bị nhờ vả!”. Trách kẻ vong ơn nhưng cũng phải cảm thông vì sống bây giờ người ta coi trọng “nhất thân nhì thế” (!?).

Tôi lại lan man rồi. Trí nhớ không đi bằng đường thẳng mà cứ quanh co, vui đâu ghé đó, lắm khi làm mất thì giờ và nhất là làm tôi sa đà vào những chuyện không đâu! Biết nhưng không cưỡng (và thực lòng, cũng không muốn cưỡng, không có sức cưỡng) vì những chấm phá ấy là phần phải có của cuộc đời mà. Giống như chặng đường dài non một cây số từ nhà tôi đến trường Vân Côi ngày xưa nhỏ bé nhưng lại là một phần của cuộc đời tôi, một phần quan trọng và đẹp đẽ nhất.



blank



Ngày đó, con đường đến trường giống như con đường làng bây giờ: nhỏ hẹp và hai bên đường nhà cửa còn thưa thớt. Những ngày mưa, nhất là những cơn mưa giông mùa hè, nước chảy lênh láng hai bên đường vì hồi ấy chưa có vỉa hè, chưa có cống thoát nước. Đó là những giờ vui của tôi và bạn bè. Niềm vui bất tuyệt của trẻ thơ. Tôi đi học với hai chị nên sách vở được hai chị bỏ chung vào cái cặp da. Gặp lúc trời mưa tôi cởi phăng áo ra, chỉ độc một chiếc quần sort, cứ theo dòng nước mưa và nước từ đồng ruộng hai bên đường ngập tràn để bắt cá. Những con cá rô, cá mại bé xíu ham vui, theo dòng nước bơi từ ruộng vào phố, đã cho tôi một trò chơi thú vị. Sau này, Từ Huy viết bài “Quê hương tuổi thơ tôi” có nhắc lại trò bắt cá giữa đường. Tôi quen biết Từ Huy khi cả hai đã lớn nhưng tôi tin, Từ Huy cũng đã giống tôi, từng bắt cá giữa đường, chuyện không phải ở đâu cũng có và chỉ có ở tuổi thơ thôi! Những con cá rô bé tẹo bắt được, tôi bụm trong tay, cắm đầu chạy vội về nhà bỏ vào thau nhựa rồi đi tìm những chai sérum thủy tinh mẹ tôi thường dùng đựng nước mắm, lấy ra làm hồ nuôi cá. Nhìn cá trong chai loay hoay tìm đường thoát ra, tôi hả hê vui sướng vì “chiến công” của mình...

Những con cá rô bé tẹo tội nghiệp đó sống thêm chừng ba ngày dưới sự “nuôi nấng” của tôi thì từ giã cõi đời. Những chú cá mại thì mệnh yểu hơn. Tuổi thơ chỉ cho phép tôi buồn ngắn ngủi vì biết bao trò chơi khác đang chờ sẵn. Bắn bi, tôi là tay bi có hạng trong lớp và trong xóm. Đánh đáo, tạt lon, đánh trổng cũng vậy! Hai trò chơi tôi cực kỳ yêu thích nhưng lại vụng về là thả diều và đá bóng. Hai món này không chơi trong sân trường được nhưng lại liên hệ mật thiết, thậm chí luôn có những đứa bạn trong lớp. Tôi nhớ lần “thách đấu” với đám học sinh dưới phường Một, tức xóm dọc bờ sông Tam Kỳ, từ rừng Cừa đi xuống. Tôi trốn mẹ tôi, giữa trưa kéo theo thằng em kế, mấy đứa hàng xóm và bạn học ở khu Đức Trí mang banh xuống quần nhau với bọn thằng Phò, thằng Thượng... Trận đó, xóm phường Một đá bọn tôi te tua. Bọn nó mạnh và to con hơn nên xơi tụi tôi như xơi cà rem. Ức vì thua, về nhà lại bị mẹ quất quắn mông vì tội giữa trưa rủ em đi chơi.

