DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,397,245

Chùm bạn tuổi thơ - Trần Thế Phong, (cựu hs TCV)

Sunday, August 4, 201312:00 AM(View: 7470)
Chùm bạn tuổi thơ - Trần Thế Phong, (cựu hs TCV)

CHÙM BẠN TUỔI THƠ

 

Năm 1958 tôi thi đậu vào đệ thất trường trung học Trần Cao Vân Tam Kỳ. Một trường công lập đầu tiên của quận Tam kỳ, khi đó chưa là tỉnh Quảng Tín. Quê tôi là chợ Quán Rường thuộc xã Kỳ Mỹ, cách Tam Kỳ khoảng 8 cây số. Cha tôi không cho tôi đạp xe đạp sáng đi chiều về như mấy thằng bạn cũng đậu như tôi, nên phải ở trọ lại ăn học, cuối tuần mới được về thăm nhà.

 Tôi là thằng học trò nhà quê chính hiệu. Cha tôi gởi tôi ở trọ nhà bà Nhi. Bà Nhi có bà con xa xa với gia đình tôi. Nhà bà Nhi ở trên đường lên cây cừa (tôi quên tên đường) sát bên trường. Khu vườn nhà bà Nhi và trường Trần Cao Vân cách nhau một hàng rào. Có cây đa bên hông trường, chiều chiều chim sáo tụ về tranh chỗ ngủ nghe tiếng kêu buồn não nùng. Tiếng kêu của những đàn sao buổi chiều mùa đông trên cây đa trường Trần cao Vân mà thầy Trân Quý Sách ( nhà thơ Trần Hoài Thư) đã nhắc trong một bài thơ về trường Trần cao Vân. Chắc những học trò rời xa mái trường Trần Cao Vân, nhất là những học trò ở trọ nhà bà Nhi đều mang theo trong lòng tiếng sáo rừng, những chiều mùa đông trên cây đa bên hông trường Trần Cao Vân suốt cả cuộc đời.

 Lớp đệ thất hồi đó học buổi sáng từ thứ hai đến thứ sáu. Cứ mỗi chiều chủ nhật cha tôi chở xuống nhà bà Nhi ở lại ăn học và chiều thứ sáu cha tôi xuống chở tôi về nhà. Lần đầu tiên xa nhà tôi buồn kinh khủng, cứ trông đến thứ sáu là đợi cha xuống chở về. Tôi nhớ mẹ tôi, chị hai tôi và em tôi . Cuối tuần về lại quê Quán Rường là tụ tập bạn bè chia phe nhau đá banh ở sân ga An Mỹ và nhìn tàu lửa qua lại đổ khách về và đưa khách đi mỗi chiều, nhất là những chiều cuối tuần. Mỗi lần tàu đến và đi đều hụ còi vang inh ỏi. Xa quê hương, xa Quán Rường, mỗi lần ngồi nhớ lại. Tôi lại nhớ tiếng còi tàu dừng ở ga An Mỹ. Buồn não nùng. Buồn ứa nước mắt. 

 

Những ngày đầu xuống thành phố tôi còn bở ngỡ, rụt rè, khờ khạo, nhưng vài tháng thì được quen nhiều bạn bè cùng lớp, cùng trường, nên cũng đỡ buồn, đỡ quê mùa chất phát. Học tiểu học ở nhà quê làm sao không quê cho được, khi cha mẹ tôi, hàng xóm láng giềng tôi, là những người nông dân chân lấm tay bùn, chân chất thật thà. Học ở nhà quê còn đi chân đất, mặc quần tà lỏn, có bao giờ đánh răng bằng kem Hynos hình ông Chà Và và bàn chải đâu. Mỗi ngày chị hai tôi bắt tôi phải đánh răng bằng xác cau khô. Xuống trọ học ở Tam Kỳ hấp thụ được văn minh. Đậu vào đệ thất và học ở Tam Kỳ tôi cảm thấy lớn lên và khôn ra nhiều. Đi học phải đồng phục quần xanh áo sơ mi trắng bỏ vào trong quần, bảng tên gắn trên túi áo. Mang giày sandal hoặc giày batta trắng, trông oai ra phết.

