DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,848,380

Một Góc Nhìn Võ Phiến - Trần Yên Hòa

26 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 18775)
Một Góc Nhìn Võ Phiến - Trần Yên Hòa

Trần Yên Hòa

Môt Góc Nhìn Võ Phiến

vophien_datnuoc-thumbnail


Có thể nói Võ Phiến là nhà văn - như cây cổ thụ sum suê, dăng nhiều bóng mát - trong nền văn chương Việt Nam trước bảy lăm và nền văn chương VN hải ngoại sau này. Đã nhiều người viết về Võ Phiến - toàn là những người có tên tuổi - là nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu - nên tôi nghĩ mình có viết về Võ Phiến thì cũng như người mù sờ voi, đụng cái chân thì nói voi là cái cột nhà, đụng cái tai thì nói voi là cái quạt. Dĩ nhiên, tôi nói như thế là chỉ dùng có một nghĩa, là gia tài văn học của Võ Phiến đồ sộ quá, viết về ông không thể tổng quát được hết, mà chỉ nhìn một góc nhỏ thôi.

 

Tôi đọc truyện Võ Phiến đầu tiên đâu khoảng thập niên sáu mươi, khi còn là một học sinh trung học - truyện Phía Bên Nhà Ông Ngà - đăng trên tạp chí Văn Học của Phan Kim Thịnh và Dương Kiền – truyện khiến tôi mê mẫn. Thứ nhất là văn phong truyện của Võ Phiến nhẹ nhàng, rạch ròi, “chẻ sợi tóc làm tư”, khiến tâm trí tôi cứ bị cuốn hút vào. Võ Phiến nhìn thật vào nhân vật, phân tích chi li từng câu đối thoại, từng cử chỉ, từng góc cạnh, khung cảnh, khiến như ta thấy cảnh đó xảy ra trước mắt. Truyện Võ Phiến đưa tôi vào, đưa tôi đến, những sinh hoạt thật sống của những miền quê Bình Định, quê hương tác giả.
Thế nhưng những truyện của ông, những sách của ông xuất bản ở Việt Nam hay hải ngoại, tôi không đọc được trọn cuốn nào, tôi chỉ đọc trên các báo ngày xưa hay trên internet bây giờ, nhưng trong tâm tôi, muốn viết một cái gì đó về ông, cũng như muốn được gặp ông một lần (hay nhiều lần) để được nghe ông nói về chuyện văn nghệ, văn học...để xem nhà văn (lớn) có gì khác lạ không? Nhưng tôi cũng chưa làm được điều đó. Có đôi lần, nhìn thấy ông (và bà) trong một đám cưới của gia đình một bạn văn nào đó, nhưng tôi cũng chỉ đứng xa mà nhìn vì ông bận nói chuyện với những người ông quen biết.
Hôm nay tôi viết về ông với tâm trạng của một đàn em văn nghệ nhỏ bé, thấy thế nào thì viết thế đó thôi.

 

Tiểu sử và Văn Nghiệp

Trong những bản tiểu sử viết về Võ Phiến, tôi thấy mẫu tiểu sử của Thụy Khuê là tiêu biểu nhất, không dài dòng lắm nhưng rất đầy đủ. Tôi xin trích sau đây:


Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, bút hiệu khác: Tràng Thiên. Ông sinh ngày 20/10/1925 tại làng Trà Bình, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Cha là Đoàn Thế Cần làm giáo học, mẹ là Ngô Thị Cương. Võ Phiến có người em ruột là Đoàn Thế Hối, sinh năm 1932, sau này ra Bắc tập kết, cũng là nhà văn bút hiệu Lê Vĩnh Hoà. Khoảng 1933, cha mẹ xuống Rạch Giá lập nghiệp đem Đoàn Thế Hối theo; Võ Phiến ở lại Bình Định, sống với bà nội, học trường làng, trung học ở Quy Nhơn. 1942 ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn. Bài tùy bút đầu tiên tựa đề Những đêm đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật, ký tên Đắc Lang.
1945, Võ Phiến gia nhập bộ đội trong một thời gian ngắn, sang 1946 ra Hà Nội học trường Văn Lang; đến tháng 12/1946, trở về Bình Định tham gia kháng chiến, sang năm 1947 về làm thuế quan tại Gò Bồi. Năm 1948, ông kết hôn với cô Võ Thị Viễn Phố (Võ Phiến là Viễn Phố nói lái) và ông dạy học ở trường trung học bình dân Liên Khu V. Cuối năm 1954, ông ra Huế làm việc tại Nha Thông Tin ít lâu rồi xin chuyển vào Quy Nhơn, tại đây ông tự xuất bản hai tác phẩm đầu Chữ tình (1956) và Người tù (1957), gửi bài đăng trên hai tạp chí Sáng Tạo và Bách Khoa. Từ tác phẩm thứ ba Mưa đêm cuối năm (in năm 1958, tại Sàigòn), Võ Phiến bắt đầu nổi tiếng, ông xin đổi vào làm việc tại Sài Gòn, cộng tác thường xuyên với các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Khởi Hành, Mai, Tân Văn... và trở thành một trong những cây bút chính của tờ Bách Khoa, cùng với Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh v.v... 1962, Võ Phiến lập nhà xuất bản Thời Mới.
Rời nước một tuần trước ngày 30/4/1975, một thời gian sau ông định cư tại Los Angeles, làm công chức thuế vụ.
Võ Phiến là một trong những người đầu tiên có công xây dựng nền văn học Việt Nam Hải Ngoại, chủ trương tập san Văn Học Nghệ Thuật từ 1978 đến 1979, rồi từ 1985 đến 1986. Tờ Văn Học Nghệ Thuật của Võ Phiến là nguyệt san văn học có uy tín đầu tiên tại hải ngoại, là tiền thân của tờ Văn Học mà sau này Nguyễn Mộng Giác tiếp nối. Văn Học Nghệ Thuật đã mở dầu cho một trào lưu văn học đích thực mà sau này trở thành Văn Học Việt Nam Hải Ngoại, hội tụ những cây bút cũ và mới, tạo ra một lớp người viết và người đọc tham dự vào văn chương tiếng Việt.
Từ tháng 7/1994, Võ Phiến nghỉ hưu nhưng vẫn viết, hiện ông sống tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ.
Ông là tác giả của trên dưới 30 tác phẩm gồm đủ mọi thể loại: thơ, truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tiểu luận, tạp luận, biên khảo, phê bình, dịch thuật.

Tác phẩm đã in:

Tiểu thuyết: Giã từ (Bách Khoa, Sài-gòn, 1962), Một mình (Thời Mới, 1965), Đàn ông (Thời Mới, 1966), Nguyên vẹn (Người Việt, California, 1978).

Truyện ngắn: Chữ tình (Bình Minh, Quy Nhơn, 1956), Người tù (Bình Minh, 1957), Mưa đêm cuối năm (Tự Do, Sài-gòn, 1958), Đêm xuân trăng sáng (Nguyễn Đình Vượng, 1961), Thương hoài ngàn năm (Bút Nghiên, 1962), Về một xóm quê (Thời Mới, 1965), Truyện thật ngắn (Văn Nghệ, California, 1991).

Tùy bút: Thư nhà (Thời Mới, 1962), Ảo ảnh (Thời Mới, 1967), Phù thế (Thời Mới, 1969), Đất nước quê hương (Lửa Thiêng, 1973), Thư gửi bạn (Người Việt, California, 1976), Ly hương (in chung với Lê Tất Điều, Người Việt, California, 1977), Lại thư gửi bạn (Người Việt, 1979), Quê (Văn Nghệ, 1992).

Tiểu luận: Tiểu thuyết hiện đại (bút hiệu Tràng Thiên, Thời Mới, 1963), Văn học Nga Xô hiện đại (Thời Mới, 1965). Tạp bút, ba tập (Thời Mới, 1965-66), Tạp luận (Trí Đăng, 1973), Chúng ta qua cách viết (Giao Điểm, 1973), Viết (Văn Nghệ, 1993), Đối thoại (Văn Nghệ, 1993).

Biên khảo: Văn học miền Nam tổng quan (Văn Nghệ, 1986), Văn học miền Nam, 6 tập, gồm 3 tập về truyện, 1 tập ký, 1 tập kịch - tùy bút và 1 tập thơ (Văn Nghệ, 1999).

Dịch thuật: Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà (Stéfan Zweig) (Thời Mới, 1963), Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại (André Maurois) (Thời Mới, 1964), Truyện hay các nước, 2 tập, cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng (Thời Mới, 1965), Ông chồng muôn thuở (Dostoyevsky) (1973).

Toàn bộ tác phẩm Võ Phiến được in lại trong Võ Phiến toàn tập, 9 cuốn (Văn Nghệ, 1993).