 Không hiểu ai bày vụ chia xóm mà thời ấy, cứ vài trăm mét là chia thành một xóm. Nhà ba mẹ tôi cách trường Trung học tư thục Đức Trí (bây giờ là Trường Trung học Phan Bội Châu) 3 căn nhà nên được gọi là xóm Đức Trí; trên nhà tôi chừng hai trăm thước là xóm chùa Tịnh Độ, dưới nhà tôi cũng chừng đó mét là xóm sân banh (vì có sân đá bóng gần đó). Dưới chút nữa là xóm bà Hòa (có chợ nhỏ mang tên bà Hòa), đối diện với xóm này là xóm nhà thờ (tức khu sau lưng nhà thờ Tam Kỳ). Lâu lâu, các xóm rủ nhau đá banh và hầu hết các trận đấu, phần thua thuộc về xóm tôi. Không thua sao được khi chúng tôi toàn nhỏ con, chỉ cần va chạm nhẹ là té. Thua thắng là bình thường. Tức là bị chọc quê. Chịu quê không xiết thì nổi khùng lên, lao vào đấm đá. Đá banh còn thua, nói gì đến đến việc động tay động chân. Thế là thua toàn diện. Về nhà, mẹ tôi thấy áo quần bê bết đất cát, chân tay bầm dập liền tra hỏi. Hỏi xong thì mười lần như chục, tôi phải leo lên chiếc giường nan tre, nằm úp mặt xuống và “mẹ chưa đánh roi nào đã khóc”. Khóc để cầu cứu bà nội tôi can thiệp. Vậy mà xong trận nào là quên trận đó, cứ tiếp tục như chưa hề xảy ra chuyện gì!

 Tuổi thơ tôi, hôm nay hiển hiện một cách rõ ràng và nhiều cảm xúc trái chiều. Nhưng, tôi nhận thấy mình đang sống trong nỗi tiếc nuối vô bờ. Ai cũng tiếc thời hoa mộng một đi không trở về nhưng tôi lại có một tâm trạng khác. Tôi tiếc đôi sandal mẹ tôi mua dịp năm tôi lên lớp Nhì. Đôi sandal bằng da, màu vàng, đế màu trắng làm bằng chất liệu gì không rõ. Đôi sandal đó tôi không biết mẹ mua bao nhiêu tiền, chỉ biết khi đưa cho tôi, mẹ dặn: “Con nhớ giữ cẩn thận nghe. Mắc lắm đó!”. Hai chị tôi ganh tỵ và khi tôi mang đến trường thì cả lớp (và hình như cả trường nữa thì phải) chỉ mình tôi có. Tôi sung sướng và hãnh diện có đôi giày mới. Vậy mà một tuần sau, tôi làm đứt quai vì lấy nó tạt lon, giành nhau với mấy đứa bạn. Mẹ tôi chỉ nói cộc lốc: “Đứt giày thì mang dép đi học!”. Phải chi mẹ đánh vài roi như những lần trốn mẹ đi đá bóng, đi tắm sông thì tôi đỡ đau hơn nhiều.



blank

hình minh họa


Tôi tiếc ngôi nhà tranh vách đất của ba mẹ tôi. Căn nhà này khá rộng, phía trước ba tôi mở tiệm chụp hình. Phía sau là nơi sinh hoạt của gia đình tôi. Tại đây, tôi lớn lên và bắt đầu biết suy nghĩ, có trí khôn và hình thành những tình cảm thiêng liêng, gắn bó, ám ảnh tôi suốt cuộc đời. Căn nhà như bao căn nhà khác ở địa phương một phần phố ba bốn phần quê này lúc bấy giờ, lợp bằng tranh, vách đan bằng tre già, trét bùn trộn rơm và phân trâu thật dày nên nhờ vậy mà mùa nắng thì mát, mùa đông thì ấm. Sát bên nhà tôi là nhà chú tôi rồi tới nhà cô tôi. Tôi nhớ hồi đó còn rất ít nhà, đường phố chưa có điện, buổi tối bà nội và cô Út dọn qua bên kia đường, trước nhà ông Sửu là một khoảng sân rộng, bà bày một bếp than đỏ rực, nướng bánh khoai lang bán cho khách qua lại. Bánh khoai lang là món ăn vặt bình dân nhất bấy giờ, cô Út tôi nướng mỗi lần 2 cái, cái đầu cuộn lại như gói trầu, cái sau cũng vậy nhưng lớn hơn rồi lồng hai cái vào nhau. Mùi khoai nướng cộng với mùi gừng bốc lên thơm lừng, ai đi ngang qua cũng phải dừng lại. Tôi và mấy đứa cháu nội, ngoại cứ bu quanh đó, chờ cái nào cuốn bị bể là chìa tay ra, xin bà, xin cô.

Bà nội tôi một đời lam lũ. Ông nội tôi đúng là mẫu đàn ông của thời phong kiến. Ông suốt ngày mê mải bên bàn mạt chược, mọi việc trong nhà một tay bà tôi. Làm thế nào nuôi được 11 người con với một ông chồng lấy cờ bạc làm lẽ sống? Nghĩ đến cảnh đó, tôi thấy nể phục bà. Bà nội tôi người Điện Bàn, chính gốc Gò Nổi, Kỳ Lam cần cù chịu thương chịu khó và không một lời than vãn, kêu ca. Đó là tôi nghe các cô, các chú tôi kể lại chứ hồi đó tôi nhỏ xíu, chẳng biết gì về bà cả. Thời kỳ tiêu thổ kháng chiến, từ Hội An, bà đưa con cháu đi khắp các vùng tự do. Từ Cầu Chìm, Trung Phước hay tản cư vào Khánh Thọ, Cây Sanh, ở đâu bà cũng tìm cách mưu sinh, hết nuôi con đến nuôi cháu. Tôi nghĩ, một đời bà ngày vui chẳng tày gang, còn nỗi cực nhọc thì đoạn trường không sao kể xiết. Về cuối đời, bà sống với gia đình tôi, hằng ngày ra vào gặp gỡ, tôi phải công nhận bà rất đẹp. Không biết hồi còn con gái bà đẹp cỡ nào chứ khi về già, bà rất đẹp lão, lúc nào cũng cười. Những lúc không biết đi đâu chơi, tôi ngồi bên bà, xoáy trầu cho bà rồi nghe bà kể chuyện ngày xưa. Mỗi lần nhìn bà cười, miệng múm mím vì không còn răng, lòng tôi thấy vui vui và thương bà nhiều hơn.

Bà tôi ngày một yếu, còn cô út theo chồng vào Quy Nhơn, nghề làm bánh tráng khoai lang nướng coi như tuyệt đường. Sau này, khi lưu lạc vào Sài Gòn, thỉnh thoảng nhớ bánh khoai, tôi nhờ mấy đứa em mua gửi vào. Tam Kỳ bây giờ cũng không còn ai làm. Muốn mua phải nhắn vào Bình Định, nhờ con cô tôi mua giúp. Bây giờ ăn để đỡ nhớ chứ không thấy ngon như ngày xưa nữa. Cái lưỡi bị cuộc đời tẩm thuốc độc bằng mọi thứ mặn ngọt chua cay, từ sơn hào hải vị đến mắm muối khoai củ khiến nó trơ lỳ ra, hư hỏng đến mất hết cảm giác thưởng thức. Vì thế mỗi lần ngồi nhâm nhi món ăn của ngày thơ ấu thì cứ ngẩn ngơ, bồn chồn lo lắng như thể vừa gặp người bạn tri âm nhưng sợ họ không nhìn ra mình, sợ họ làm mặt lạ với mình.

Căn nhà của ba mẹ tôi bị cơn bão năm 1957 quất cho một roi quá mạnh khiến nó sụm bà chè. Trong trí nhớ tôi cỏn nguyên cảnh gia đình tôi và những nhà gần đó tránh bão bằng cách chui vào chiếc xe đò chở khách của ông Sửu, đóng chặt cửa, mặc gió hú gào, mưa quật tơi tả ngoài kia. Khi bão tan, bước ra khỏi xe, ba tôi kêu lên một tiếng hãi hùng: Nhà tôi và nhiều nhà khác bị bão đánh sụp! Vậy mà, ngay sau đó, ông lấy máy ảnh, chụp cảnh nhà sụp đổ, rọi ra, ghi chú cẩn thận: “Tan tành sau trận bão” như thể ông là nhà báo săn ảnh vậy! Ba tôi ít nói, gần như lầm lì cả ngày nhưng rất hiền và đầy chất nghệ sĩ. Trong mọi hoàn cảnh, ông đều tìm ra điều tốt đẹp, điều hy vọng để sống. Gia đình có 8 người con, mình ba tôi ngược xuôi để lo miếng ăn, cái mặc cho cả nhà mà chưa hề một lời than phiền. Và cũng chính ông, ngay lúc tuổi về chiều vẫn thường nhắc nhở, hướng dẫn tôi những khi thấy tôi ngã lòng. Một lần, gần như duy nhất, tôi thấy ông trầm ngâm, nỗi thất vọng hiện rất rõ ràng trên gương mặt ông. Đó là lần ông mang cả tài sản gom góp bao nhiêu năm để “hợp doanh” với một đơn vị bộ đội theo lời đề nghị của người bạn từng “9 năm chiến đấu” và đang là thủ trưởng đơn vị này. Việc hợp tác đang trong quá trình đầu tư xây dựng thì người bạn ông được điều chuyển đi nơi khác và “công ty hợp doanh” đó cũng không còn và tất nhiên số tài sản ấy cũng tiêu tan theo. Chúng tôi không dám nói điều gì, dù đó là lời chia sẻ, an ủi ông. Bởi, tài sản mất đi, với ông và với gia đình tôi là quá to lớn nhưng to lớn hơn là niềm tin trong ông bắt đầu rạn vỡ. Đó cũng khởi đầu một giai đoạn cực kỳ khó khăn của gia đình tôi.

Ba tôi vốn lạc quan. Ông lại tiếp tục nghĩ đến công việc khác để nuôi sống vợ con. Ông làm đủ nghề và những lúc cao hứng, ông ngân nga những giai điệu nhạc tiền chiến trữ tình. Những lúc đó, nhìn gương mặt ông, tôi thấy sự trẻ trung, lãng mạn và đầy sức sống lồ lộ, phát tiết hẳn ra. Tôi yêu ba tôi theo kiểu một tín đồ yêu giáo chủ của mình. Tôi yêu mẹ tôi bằng tình yêu của đứa trẻ thơ đòi vú mẹ. Hai tình yêu ấy bổ sung cho nhau, theo thời gian, kể từ khi tôi có trí khôn cho đến lúc từng trải cuộc đời và cả lúc ba mẹ tôi không còn nữa, tình yêu ấy vẫn tồn tại, vẫn lớn thêm mỗi ngày. Sau này, mỗi lần về thăm quê, viếng mộ ông bà, cha mẹ, tôi đặc biệt thích ngồi bên mộ ba mẹ tôi, nói chuyện ngày xưa của gia đình tôi, nhắc từng câu chuyện vui, từng mẩu chuyện buồn.



blank



Người đời thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Tôi là đứa con vô phúc của ba mẹ tôi, dù ông bà lao tâm khổ tứ cầu tự. Không phải do kỳ vọng quá nhiều ở tôi mà thực ra, trong nhà có 8 chị em, tôi lại là con trai lớn nhưng hậu đậu, vô tâm nhất nhà. Hầu như mọi chuyện trong gia đình, từ việc làm ăn, chăm sóc nhà cửa, cha mẹ đều cậy nhờ các chị và em tôi. Tôi chỉ có thể giúp ba mẹ tôi một vài việc lặt vặt như “đối ngoại” và mỗi khi gặp bà con, bạn bè văn nghệ của ông bà, tôi được mang ra “khoe” như một “sản phẩm” nghệ sĩ. Ba tôi không ép buộc tôi phải chọn nghề gì để sống. Ông cho phép tôi thích nghề gì thì cứ chọn. Mẹ tôi thực tế hơn, thấy tôi lông bông cà phê cà pháo, kết bạn kết bè văn chương nên sợ tôi hư hỏng. Bà muốn tôi trở thành một thầy giáo sống an phận với đời. Vì thế, khi thi đậu tú tài, vâng lời mẹ, tôi ra Huế thi vào trường Đại học sư phạm và may mắn trúng tuyển. Nhưng, sau 10 năm làm thầy giáo, tôi lại phụ lòng mẹ vì không an phận được với bảng đen, phấn trắng dù tôi đã cố gắng và đã cống hiến hết sức mình trong suốt 10 năm đi dạy đó.

Ba tôi ít nói nhưng tôi biết, ông thích tôi theo con đường văn chương hơn. Ông cũng khá rành về kinh dịch, về lý số nên có vẻ như chấp nhận mệnh số của tôi thì phải. Năm 1968, ông đi Sài Gòn mua chiếc Honda 4 bánh (loại xe bây giờ ở Sài Gòn dùng làm xe buýt nhỏ) về làm xe khách chạy tuyến Tam Kỳ - Chu Lai. Ông cho hai anh em tôi đi chơi. Ông đưa tôi vào nhà sách Lê Lợi, cho phép tôi thích cuốn nào thì mua. Rồi, ông dẫn anh em tôi dạo qua đường Nguyễn Huệ để ngắm cảnh ngắm người. Lần đó, ông thấy tôi tần ngần trước tiệm bán nhạc cụ, đang bày bán chiếc piano tuyệt đẹp, ông hỏi tôi thích không? Tôi gật đầu nhưng có lẽ khi thấy bảng giá, biết không thể với tới, ông dắt anh em tôi đi, hẹn: “Khi nào mình làm nhà mới rồi mua chứ bây giờ mua về không biết để đâu?”. Tôi biết đó là câu nói cho qua chuyện vì nhà tôi sau khi bị bão đánh sụp, ba tôi đã làm lại nhà mới to lớn, kiên cố hơn. Bù lại, ông mua cho tôi chiếc máy cassette Sanyo, loại dành cho cá nhân, vừa dùng pin vừa dùng điện. Lúc đó sở hữu chiếc máy này là điều ao ước của nhiều người. Bạn bè tôi, chẳng mấy đứa có. Đã vậy, ông còn mua thêm cả chục cuốn băng nhạc tiền chiến. Món quà quý báu này ông dành cho tôi và tôi đọc được qua tình cảm thâm trầm, kín đáo ấy một sự gửi gắm và kỳ vọng của ông vào tôi, đứa con trai ông hoài mong sẽ làm rạng rỡ gia đình, sẽ làm ông vui lòng.

Vậy mà, tôi đã phụ lòng ba mẹ tôi! Những tháng ngày cuối đời, ba mẹ tôi vẫn cứ nhắc về tôi trong nỗi lo lắng và thương yêu đến độ các em tôi phải kêu lên: “Anh già rồi mà ba mẹ cứ coi như con nít không bằng!”. Hôm về chịu tang ba rồi tang mẹ, tôi chợt nhớ đến câu chuyện các soeur kể ngày xưa: “Một đứa con lêu lổng, bỏ cha mẹ ở quê nhà, đi lang bạt kỳ hồ. Cho đến khi mỏi gối chùn chân, thân tàn ma dại anh ta mới chịu quay về thì cha mẹ đã già yếu lắm rồi. Bà con họ hàng trách móc, muốn xua đuổi anh đi nhưng người cha ngăn lại, nói trong hơi thở đứt đoạn của mình: Đó là con ta...”. Tôi không như người con này nhưng thật lòng, tôi chẳng khác gì đứa con ngỗ nghịch, suốt một đời, không mang đến cho cha mẹ niềm vui nào.

Tôi đúng là đứa con hư, hiểu theo nghĩa bình thường, đơn giản nhất...

Lưu Vỹ Bửu

(Cựu học sinh TCV)

TUỔI MƯỜI BA

Ca sĩ Thái Hiền - Tuổi Ngọc 1973

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Sáu 20186:45 CH(Xem: 27)
Bạn đi rồi điện thoại vẫn đổ chuông. Thứ đồ vật không biết buồn biết nhớ. (NHC)
18 Tháng Sáu 20187:24 SA(Xem: 70)
Hà Nội - Saigon - Nha Trang - Đà Nẵng. Nhân dân căm phẫn xuống đường.
15 Tháng Sáu 20184:11 CH(Xem: 98)
Có một mùa xa lắm. Phượng nở đỏ góc trường. Ve reo mừng rộn rã. Từng bước nhỏ thân thương. Líu lo giờ tan học. Rực trắng cả con đường. Mắt liếc dao lá trúc. Chém tim ai bị thương!
13 Tháng Sáu 20188:58 SA(Xem: 98)
Tháng sáu mưa chạm nhân thế. Những nỗi niềm riêng khó tả. Anh đi qua vùng sáng nhợt nhạt cuối ngày.
12 Tháng Sáu 201810:41 SA(Xem: 88)
cũng không có gì ghê gớm. khi tôi nói lái một chữ.