 Nhà trọ Bà Nhi là những kỷ niệm đầu đời gắn bó với tuổi thơ tôi. Những người đàn anh học trên tôi ba bốn lớp hay những người bạn học cùng lớp với tôi bây giờ tôi còn nhớ như in và thỉnh thỏang còn gặp trong… những giấc mơ. Những tháng ngày xa xứ có lúc ngồi nhậu với những người bạn mới, nhắc đến những kỷ niệm ngọt ngào tuổi ấu thơ, tôi thường kễ những kỷ niệm của những tháng năm còn trung học …

 Bà Nhi năm đó, khoảng trên sáu mươi tuổi nhưng tôi thấy bà già lắm. Bà ăn trầu. Miệng nhai bỏm bẻm. Trông bà hiền và phúc hậu, có hai trái tai to, tốt tướng. Bà ở một mình. Bà có người con trai tên Bổ, nhà ở phía ngoài đường. Ông Bổ, tôi nhớ có ba người con gái tên là Hoa, Bông, Nở, xinh xắn, nhưng không đi học. Nhà ông Bổ cũng nấu cơm tháng cho hoc trò. Võ văn Lượng , Trần Thị Sen, Trần Nhĩ, Trần Ngọc Yến, Trần Ngọc Nam, cùng quê Quán Rường với tôi ở trọ nhà ông Bổ.

 Nhà bà Nhi là một căn nhà tranh ba gian hai chái rất sạch sẽ và yên tỉnh. Xung quanh nhà trồng chè và cau. Những buổi tối trời trong, trăng sáng. Trăng chiếu lai láng trên những cây cau, hàng chè, đẹp thơ mộng. Tôi bắt đầu mộng mơ. Sáng trăng sáng cả vườn chè, một gian nhà nhỏ đi về có nhau. Cùng một khu vườn, phía trong nhà ba Nhi là nhà của thầy Kha dạy Anh văn. Thầy Kha người Huế, nước da trắng trẻo, nho nhả. Thầy Kha nghiêm nghị, ít khi thấy thầy cười. Đi dạy luôn luôn khoát ngoài một áo vest màu mở gà, không có thay đổi áo nào khác. Mấy đứa bạn nghịch nhất lớp như Ngô Châu Xê (Tiên Phước) Nguyễn Văn Tài (Tam Kỳ) nói với nhau là thầy có một cái áo vest đó nên mặc hoài. Một lần Tài ngồi đầu bàn rảy một vết mực vào phía sau áo. Một tháng sau thấy vết mực vẫn còn nguyên. Vào dạy Trần Cao Vân, thầy Kha thuê đất của bà Nhi cất một căn nhà mái tôn nho nhỏ ở cùng vợ, một đứa con gái khoảng một tuổi và một đứa em tên là Bằng học sau tôi một lớp. Bằng có chiếc răng khểnh, nước da trắng, khuôn mặt tròn, tóc rể tre. Chiều chiều Bằng bồng cháu (con gái thầy Kha) sang nhà bà Nhi chơi vớí tôi và Giải. Mỗi lần thấy Bằng bồng cháu qua nhà là Giải chọc Bằng: Đến giờ anh mi ‘’làm việc’’ nên bảo mi bồng cháu đi chơi cho khỏi nhìn thấy phải không? Bằng trả lời rất ngây thơ bằng giọng Huế rặt: Làm việc mô, anh tau chấm bài. Bằng hiền lắm. Nghe nói sau nầy Bằng học luật, ra luật sư. Tuy ở gần và thầy Kha dạy Anh văn nhưng tuị tôi chưa đứa nào vào được nhà thầy một lần vì thầy nghiệm nghi quá nên học trò đứa nào cũng sợ. Cô Kha ít khi ra khỏi nhà. Thỉnh thoảng chỉ nhìn thấy cô ra vô trước cửa. Tôi nhớ dáng cô đẹp lắm. mảnh khảnh, đài các, là một cô gái Huế yểu điệu thục nữ.