Sau đây xin trích một số ý kiến của một số tác giả đã viết về Võ Phiến, cả về sự nghiệp viết văn và nghiên cứu văn học, cũng như những quan niệm văn học của Võ Phiến:

* Võ Phiến tâm sự trong bài phỏng vấn của Lê Quỳnh Mai, ông theo nghề viết văn cũng rất đơn giản:

“Còn mình - tôi nghĩ - mình chỉ là kẻ tầm thường, chẳng qua thấy người ta viết nên truyện hay thơ hay, thì mình đọc, rồi ham, rồi bị lôi cuốn mà liều lĩnh viết theo. Vớ vẩn vậy thôi. Thường tình thôi. Nếu có sự "xúi giục", thì chính những cái hay cái đẹp của thiên hạ xúi mình, không có ma quỷ nào.”


* Nhà phê bình Đặng Tiến viết:

"Võ Phiến là một nhân chứng thời đại, muốn chế riễu cả thời đại lẫn vai trò nhân chứng của mình, chế riễu bằng một nụ cười lặng lẽ. Và bên kia nụ cười, cuộc đời không còn gì nữa cả."

* Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc thì:

“Theo tôi thì Võ Phiến là một trong những nhà văn lớn nhứt của Việt Nam trong nửa sau của Thế Kỷ 20. Xin lưu ý là tôi dùng chữ Việt Nam chớ không phải là Miền Nam hay là hải ngoại; trong phạm vi cả nước thì Nam cũng như Bắc, quốc nội cũng như quốc ngoại...
Trong lãnh vực nghiên cứu văn học ở hải ngoại từ sau năm 1975, bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, dù gây nên nhiều tranh cãi sôi nổi và dù còn một số hạn chế, vẫn là một trong những thành tựu lớn nhất. Nó không những giúp người đọc nhận diện một khía cạnh khác trong tài năng của Võ Phiến mà còn cung cấp cho người đọc một khối tài liệu đồ sộ và đáng tin cậy về một nền văn học từng một thời phồn thịnh nhưng ngỡ đã bị quên lãng từ khi Miền Nam sụp đỗ vào ngày 30-4-1975 và sách vở, văn chương, báo chí đều bị coi là phản động. Đó là văn học Miền Nam thời gian 1954-1975...


Riêng với Võ Phiến, ông trả lời phỏng vấn của Lê Quỳnh Mai về cách viết văn của ông như sau:

"Tôi viết thì cũng mau, nhưng mà tùy. Hồi còn thanh niên ba mươi tới bốn mười tuổi, bốn mươi lăm - năm mươi, hồi ở Sài Gòn thì viết dữ lắm, một phần vì sự thôi thúc của hứng thú, của cảm xúc của mình, nó thúc đẩy mình viết; một mặt nữa cái viết của mình nó cũng bị sự thôi thúc của toà soạn.
Họ cần bài, họ nói quá, thì mình cũng đáp ứng cho kịp vì mình đã cộng tác với người ta thì mình cũng phải thoả mãn yêu cầu của họ. Cái thứ ba nữa là cái viết nó cũng tuỳ hoàn cảnh chung quanh, có những vấn đề về thời sự, về tình hình, có khi tình hình sôi động thì mình hào hứng lắm, tới khi nó yên lành, không ai nghĩ tới thì mình cũng không nghĩ tới nữa.”


Về những niềm vui trong viết văn thì ông thực thà trả lời:

“Kỷ niệm vui nhất trong đời văn của tôi xảy ra ngót đã sáu mươi năm. Đó là dịp lần đầu tiên tôi thấy bài mình viết được đăng lên báo.
Mở bài báo ra, trông thấy trước mắt bài viết của mình xuất hiện dưới dạng chữ in, thật là bỡ ngỡ, lạ lùng, ngạc nhiên. Chuyện không tưởng tượng nỗi. Mình cảm thấy tự dưng biến thành một kẻ khác. Không đến nỗi như con cá hóa long, nhưng có thể như là một con cá bỗng hóa ra con nhái. Tức là một sinh vật sống dưới nước đột biến thành một sinh vật thuộc loài lưỡng thê, nhảy lên đất.
Sau biến cố động trời ấy, mình viết mãi viết mãi vẫn không biến hóa thêm thành một loài gì khác. Nhái bén vẫn cứ nguyên là nhái bén. Không có gì vui thêm.”