 Bà Nhi già nên chuyên nấu cơm tháng cho học trò. Trước những năm tôi vào ở trọ có những anh đã học hềt lớp đệ tứ ra Huế học đệ tam, đệ nhị Trường Quốc Học như anh Lê Tuấn Ngộ (nhà thơ Mạc Phương Đình) người Cẩm An, Tiên Phước, anh Hoàng Đình Mai người Tiên Phước. Mỗi lần về lại Tam Kỳ thì các anh đều ghé lại nhà Bà Nhi ngủ lại. Ra học ở Huế về lại Tam Kỳ tôi nhìn thấy các anh ấy sao mà lớn và oai phong, tôi rất kinh nể và thèm thuồng. Anh Lê Tuấn Ngộ còn đem mấy tờ báo như Lúa Mới ở Huế cho tôi mượn. Tôi thấy thơ và truyện ngắn của anh đăng trên báo đó, tôi phục sát đất. Bài thơ nào tôi cũng thấy anh đề tặng Tịnh. Có lẻ anh làm thơ hay và đẹp trai nên chị Tịnh, hoa khôi Kỳ Long, thương anh và sau nầy là người nâng khăn sửa túi cho nhà thơ?.Anh Hoàng Đình Mai, người hơi thấp nhưng đẹp trai, đánh bóng chuyền rất xuất sắc. Tôi nghe nói anh Mai bồ với cô Thuyền người đẹp của Tam Kỳ không biết có đúng không? Hồi đó đánh răng mỗi sáng là dùng kem Hynos, nhưng anh Mai mỗi lần từ Huế về ghé nhà bà Nhi ở laị, tôi thấy anh Mai đánh răng bằng kem Emaibrillane hộp bọc ngoài có màu đỏ xanh đẹp lắm, ruột kem màu đỏ hồng. Tôi hỏi anh thì anh bảo kem nầy tốt lắm đánh trắng răng và môi đỏ đẹp trai. Tôi bắt chước bỏ kem Hynos, mua kem Emaibrillane để đánh mỗi sáng cho đỏ môi đẹp trai. Thật là xí xọn. Bây giờ nghĩ lại vô duyên thẹn thùng quá cở. Tôi còn nhớ một lần anh Mai, từ Huế về ở nhà bà Nhi. Buổi sáng rủ tôi, anh Nghiệp. anh Tường, anh Long, Tăng Hà Tự chung tiền đi ăn cháo lòng trên đường Trần Cao Vân gần Vườn Lài. Mỗi người một tô cháo, một dĩa lòng. Tôi và Tăng Hà Tự ăn sạch bách cả lòng và cháo. Anh Mai nhìn tôi và Tự nói, ăn tiệm phải để lại mỗi thứ một ít, đừng ăn hết không lịch sự, ai nhìn thấy sẽ cười cho. Thật đúng là tôi con nít và nhà quê một cục. Và nhờ những lúc như vậy cho mình những kinh nghiệm và là những kinh nghiệm nhớ suốt đời. 

 Năm tôi học đệ thất thì có những anh đã lớn học đệ tứ trên tôi như Nguyễn Hữu Anh ở Phước Long, anh Nguyên Tiến Long ở Kỳ Long. Học đệ ngũ như anh Nguyễn Tường, Nguyễn Nghiệp ở Kỳ Nghĩa. Anh Nguyễn Hữu Anh là người có lẽ lớn tuổi hơn, lanh lợi nhất, và cũng hoang nghịch nhiều nhất. Anh Anh đẹp trai hay mặc áo chim cò và để tóc daì. Đi xe đạp sườn cao màu đỏ. Tôi nhớ năm đó, anh Anh bồ với chi Hoa nhà ở lò vôi. Học bài xong anh đưa chị Hoa đến trước nhà bà Nhi bên bụi chè đứng nói chuyện tâm tình. Anh hay dọa tôi là không được nhìn và không được nói lại với ai. Nếu nhìn và nói với ai anh biết được là anh đánh chết. Tôi sợ lắm nên biết mà chẳng dám nói với bạn bè. Có một lần tôi tình cờ nhìn ra thấy anh Anh đứng thật sát bên chi Hoa và hai tay ôm lên hai bờ vai thon thon của chị. Tôi lại nhớ có một kỷ niệm thật vui với anh Anh. Tôi nhắc lại chuyện nầy để nhớ cho vui và nghỉ lại, sao thuở đó tôi ngu quá. Anh Anh mỗi tuần về thăm nhà thường đi ngang qua chợ Quán Rường. Anh để ý chị Lan con của cô giáo Phát, có tiệm vải thật lớn tại chợ Quán Rường. Chi Lan là chị của Trần Nh ĩ, Trần Thị Sen và Trần Thị Hoa cũng học Trần Cao Vân. Chị Lan là con gái lớn nên ở nhà phụ mẹ buôn bán. Tôi nhớ chị Lan trắng trẻo đẹp gái lắm, miệng cười thật xinh, duyên dáng, hiền lành. Anh Anh viết thơ gởi chị Lan và bảo tôi về Quán Rường, đem ra nhà chị Lan trao tận tay cho chị, không được đưa cho một người nào khác. Nếu làm sai lời dặn là bị ăn đòn. Nhưng hồi đó tôi khờ và ngu quá. Tôi ra nhà chị Lan, lẩn quẩn phía trước nhà, nhìn vào tiệm không thấy chị Lan đâu, gặp cô giáo Phát, mẹ chị Lan, sợ quýnh quá tôi nói là con tìm chị Lan. Bà hỏi có chuyện gì không. Tôi nói có anh Anh trên Phước Long nhờ con gởi lá thư cho chị Lan. Bà bảo đưa cô trao lại cho chị Lan. Chiều chủ nhật xuống lại nhà trọ, anh Anh hỏi đưa cho ai, tôi nói dối là đưa tận tay cho chi Lan. Sau đó tôi nghe nói anh Anh đi ngang qua, cô giáo Phát kêu vô nhà và khuyên anh Anh học hành cho giỏi, đến lớn rồi hãy tính chuyện.

Năm đệ thất ở trọ nhà bà Nhi chỉ có tôi và Nguyễn thị Kim Loan con gái bác xã Diệu ờ Kỳ Long là nhỏ nhất. Kim Loan học cùng lớp nhưng ban Anh văn. Kim Loan nước da trắng, mặt trái soan, đôi mắt bồ câu, miệng cười dễ thương. Loan ở trọ nhà bà Nhi đến hết năm đệ lục, chuyển ra Hội An hoc trường Trần Quý Cáp vì có người anh làm việc tại Hội An. Nghe nói Kim Loan đã qua đời trước năm 1975. Tôi và Kim Loan là nhỏ nhất nên bị mấy anh lớn tuổi ăn hiếp. Anh Nguyễn Hữu Anh cứ cặp đôi tôi và Kim Loan làm tôi mắc cở quá trời. Loan cũng mắc cở, nên hai đứa muốn nói chuyện hoặc hỏi bài thì không dám hỏi. Mỗi lần ăn cơm là các anh dành ngồi phiá ngoài bàn, để tôi và Loan ngồi gần bên thau cơm. Mấy anh lớn ăn cơm nhanh quá cứ lần lượt đưa chén cho tôi và Loan thay nhau đơm cơm cho mấy ảnh, nên ăn chẳng đươc. Mấy ảnh ăn no đứng dậy là thau cơm sạch bách, tôi và Loan ăn chẳng no. Ngồi ngó nhau mà không nói được một câu nào. Ngày nào cũng bị đói. Tôi về nói lại với cha tôi. Cha tôi nói lại với bà Nhi, nên bà Nhi cho tôi ăn cùng bà . Khi tôi và Loan ăn cùng bà Nhi thì mấy anh chọc tôi và Loan là vợ chồng ngồi ăn mâm tơ hồng. Làm tôi cũng mắc cở muốn chết, nhưng chẳng giám nói gì hết. Sợ mấy ảnh đánh.

Cuối năm đệ thất cha tôi mua cho tôi một xe đạp. Sườn ngang mảu xanh lá mạ, ghi đông chữ U. Có đầy đủ garde bout, garde chaine, yên Pacific, port bagare mới nguyên, tôi rất thích. Mỗi tuần về nhà là lau chùi sạch sẻ. Tôi còn cắt mấy hình cờ Mỹ quốc viện trợ, có hai bàn tay Mỹ Việt bắt tay nhau, dán lên sườn. Cha tôi không cho ráp đèn radio. Cha nói có đèn sáng đi chơi đêm không lo học hành. Đầu năm đệ lục, tôi có xe đạp nên cuối tuần tự đi và về. Cha tôi không đón đưa nữa. Có nhiều hôm tôi nhớ mẹ, tan trường là tôi theo mấy đứa bạn chạy xe thẳng về nhà. 

Đến năm tôi lên đệ lục thì nhà trọ bà Nhi các anh lớn như Nguyễn Hữu Anh, Nguyễn Tiến Long, Nguyễn Tường học hết đệ tứ thi tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp và ra trường Trần Quý Cáp, Hội An, học đệ tam, vì trường Trần Cao Vân chưa mở đệ nhị cấp. Mấy anh lớn ra đi thì lại có mấy ông nhất quỷ vào thay thế. Mấy ông nầy lại học cùng lớp với tôi và cho nhau rất nhiều kỷ niệm như Huỳnh Giải, Đỗ Nghi, Tăng Hà Tự và Nguyễn Đình Minh (em anh Nghiệp).

 Huỳnh Giải hơi lùn, nhà quê lắm, ở tận Ái Nghĩa, Quế Sơn, miệng móm móm, tóc ít khi chải cho tươm tất. Buổi sáng ngủ dậy tôi thấy Huỳnh Giải không đánh răng, chỉ súc miệng rồi lấy tay chá chà hàm răng là xong. Tôi hỏi Giai trả lời: đánh răng bằng kem nếu lỡ sau không đánh hôi rình. Mấy người nhà quê có mấy ai đánh răng mà từ nhỏ đến lớn miệng thơm lựng (tau nhớ sao tau nóí vậy mày đừng chửi tau nghe Giải). Nhưng Giải học giỏi, đàn mandoline cũng hay.

 

 

ban_2_0 

Bạn bè gặp lại sau bao nhiêu năm. SG,2005.(từ trái) Nguyễn Văn Xuân, Huỳnh Tự Yên, Nguyễn Ngọc Diện, Nguyễn Văn Tiết, Trần Thế Phong Nguyễn Văn Tài, Huỳnh Giải

 

 

 Tăng Hà Tự người Thăng Bình. Nước da trắng. Tóc để dài xỏa xỏa xuống trán, thỉnh thoảng đưa tay vuốt ra sau. Tự đứng nói chuyện hay bỏ tay vào túi quần.

 Đỗ Nghi người Tiên Phước. Học cùng lớp nhưng tôi thấy Nghi già dặn, ăn mặc tươm tất và bảnh bao. Đi học quần xanh áo trắng. Khi đi chơi mặc áo sơ mi màu, quần darrong màu xanh đậm, đi xe đạp đầm mới kít, tóc chải dầu brillantine láng, áo quần ủi thẳng tưng, trông có vẻ con nhà giàu. Đỗ Nghi dáng hơi mỏng, ốm yếu, mặt nhiều mụn. Năm đệ ngũ đã có bạn gái tên Phụng ở Tiên Phước. Mỗi tối học bài xong là Nghi nai nịt chỉnh tề đi gặp Phụng. Khi về tôi nghe có mùi nước hoa thơm thơm.

 Nguyễn Đình Minh cao lòng nhòng. Ít nói và nói chậm chậm, hơi cà lăm. Cười cười và nhìn nhiều hơn nói. Đi đến trường bỏ áo vào quần, ra khỏi lớp học rút áo ra ngoài. Nguyễn Đình Minh nhà ở chợ Khánh Thọ gần Tam Kỳ nên về nhà nhiều hơn ở laị nhà trọ.

 Chỉ ba thằng học trò ở chung cũng thành tổ quỷ . Ở nhà bà Nhi đến tám đứa học trò ở chung nên là ba tổ quỷ phá như giặc. Buổi tối nằm ngủ sắp như cá mòi. Gian giữa kê một bàn dài để ngồi học bài và làm bài. Bên trái kê một bộ phản rộng, ngủ bốn thằng. Bên phải kê hai giường tre gối đầu nhau. Mỗi giường ngủ hai đứa. Một thằng cười thì thằng nằm bên cạnh làm sao ngủ được, nên cũng cười theo, cười dây chuyền. Bà Nhi ngủ trong buồng nghe cười, giỡn ồn ào bà ngủ không được. Có nhiều lúc bà nằm trong buồng la inh ỏi. Có nhiều lúc bà la không được bà thắp đèn ngồi dây. Tụi tôi nghe bà sột soạt ngồi dậy thì nằm im re, ngáy khò khò. Trong số những anh lớn tuổi học lớp trên chỉ có anh Nguyễn Hữu Anh là tôi sợ nhất. Nhìn anh có ve tân thời, hào hoa. Thỉnh thoảng tôi nhớ ảnh mặc áo chim cò. Buổi tối cứ đến chín giờ là bà Nhi bắt phải tắt đèn đi ngủ. Chắc bà sợ thức khuya tốn dầu (thời đó nhà bà Nhi chưa bắt điện). Tối tối học bài xong đi ngủ, trước khi ngủ anh Anh hay kể chuyện tiếu lâm. Anh Anh kể một chuyện mà bây giờ tôi còn nhớ: Ông sui và bà sui đều góa vợ, góa chồng. Một hôm ông sui tới thăm bà sui. Đứng ngoài cửa nhìn thấy bà sui đang ngủ trưa, ông sui không dám goị bà sui thức dậy mà lấy “cái đó” khều khuề bà sui. Bà sui tỉnh dậy kéo ông sui vào nhà. Tôi hỏi một câu lảng nhách và vô duyên: Cái của ông sui dài dữ vậy hả anh Anh. Ừ, mấy người năm sáu mươi tuổi trở lên dài lắm. Rồi anh Anh cười hả hả khoái chí lắm. Có nhiều đêm mấy anh lớn kể chuyện hoang. Tôi và Giải nằm cười khúc khich cả đêm.


ph_0-content

từ trái, trần yên hòa & trần thế phong


 

Trước sân nhà bà Nhi có một cây cau, ra trái sum sê, xanh tốt. Anh Anh bảo tôi và Huỳnh Giải mỗi sáng ngủ dậy phải ra đi tiểu trên gốc cây cau đó. Nếu đứa nào không nghe lời bị đánh chết. Sợ quá sáng nào dậy sớm, tôi và Giải đều tiểu trên gốc cây cau. Một thời gian cây cau đổ màu vàng gần chết. Bà Nhi biết la quá trời. Ngày rằm và mồng một mỗi tháng, bà Nhi thường cúng xôi chè. Cúng xong là cho đám học trò ở trọ ăn thả cửa. Nhưng có mấy lần bà quên không cúng. Khuya bà Nhi đang ngủ trong buồng, anh Anh và mấy anh lớn lẻn vào giường bà Nhi, khiêng giường bà lên. Bà sợ quá tưởng ma nhát, sáng ra bà nấu xôi chè cúng ngoài sân, dưới bếp và cho tụi tôi ăn hả hê. Ăn xong ôm nhau mà cười, bà Nhi không biết gì hết.

 Đến năm tôi học đệ ngủ có thêm Võ Châu, Võ Kim Sơn, Võ Kim(?) Báu ở Tiên Phước và Trần Văn Hòa (em tôi) vào ở trọ, 

 Trong số những bạn bè ở nhà bà Nhi tôi thân với Huỳnh Giải và Nguyễn Đình Minh nhiều hơn. Vì cùng là trang lứa. Và có lẽ, Giai và Minh cũng nhà quê như tôi. Huỳnh Giải hoang ngầm, nghịch ngầm, nhưng nhát gan. Minh it nói, thật thà.

 Tôi ở trọ nhà Bà Nhi hết năm đệ ngũ. Năm đệ tứ là năm cuối trung học đệ nhất cấp thi trung học phải học thật nhiều. Nhà bà Nhi lúc đó ở đông quá ồn ào nên tôi lên ở trọ tại nhà bà Quảng ở khu Nam, với Bùi Minh Triết quê ở Kỳ Bình, Trịnh Huy An ở Kỳ Anh và Sanh ở Phước Long. Ở nhà Bà Quảng, tôi với Buì Minh Triết lại có nhiều kỷ niệm ngọt ngào. Những kỷ niệm đó thôi không nhắc ra đây nghen Triết. Khi nào gặp nhau hai đứa mình nhắc lại mới vui. Nhớ Trịnh Huy An. An hiền khô, chững chạc. Hồi đi học An hay làm lớp trưởng. Sanh thì hiền như ông cụ non, Sanh mất sớm quá. 

Thời gian cứ trôi đi, rồi tuổi thơ cứ xa dần, xa dần. Học hết đệ nhị là mỗi đứa mỗi nơi. Có bạn vào trường bộ binh Thủ Đức thật sớm như Nguyễn Duy Anh, Trịnh Huy An, Võ Bán. Tôi còn lang thang bên mái trường thì thấy mấy bạn về Tam Kỳ đeo lon chuẩn uy, thiếu uý oai ra phết. Nhất là bạn Nguyễn Duy Anh chuẩn uý pháo binh trẻ măng, đi xe jeep hách xì xằng.

 Những người anh, những người bạn cùng ở nhà bà Nhi sau năm đệ nhị rời khỏi trường Trần Cao Vân tôi chưa bao giờ gặp lại như anh Nguyễn Hữu Anh, anh Long, anh Tường, anh Mai, Võ Châu, Tăng Hà Tự, Võ Kim Sơn, Võ Kim Báu. Những khi gặp bạn bè cùng lơp, tôi có hỏi thăm về Tăng Hà Tự, và những người đàn anh kể trên, nhưng không bạn nào biết, và có nghe nóí Tự đã qua đời. Sau năm 1975 đổi đời cơ cực. Nhiều lúc nhớ lại bạn bè xa xưa nhưng mù mù tăm tăm biết đâu mà hỏi, mà tìm.

 

 

 ban_8

Gặp lại nhau năm 2012 tại nhà Trần Thế Phong tại SG: (từ phải qua) Trần Phú Thông, Trần Thế Phong, Nguyễn Văn Tiết, Hồ Trung Ngạn, Huỳnh Giải, Mai Tùng, Huỳnh T ự Yên, Dương Quang Quyền, Nguyễn Văn Sấn

 

 

 Sau tết năm Nhâm Thìn 2012 tôi có về Tam Kỳ và Quán Rường thăm quê. Tôi có ghé thăm vợ chồng Nguyễn Đình Minh ở Tam Kỳ. Vợ chồng Minh đã nghỉ dạy và buôn bán lặt vặt sống qua ngày. Minh bị ảnh hưởng một dây thần kinh bên cổ tiếng nói hơi khó khăn. Nhưng sức khỏe cũng bình thường. Tôi rất mừng cho bạn. Vợ chồng Minh cho tôi ăn một bửa cơm trưa thật ngon và nhớ đời. Mực ống tươi luộc quấn bánh tráng, rau sống. Cá rô chiên dòn dầm nước mắm ớt tỏi. Thịt heo kẹp với tôm chua, rau sống. Lâu lắm rồi, cỡ chừng trên bốn mươi năm, mới gặp lại Minh. Khề khà vài chai bia nhắc lại những kỷ niệm xưa, những đứa bạn cùng trường cùng lớp, chuyện vui chuyện buồn, đứa còn, đứa mất. Đỗ Nghi vừa mới qua đời ở Sài Gòn. Thằng nào tuổi đời cũng chồng chất. Gặp được lần nào thì mừng lần nấy, nghe Minh.

 Trong những thằng bạn cùng ở trõ nhà bà Nhi, học cùng trường, cùng lớp… Huỳnh Giải, thằng bạn cùng chất nhà quê như tôi, nên sau ngày đổi đời hai đứa gặp nhau nhiều nhất. Ở tù về sống ở Sài Gòn, Có những chiều cuối tuần lai rai vài ba xị rượu đế với bạn bè ở vỉa hè là Huỳnh Giải có mặt. Giải không bao giờ đi Honda (vì một mắt bi yếu) vơí lại làm gì có Honda mà đi. Tôi nhớ có một lần vào chiều 29 tết năm 1990.

Tôi và Giải ngồi nhậu ở vỉa hè đường Hai Bà Trưng phía dưới chợ Phú Nhuân. Hai đứa cũng nghèo xác nghèo xơ. Chỉ uống rượu đế và khô cá đuối và hột gà ung. Thế mà hai thằng chơi

 

 

 

 ban_1_1

Từ phải: Trần Thế Phong và Nguyễn Văn Sấn

ngày Sấn viếng thăm Seattle (2007)



luôn sáu xị rượu đế nói chuyện trên trời dưới đất, nhắc lại những thằng bạn cũ của một thời Trần Cao Vân. Những nàng nào đã đí qua cõi lòng hai đứa đều kể ra hết. Hai thằng tỉnh bơ ngồi bên vỉa hè mà uống rượu. Hai đứa “coi như pha” trong ngày năm cùng tháng tận. Trong lòng hai thằng ôm những nỗi buồn riêng… Đến mười giờ tối, bà chủ hàng nhắc sao hai chú không về nhà để chuẩn bị tết. Hai đứa mới sực tỉnh móc túi tìm những đồng bạc còn lẻ loi cuối năm, chia nhau trả. Hai đứa liêu xiêu dắt xe đạp chia tay. Môt đứa về Bà Chiểu, một đứa về Phú Nhuận…Một kỷ niệm tuyệt vời trong đời phải không Giải.

 Một thằng bạn cốt đột thân thương của tôi nữa đó là Nguyễn Văn Sấn. Sấn có nước da đen, hơi thấp, cục mịch, nhưng ăn nói lại có duyên. Uống rượu được bầu là số một. Và được phong một danh hiệu Kỳ Tửu Trà Vinh. Cuộc đời của Sấn cũng lang bạt kỳ hồ, ba chìm bảy nỗi. Với bạn bè thân Sấn chơi đẹp lắm. 

Một thằng bạn mà tôi thương mến và cảm phục đó là bạn Huỳnh Tự Yên (Huỳnh Văn Nhiệm sau này). Yên học rất giỏi. Rất tốt với bạn bè. Tận tình giúp đỡ bạn bè khi bạn bè cần. Những ngày cơ cực ở Sài Gòn, thỉnh thoảng Yên đến nhà tôi dẫn đi uống rựợu. Yên làm trong Hội Y Dược thành phố, cơ quan có phân phối bia cho nhân viên. Yên được mua sáu lon, đi làm về, xách thẳng vào nhà tôi rủ ra vỉa hè đường Huỳnh Văn Bánh lai rai với một dĩa đầu cánh gà. Thời gian đó mà uống được bia Sài Gòn là quá đả. Yên ít uống rượu và tửu lượng thấp, cố gắng uống được hai lon, còn tôi “chơi” hết.

 Và còn, còn nhiều những thằng bạn thân thương của ngày tháng học trò và sau ngày đổi đời cơ cực như Lâm Châu, Nguyễn Ngọc Diện, Nguyễn Văn Tiết, Dương Quang Quyền, Hà Thân Túc, Phan Tấn Lộc, Nguyễn Văn Lâm, Lê Xuân Tiến, Trịnh Lợi, Trần Ngọc Yến.. làm sao kể cho hết nữa đây...

 Thành phố Seattle buổi chiều. Tôi đang ngồi viết những dòng cuối này. Mưa đang hắt hiu rơi nhè nhẹ. Mưa như mưa xuân ở Tam Kỳ sau Tết. Cái lạnh đủ se se lòng người xa xứ. Ngồi nhớ đâu viết đó những kỷ niệm thơ ấu của tuổi học trò hoa mộng. Người nào bây giờ cũng trên dưới bảy bó. Trí nhớ cũng hao mòn, lú lẫn. Tôi đang ôm nỗi buồn xa xứ và nhớ thật nhiều đến những bạn bè của một thời dưới mái trường trung học Trần Cao Vân Tam Kỳ đầy dấu yêu...

 

Trần Thế Phong

(Seattle, WA state)


*




Mời xem DVD



dvd_truoc-contentdvd_2-content


Xin click vào:


Họp Mặt Cựu Học sinh Trần Cao Vân và NTH/QT tháng 7/2013 - Phần 1

 

Rồi click vào mủi tên Play all




______________________________________________________




Trang Quảng cáo




blank


blank