 
Không như Phạm Duy, mong muốn về nước để chết trên quê hương (nhưng để làm việc đó, Phạm Duy dùng những lời lẽ ca tụng cộng sản và nói xấu cộng đồng người Việt hải ngoại.) Võ Phiến thì không như vậy, ông vẫn giữ cái nhân cách của kẻ sĩ Việt Nam, đó là không muốn trở về Việt Nam, dù trở về để được chết trên mảnh đất quê hương. Ông tâm sự trong cuộc phỏng vấn:

“Chuyện về nước, tôi không mong mỏi nữa.”
Về nước vào lúc này để cam chịu khuất phục dưới chế độ độc tài, không vui gì. Để góp tay cải thiện hoàn cảnh, tôi không nghĩ mình có đủ khả năng, còn đủ sức lực góp tay hữu ích. Còn như về để chết, thì... tưởng không cần thiết. Ở đâu, chết cũng "tiện" cả!”


Võ Phiến với truyện “Bà Con Chòm Xóm”

Tôi đọc lại truyện Bà Con Chòm Xóm trên Net mới đây, sau khi dò lại tên nhân vật có chị Bốn Chìa Vôi thì thấy truyện này trước đây có nhan đề là “Chim và Rắn”. Không biết tác giả đã đổi tên truyện hay là khi đăng bài trên Net, ban biên tập tự ý đổi lại. Theo tôi thì nhan đề tên truyện thì cái nào cũng được, vì hai đề tựa đều phản ảnh nội dung cốt truyện.
Cốt truyện loanh quanh nhân vật chị Bốn Chìa Vôi và những người chung quanh như chú Năm Cán Vá, anh hai Mõ Gảy, cậu Ấm Sứt, anh ba Càng Cua, tất cả sống ở một làng quê nào đó ở miền trung, có thể là một xã ở Bình Định, Bình Thuận, Phú Yên, hay Quảng Nam, Quảng Ngãi. Theo ngôn ngữ nói thì có thể là Bình Định, vì đây là quê hương tác giả, nhưng chúng ta cũng có thể nghĩ chuyện xảy ra có thể ở khắp nơi ở miền Nam khi cuộc chiến tranh bắt đầu tàn khốc.
Tính cách chị bốn Chìa Vôi thì vui, như cái tên chị, nhưng cũng nghịch ngầm hay muốn làm người khác sợ hãi hoảng loạn. Võ Phiến viết:

  “Chị Bốn ngày nhỏ tên là Bình. Nhưng càng lớn chị càng toe toét, nói bậy nói bạ, bừa bãi lung tung; cho nên bị coi không xứng là miệng Bình, dù là bình vôi. Do đó, bèn đặt tên là Chìa Vôi...”
Chị Bốn nham nhở đến nỗi mang tên là Bốn Chìa Vôi, lại còn bị rủa là thiên lôi đập ba búa không chết. Không sợ loài bò sát, đó chỉ là tính tiêu biểu, thật ra chị còn lắm điều ngổ ngáo khác...”
“Đàn bà con gái nào lại không thích me? Mỗi người giành lấy một quả xong, chị Bốn rút từ trong bọc ra một gói nhỏ. Trời, sao mà chu đáo thế: lại có cả muối ớt nữa kìa. Vài bàn tay nóng nảy giật nhanh gói giấy, mở ra: con thằn lằn luống cuống nhảy hoảng vào lòng một chị nào đó. Cả bọn la như cắt cổ.
 Chị Bốn Chìa Vôi có thể bắt nhốt vào túi áo một con rắn nước, lấy kim băng cài lại cẩn thận. Để rồi chỉ mở túi khi đã ngồi sát kề vài người bạn. Rắn vọt ra, kẻ nhanh nhất cũng không tránh kịp.”

Rồi cuộc chiến tranh, những người dân hiền lành nhưng tinh nghịch kia cũng vào cuộc, tự nhiên mà chấp nhận vào cuộc, sự vào cuộc không tự nguyện này làm cho họ mang họa. Biết bao oan kiên xảy ra cho từng cá nhân, người theo quốc gia đang sống bình yên trong một gia đình nào đó bỗng không còn bình yên nữa. Họ ở trong thế chẳng đặng đừng, những người “nhảy núi” vì nhiều lý do khác nhau, bị chèn ép sinh hận thù, hay có giây mơ rể má với những người phía bên “giải phóng”. Cuộc chiến tự nhiên chia thành hai phe, rạch ròi:

“Sau khi chúng tôi bỏ làng đi độ ba tháng thì làng cũng không thuộc về chính phủ nữa. Thôn trưởng bị bắt lên núi. Rồi quận cũng tìm ra người khác để đặt làm thôn trưởng, nhưng từ khi nhậm chức, chú Tư Huệ Héo - tức em ruột anh Ba Càng Cua - liền bỏ nhà xuống quận lưu vong. Ở làng, phe "Giải phóng" lập ban tự quản.
 Như thế, cả hai phía cùng nhau cai trị dân làng. Một phía thuộc về chú Tư Huệ Héo, một phía thuộc về chú Ba Thiên, tức cháu gọi Hai Mỏ Gảy bằng cậu.
 Ba Thiên tịch thu ruộng và bò của chú Tư. Một ngày tháng bảy, vào canh tư, trời còn tối, một trung đội nghĩa quân từ dưới quận kéo lên vây xóm. Bố trí chưa xong thì một phát súng nổ quá sớm làm cho bọn cộng sản nhào ra chạy. Có hai tên trúng đạn, một bị gãy chân, một bể ngực chết. Tuy vậy cả hai đều thuộc hạng không quan trọng, còn Ba Thiên đã kịp trốn thoát.
 Mờ sáng, nghĩa quân vào làng, người ta thấy Tư Huệ Héo đi theo, tập trung dân chúng, điểm mặt từng người, phổ biến chính sách. Xong rồi, chú Tư tới nhà Ba Thiên lùa tất cả bò mình lẫn bò Ba Thiên về quận. Đến lượt chú Ba bị tịch thu trở lại: Lùa bò, gánh lúa, còn nhà thì đốt bỏ.
 Sau vụ ấy, Ba Thiên bắn tin xuống quận cho Tư Huệ Héo hay là có ngày "Giải phóng" sẽ tới tận quận hỏi tội y. Còn Tư Huệ Héo thì lén lút phàn nàn với một vài người thân tín rằng hôm đó có một anh nghĩa quân non gan, ngại đụng độ lớn, nên giả vờ lỡ tay làm nổ phát súng để đuổi địch chạy thoát, nếu không Ba Thiên đã bị bắt rồi. "Nhưng giữa nó với tôi còn có ngày gặp nhau mà. Nó đừng nóng nảy vô lối: rồi trước sau tôi cũng chẻ ba thẻ tre đem manh chiếu rách rước nó xuống quận một lần cho bà con coi chơi".

Cuộc chiến tranh ấy bây giờ đọc lại, tôi thấy như y hệt ở quê tôi, một vùng quê nghèo khổ ở Quảng Nam, đọc truyện này tôi thấy như tái hiện trong tâm tưởng tôi những ngày tháng cũ kinh hoàng đó, một vùng quê không bình yên, buổi sáng lính quốc gia, địa phương quân, nghĩa quân lên lại vùng quê, làm chủ ban ngày, tối rút xuống quận ngủ, thì quân “giải phóng” (Việt cộng) lại kéo về, tập họp dân làng mit-tinh, hoan hô đã đảo, rồi đi bắt người này, người nọ có chút liên hệ với quốc gia ra tố, hoặc dẫn đi hoặc xử tử. Chuyện như mới xảy ra ngày hôm qua.

Sau đây là cảnh một người dân đi lánh cư - t
ị nạn cộng sản:

“Ba Càng Cua có hai đứa con trai, một đứa vô nghĩa quân, đóng tại quận, một đứa học trung học, đi Quang Trung, gắn lon trung sĩ. Ba Càng Cua vẫn ở lại làng. Nhưng sau khi thằng con chị Bốn Chìa Vôi vô lực lượng ít lâu, bỗng một hôm, vào mùa gieo, trời chưa sáng, đường còn lờ mờ ánh trăng, Ba Càng Cua đánh bò gồng gánh ra đồng. Người ta yên chí là đi gieo. Cứ thế, qua khỏi các chỗ canh gác, gia đình Ba Càng Cua đi thẳng xuống quận lánh cư. Đến trưa, ập vào xét nhà Ba Càng Cua thấy thứ gì thứ nấy đã dọn sạch. Thì ra trong cái gánh mà người ta tưởng là gánh lúa giống để gieo ấy anh ta trói nhốt năm con gà, với mắm muối, thuốc, lư đồng v.v... “
Xuống quận được dăm ba hôm, Ba Càng Cua bắt đầu phát biểu cảm tưởng lai rai. "Con Sáu Ty ngày nào nó cũng lọt vào nhà người ta vài bận. Nhà có bao lúa nào nó dòm lủng bao, có niêu cơm nó dòm lủng niêu. Con đó còn sống ngày nào, xóm làng còn điêu đứng ngày ấy. Con Bốn Chìa Vôi, con mẹ trời đánh sinh ra thằng con trai nghịch hết nói được. Nó mà nhảy núi chuyến này, nguy hiểm lắm. Tôi cho thằng đó nguy hiểm nhất." Bấy giờ người ta mới nhớ ra trước kia giữa nó với thằng con trai của Ba Càng Cua có nhiều chuyện hiềm khích rắc rối.”
 ...Bỗng một hôm, một chiếc máy bay lướt nhanh qua làng, có kẻ nào đó dùng súng trường "bia" một phát. Chiếc oanh tạc cơ quành lại, bắn, bỏ bom loạn xạ. Mười ngôi nhà cháy, hai người chết. Trong hai kẻ xấu số, một là chồng chị Bốn Chìa Vôi, bị cắt đúng nửa thân người. Đêm ấy chôn cất xong xuôi, mờ sáng hôm sau, cả làng đón một cuộc hành quân. Lần này Ba Thiên cũng lại suýt bị tóm, nhưng vẫn chưa bị tóm. Đạn đuổi sau lưng y. Cán bộ thôn hao hết thêm ba mạng. Ban tự quản gần tan rã. Thế nhưng Sáu Ty thì thoát, và Ba Thiên cũng chỉ suýt bị bắt.
 Rồi Hai Mỏ Gảy lánh cư. Rồi Năm Cán Vá cũng bỏ làng ra đi. Nhưng chị Bốn Chìa Vôi thì ở lại, để thỉnh thoảng còn hy vọng gặp thằng con trong lực lượng. Chị cần dỗ dành để nó rời bỏ lực lượng, ít ra nó đừng có "bia" vu vơ vào một chiếc phi cơ bay lẻ, vào một anh địa phương quân lơ thơ về thăm vợ v.v..., đừng có gây rắc rối làm cho cả làng bị tai họa lây. Chị Bốn Chìa Vôi ở lại làng, chịu khổ chịu sở mà ở lại. Nhưng mãi không gặp được đứa con. Chị ở lại chỉ để có dịp chôn xác con Sáu Ty.”

Về chị Bốn Chìa Vôi, tuy có con theo “giải phóng” nhưng trong tâm Võ Phiến cũng suy nghĩ kỷ và đã tha thứ cho chị, đó là cái tính nhân bản nhất của Võ Phiến khi nhìn một sự việc, mà sự trắng đen trộn lẫn. Tuy nhiên tác giả cũng sợ rằng, cái ác của cuộc chiến tranh kéo dài quá lâu ấy, của những con người ấy (Việt cộng) phải phản ứng, rồi quen với những cái ác ấy, dần dần nó thêm thắt vào truyền thống của dân tộc thì là chí nguy:

“Mà chị biết làm sao được? Chị sống giữa hoàn cảnh như thế, trong hỏa ngục, trong giết chóc, xâu xé hàng ngày, chị phải tả xông hữu đột để tranh sống. Làm sao ngăn cản ảnh hưởng một hoàn cảnh ác liệt như thế khỏi thấm nhiễm vào tâm hồn chị? Ngày một ngày hai, chị biến cải. Cuộc chiến kéo dài lâu quá: Trong nguy biến chị phản ứng tàn nhẫn, rồi quen với những phản ứng ấy.
 Mai sau, khói lửa với quằn quại chấm dứt, nhưng cái nét tàn nhẫn nọ rồi có sẽ lưu lại như một di tích trong tâm hồn chị và những người như chị, lưu lại như một thêm thắt vào cái vốn các đặc tính truyền thống của dân tộc chăng?
 Chém giết, dù kịch liệt đến thế nào, trong một trăm, hai trăm giờ rồi ngừng, thì chuyện có thể trôi qua. Nhưng chém giết lọc lừa suốt phần tư thế kỷ, như thế liệu có thành một tập quán sinh hoạt gây tệ hại tâm lý lâu dài?”

 
Với giọng văn rề rà, kể lễ, Võ Phiến đã cho chúng ta thấy một khía cạnh khác của cuộc chiến tranh vừa qua, đó là cái ác lấn lướt cái thiện. Cho nên đọc văn ông, dù lớp trẻ hải ngoại sau này, chưa một lần sống ở Việt Nam, nhất là chưa sống trong cuộc chiến tranh đó, cũng có thể nhận thấy bộ mặt lọc lừa, dữ dằn, hung hiểm của phe mang danh “giải phóng” hay là sự tàn phá bạo liệt của cuộc chiến tranh hơn hai mươi năm.

Trần Yên Hòa

 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn