DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,346,495

Thiền của tôi - Vệ Tuệ (25, 26, 27, 28)

Monday, August 19, 201312:00 AM(View: 3892)
Thiền của tôi - Vệ Tuệ (25, 26, 27, 28)
Thiền của tôi





blank




Một phần tình yêu biến mất ở Buenos

  Dù giường bạn có lớn bao nhiêu, có mềm mại bao nhiêu, có ấm áp bao nhiêu, bạn vẫn phải xuống giường.
 - Grace Slick -  

Xin nhớ rõ, tất cả chúng ta trên thế giới này đều cô độc một mình
  - Lily Tomlin -  
 Vạn vật dưới thiên hạ đều biến hóa không ngừng.
 - Kinh dịch -
 

 


 Buenos Aires - Mùa hè.
 


Tất cả mọi người ở đây đều nhiệt tình và thân thiện. Dù nguy cơ kinh tế không thể thảm hại hơn được nữa, nom mọi người vẫn lương thiện và vồn vã. Nhưng người ta càng khát khao được đọc. Trong đêm tối lành lạnh, đốt ngọn đèn dầu, đọc một cuốn sách. Thứ tình cảm kiểu cổ điển đó như được sống lại trong bối cảnh xã hội có nền kinh tế sa sút. Thật đúng là may mắn trong bất hạnh.
 Trong cái thành phố tràn ngập cây cổ thụ và bầu trời xanh, trong khách sạn Marriott năm sao do nhà xuất bản đặt sẵn, tôi bận rộn mất hai ngày.
 Tất cả các cuộc phỏng vấn đều được diễn ra trong tiệm cà phê ở tầng trệt, đôi khi có sang công viên bên cạnh chụp một số hình. Trong bầu không khí chân thành và thương cảm rất cổ điển như vậy không cho phép bất kỳ sự giả tạo nào. Tôi phát hiện thấy mình dùng trái tim, chứ không phải dùng trí não khi giao lưu với mọi người xung quanh.
 Tôi bị mê mẩn bởi ánh mắt buồn rầu và lóe sáng của mọi người, bởi những cây cổ thụ chọc trời chỉ vốn có ở vùng Nam Mỹ trong công viên, bởi bầu không khí như trong giấc mộng, bởi giáo đường đối diện không xa và bởi thảm cỏ bên ngoài căn phòng tôi.
 Thậm chí, đôi khi tỉnh giấc giữa đêm, tôi cũng có cảm giác nhiều linh hồn đang đi lại, nhảy múa, thì thào tâm sự trên thảm cỏ. Có lẽ họ đến từ giáo đường kia. Họ cô đơn tới phát điên, muốn giao lưu với con người. Họ hiếu kỳ đi lại bên ngoài của phòng một cô gái trẻ Trung Hoa. Ở đây rất hiếm hoi được nhìn thấy người Trung Quốc. Giới báo chí ở đây còn gọi tôi là nhà văn Trung Quốc đầu tiên tới đây.
 Sáng ngày thứ ba, tôi vẫn còn đi dạo trong một giấc mơ kỳ bí, chợt nghe thấy tiếng cửa phòng mở. Thuốc ngủ còn sót lại trong đầu khiến tôi không tài nào mở nổi mắt, nhưng tôi biết ai tới.
 Anh dừng lại ở phòng khách một lát, trả tiền boa cho nhân viên. Rồi nghe thấy tiếng anh vào phòng tắm, sau một hồi xối nước, tôi nghe thấy tiếng cửa phòng ngủ được kéo ra. Anh nhẹ nhàng đi tới bên giường, cúi xuống hôn tôi. Trên môi anh còn đọng lại hơi sương sớm mát lạnh như bạc hà.
 Tôi vẫn nhắm nghiền mắt, giơ hai tay ra ôm chầm lấy anh.
 Muju mang theo mấy hộp trà xanh Nhật Bản làm quà tặng cho ban biên tập và lãnh đạo nhà xuất bản. Chỉ giữ lại một hộp cho chúng tôi dùng buổi sáng để tỉnh táo đầu óc. Trà Nhật Bản và trà Trung Quốc hầu như không có gì khác biệt. Chỉ có điểm khác là người Nhật thích nghiền nát các là trà thành vụn cám.
 Những lúc tôi bận rộn công việc ở tiệm cà phê, Muju một mình vác ba lô, cầm bản đồ và máy quay phim mini đi thăm thú các hang cùng ngõ hẻm ở Buenos.
 Vào lúc chiều tối, anh quay về, ngồi ở một góc xa trong tiệm cà phê, vừa uống trà vừa nhìn tôi. Đây là lần đầu tiên anh ngắm tôi trong lúc tôi đang làm việc. Tôi có thể thấy rõ tình yêu chứa chan trong mắt anh. Anh tự hào về tôi.
 Sau khi công việc kết thúc, một đám người ngồi trên xe, rồi lại ngồi thuyền nhỏ ra nhà hàng bên hồ ăn cơm. Khi đi băng qua khu nhà giàu, Lucy - cô gái đi cùng chúng tôi chỉ về một biệt thự lộng lẫy chiếm gần hết dãy phố, nói: "Mọi người nhìn kìa, tổng thống của chúng tôi sống ở đó". Một người khác tiếp lời: "Thực ra, tổng thống của chúng tôi luôn ở phòng làm việc. Ông bận rộn biến cái đất nước này thành một bãi hổ lốn".
 Chúng tôi tới bên hồ, ngồi trên con thuyền nhỏ. Tôi không nhớ rõ tên hồ, nhưng trong lòng người dân ở Buenos, đó là một kỳ tích. Lucy kể, rừng cây rậm rạp bên hồ từng che chở không ít chiến sĩ cách mạng bị truy sát trong thời kỳ cách mạng Nam Mỹ. Trong đó có không ít nhà thơ, nhà văn, các nghệ sĩ tiến bộ. Ở đây giao thổng không thuận lợi, khúc sông ngoằn nghèo đan xen, địa hình phức tạp, gần như tuyệt giao với thế giới bên ngoài. Quả thực là vùng đất lý tưởng cho chốn nương thân tránh nạn.
 Chúng tôi ngồi trên chiếc thuyền nhỏ có tiếng mô tơ đập ùm ùm, chăm chú quan sát những căn nhà rải rác và đám cây cối kín mít h ai bên bờ. Chúng giăng mắc trập trùng, tĩnh lặng vô bờ. Trên trời có một vầng trăng vừa to vừa tròn, soi bóng xuống hồ. Sóng nước dập dờn, lắc lơ, như thể khẽ đưa tay cũng có thể chạm tới. Bầu trời ở Nam bán cực vừa sáng rỡ vừa sà thấp.
 Thuyền đưa chúng tôi tới một tiệm ăn, neo lại ở cái bến đơn giản được làm từ gỗ, rồi tắt động cơ.
 Trong tiệm ăn có tên là "Mèo hoa" có một con mèo hoa béo phị và hai anh phục vụ. Một anh thấp, mập, đầu trọc, mặt mũi rất kịch tính. Cái mũi ngắn và bành lên đặc biệt khiến người ta rất chú ý, y hệt nhân vật nào đó trong tranh hoạt họa khiến bạn phải bật cười. Một anh khác lại cao lỏng khỏng, đầu tóc cũng nhẵn thín. Trên đầu như thể đang bị thương, quấn một lớp băng dầy. Mặt có vẻ không vui. Bạn sẽ không thể nhịn nổi phán đoán mối quan hệ giữa hai con người khá đặc biệt này.
 Chúng tôi là khách duy nhất trong tiệm, ngồi ăn bên ban công lộ thiên ở lầu trên.
 Nghe nói món pho mát nướng của họ ngon nhất Buenos. Do răng lợi không tốt, tôi ăn cứ như nhai cao su, liền đem phần ăn của mình cho luôn con mèo hoa. Nó liếm tắp lự vào bụng chỉ mất có vài giây, thảo nào mập như vậy. Hai anh phục vụ, một cao, một thấp, lần lượt mang đồ ăn lên. Họ không ngừng cúi xuống dọa con mèo đang ăn ngấu nghiến bên cạnh bàn chúng tôi, khiến nó chạy mất hút.
 Lúc này ở Buenos đang vào mùa thu. Buổi tối ngồi ngoài trời cảm thấy rõ từng đợt gió mát lạnh. Hơi nước bốc lên từ mặt hồ dần thấm vào áo quần, dính trên da thịt, như một kiểu kí ức rất lâu trước đây.
 Người dẫn đường cho chúng tôi đang hút thuốc. Muju trò chuyện với họ dăm đề tài về tình hình đất nước. Tôi và Lucy nói về Susan ở Tây Ban Nha. Lucy từng sống ở Madrid mười năm, đã quen Susan từ lâu.
 Gió đêm từng cơn, bốn bề tĩnh mịch. Đám người ngồi bên hồ, như thể đang ngồi bên cạnh thời gian. Mặt nước trống trải chảy lướt qua chúng tôi, lặng lẽ tuôn về phía trước, mãi cho đến khi hòa vào biển lớn. Nhưng không thể tan biến được. Đó chính là cuộc sống, là giấc mơ.
 Tất cả mọi người đều thích Muju. Nụ cười ấm áp của anh, trái tim rộng mở của anh khiến anh tới đâu đều có thể kết giao bạn bè. Anh là dạng người lấy "bốn bể làm nhà, quảng giao kết bạn", luôn khiến tôi liên tưởng tới những hiệp khách "xách kiếm đi tận chân trời góc biển" trong thời cổ đại phương Đông. Loại đàn ông đó lời nói nghìn vàng, sẵn sàng giúp đỡ bạn bè, thậm chí dám xả thân vì bạn. Với họ, bạn bè còn quan trọng hơn phụ nữ rất nhiều. Thậm chí trong tiểu thuyết cổ đại Trung Quốc còn kể về một người đàn ông vì muốn cứu đám bạn của mình đang bị chết đói trong thành do kẻ thù vây hãm, cuối cùng đã giết ái thiếp yêu quý của mình cho các bạn ăn.
 Muju luôn mặc những bộ đồ thời trang nhất, ấn tượng nhất. Trong cơ thể anh luôn ẩn chứa một linh hồn xưa cũ. Đối với phụ nữ, với bạn bè, anh luôn có thái độ truyền thống tới hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm trước. Sự tồn tại của anh là sự pha trộn giữa thời gian và bùn đất. Anh như một chú báo vừa tò mò vừa không cam tâm, lười nhác xuyên qua cánh rừng công nghiệp hiện đại, để rồi nhanh chóng phát hiện ra thời thơ ấu hạnh phúc của loài người đã kết thúc.
 Sáng hôm sau, chúng tôi ngồi trên thảm cỏ bên ngoài khách sạn, uống trà Nhật Bản, đọc báo tiếng Anh buổi sáng. Bài thứ ba có liên quan tới nguy cơ kinh tế của Argentina, viết rằng hôm qua là lần đầu tiên sau một tháng người Argentina có thể mở lại tài khoản rút tiền. Bên ngoài mấy ngân hàng, người ta xếp hàng dài đến kinh người. Khi đến giờ ngân hàng quy định đóng cửa, người ta phát hiện được xác của ba người già đã chết gục trong đám người xếp hàng vì đói và kiệt sức.
 Đồng peso từng trị giá một đô la Mỹ trước đây, nay trượt giá tới mức một đô la Mỹ có thể đổi được ba peso. Lucy nói với tôi: đây mới chính là thời cơ mua sắm được nhiều thứ ở Argentina. Marriott cũng ngập tràn người Mexico và người Mỹ tranh thủ cơ hội đi du lịch để mua sắm. Người Argentina có lẽ cũng cần có thu nhập. Ở đây, người nước ngoài luôn ngửi thấy mùi bi thương và tiêu điều trong không khí, bởi vậy cũng cảm thấy áy náy khôn nguôi.
 Sau khi người phục vụ mang đồ ăn sáng ra bãi cỏ và nhận ít tiền boa, tôi và Muju đột nhiên nói với tôi: "Tại sao em lại nhìn cậu phục vụ như thế?".
 Muju nhấp một ngụm trà, thủng thỉnh: "Có lẽ em chưa bao giờ ý thức được điều này, nhưng mọi cử chỉ hành vi của em luôn toát lên một vẻ kiêu ngạo không cần thiết".
 Suýt nữa tôi nôn cả miếng bánh mỳ trong miệng ra, lắp bắp, "Em hoàn toàn không hiểu anh nói gì". Giọng nói của tôi run rảy, hai tay xoắn lấy nhau, như thể cố gắng kìm hãm bởi nếu mở tay ra, tôi ném ngay bất cứ thứ gì bên cạnh.
 Muju tránh ánh mắt của tôi, thái một lát thịt nướng đặt vào đĩa của tôi, "Anh nói thật lòng. Đó chỉ là cảm nhận của anh. Từ lâu, anh đã có cảm giác đó, nhưng giờ đây nói ra vẫn hơn. Có lẽ cách nói của anh quá thẳng thắn. Xin lỗi em". Tôi vứt khăn ăn xuống, đứng lên đi về phòng.
 Tôi rửa mặt bằng nước lạnh, nhìn gương. Đột nhiên cảm thấy có thứ gì đó trong tôi đang tan vỡ, như thể nền kinh tế nước này đang vỡ bung vậy. Đây là lần đầu tiên Muju phê phán tôi thẳng thắn như thế, lại đúng vào thời gian và địa điểm mà tôi không ngờ tới. Đau đớn nhất là khi anh nói đã có cảm giác đó từ rất lâu. Điều này khiến tôi cảm thấy xấu hổ. Tại sao lâu như vậy mà tôi không hề hay biết? Trong đầu tôi không ngừng lặp đi lặp lại cảnh tôi mỉm cười với người phục vụ và cho cậu ta tiền boa. Không tài nào hiểu nổi có chỗ nào đáng để Muju phải phê phán gay gắt tới vậy.
 Tôi ghét cách xin lỗi của anh. Mỗi lần anh nói xin lỗi đều khiến tôi có cảm giác một khoảng cách không tài nào xóa nổi. Anh không thực sự nói xin lỗi với tôi, mà chỉ cảm thấy có lỗi đối với những sự việc không chính xác xảy ra trước mắt anh. Không chỉ một lần, tôi thấy anh là một người đàn ông hoàn hảo. Nhưng lần này cũng chính vì anh quá hoàn hảo, tôi đâm thấy tuyệt vọng và phẫn nộ. Chính anh mới là kẻ luôn mang dáng vẻ ngạo mạn trước mặt tôi. Anh có thể nói với phụ nữ rằng "Em không yêu anh nhiều", nhưng không thể dễ dàng nói "Em có thái độ ngạo mạn không cần thiết với người khác". Chỉ có thần thánh mới dùng kiểu nói đó.
 Hay là do tôi sai nhỉ? Bởi vì tôi luôn tán thưởng cách thẳng thắn của anh, luôn coi anh như thần tượng, như một sức mạnh giúp tôi trưởng thành hơn.
 Tôi thay quần áo, xuống tiệm cà phê dưới lầu. Anh vẫn ở lại trên bãi cỏ chờ thầy giáo dạy tiếng Tây Ban Nha do mấy người bạn Argentina thích anh tìm hộ.
 Tôi đau đầu suốt buổi sáng, thường trả lời được một nửa lại không nhớ nổi phóng viên vừa hỏi gì.
 Buổi chiều, tôi có ba tiếng đồng hồ rảnh rỗi. Tới chiều tối tôi mới có một cuộc giao lưu với hơn ba ngàn quan khách tại Hội trường Triển lãm Sách quốc tế đang tổ chức tại Buenos.
 Trong ba tiếng đồng hồ đó, để bù đắp lại những điều không vui do anh tạo ra trong buổi sáng, theo chỉ dẫn của bên du lịch, Muju sắp xếp một chuyến xe tới một nhà hàng ở một bến cảng.
 Thật không may, xe bị lạc đường, cứ vòng đi vòng lại trên những con đường nhỏ ở bến cảng. Thật không thể tin nổi một tiếng đồng hồ trôi qua một cách lãng phí như thế. Anh tài xế chỉ biết dăm từ tiếng Anh xem chừng bất lực. Muju cố giấy vẻ sốt ruột, không ngớt dùng thứ tiếng Tây Ban Nha giả cầy cùng bản đồ chỉ dẫn cho anh tài xế.
 Tôi nhìn ra cửa xe bằng bộ mặt vô cảm. Khi chiếc xe đi qua một khu dân nghèo, tôi nhìn thấy một đám nhóc mặc quần áo thể thao bẩn thỉu đang gào thét, đuổi theo trái bóng trên một khoảng đất trống. Trở thành Maradona như thể là hy vọng giúp chúng thoát ly khỏi khu phố nghèo đói này.
 Nửa tiếng sau, vẫn không tìm được nhà hàng mà Muju muốn tới. Đột nhiên, tôi nói với anh tài xế: "Xin lỗi, xin dừng xe lại". Anh ta không hiểu tiếng Anh, khiến tôi phải làm động tác tay, rồi lặp lại lần nữa.
 Ba người ngồi phía ngoài một tiệm ăn sạch sẽ như vừa được dội rửa bằng nước nhưng khá bủn xỉn. Trên đường cũng có khách du lịch qua lại. Cách đó không xa có một đôi nam nữ đang biểu diễn tango dưới ánh mặt trời. Cô gái rất xinh đẹp, chân dài, ngực nở, mọi thứ đều hoàn mỹ. Nếu ở Thượng Hải, nhất định cô ta có thể biểu diễn tại câu lạc bộ tốt nhất hoặc lấy được một gã rất giàu có. Điệu nhảy vừa kết thúc, chàng trai chìa mũ ra xin tiền, mọi người đứng xem lập tức giải tán.
 Tôi trầm ngâm không nói.
 Muju đột nhiên lại cất tiếng: "Em thấy chưa? Cử chỉ ban nãy của em đối với tài xế cũng rất kiêu ngạo". Khi nói câu này, đôi mắt anh đầy thẳng thắn và ngập tràn vẻ hấp dẫn mê người.
 Tôi bật khóc. Tôi giấu mặt dưới chiếc mũ hiệu Chanel và cặp kính râm to hiệu Armani. Nước mắt ngập tràn, tan nát tả tơi.
 Mặt trời ở Nam bán cực chiếu rọi xuống con người và đường phố ở một khoảng cách rất gần. Dưới ánh nắng chứa chan, tôi cảm nhận được nỗi thương tâm và oan uổng không lời. "Đừng khóc nữa, em yêu. Chúng ta ăn cơm đi, nếu không buổi giao lưu của em sẽ bị trễ đấy. Những chuyện khác, chúng ta có thể để sau buổi giao lưu thảo luận tiếp", anh thử an ủi tôi bằng giọng dịu dàng.
 Tôi vẫn không hé răng lấy một tiếng, như thể một người tuyết đang không ngừng tan ra và dần biến mất dưới ánh mặt trời.
 Muju không ngừng ôm tôi, hôn tôi, dỗ dành và an ủi tôi, nói rất nhiều lần xin lỗi, nhưng đều không có tác dụng. Tôi không còn bất kỳ cảm giác gì, chỉ thấy khiếp sợ và bi thương. Tôi nhận thấy tình yêu đang bỏ tôi đi ngày càng xa và tôi không còn đủ hơi sức để giữ chân nó lại.
 Đó là một buổi chiều trống rỗng nhất, đầy ắp cảm giác hụt hẫng trong ký ức tôi.
 Trong buổi chiều đó, thần đã cảnh cáo tôi rằng: dù đó là một người thực lòng yêu con, trân trọng con, dù đó là một người nồng nàn và có trí tuệ "gần như hoàn hảo", vẫn có thể trở thành địa ngục, thành khắc tinh của con trong một thời khắc nào đó. Bởi vì cuộc đời con người luôn không hoàn hảo. Vì anh ta chỉ là một con người. Và con người vẫn mãi chỉ là con người mà thôi, vĩnh viễn không thể biến thành thần thánh. Đã là con người, ắt có làm hại nhau, hiểu lầm hoặc nhìn nhận phiến diện.
 Tôi không ăn gì, vội vã đến kịp trước buổi giao lưu đúng năm phút. Nhóm Lucy đang cuống lên như sắp phát điên. Tôi cũng không nhớ rõ đã nói những gì trước hơn ba ngàn người.
 Tôi chỉ thấy thấp thoáng trong góc trên hàng ghế đầu một người đàn ông quen thuộc đang giơ máy quay mini lên quay tôi. Tay trái của anh có một ngón khuyết. Anh rất yêu tôi, nhưng đôi khi không cẩn thận làm tôi bị tổn thương. Tôi rất yêu anh, nhưng đôi khi không hiểu nổi anh.
 Vào ngày cuối cùng ở Buenos, chúng tôi tới sân vận động xem một trận đấu bóng. Người đông như kiến, hò hét nhảy múa cuồng loạn. Nơi đây có lẽ là nơi có sức sống duy nhất ở đất nước này.
 Cuối cùng chúng tôi cũng đến một siêu thị tốt nhất Buenos. Tôi ngồi nghỉ ở tiệm cà phê dưới tầng hầm. Anh một mình đi ngó nghiêng các tiệm thời trang. Khi anh về, tay xách lỉnh kỉnh mấy cái túi, từ đầu tới chân đã thay giầy mới và quần áo mới.
 Anh rút một gói nhỏ ra đưa tôi. "Tặng em", anh trìu mến. Trong túi có một cái hộp nhỏ hơn một chút. Trong hộp lại có hộp khác nhỏ hơn nữa. Mở ra xem, té ra là một đôi hoa tai bằng ngọc đỏ và một dây chuyền vàng trắng có mặt trái tim bằng ngọc đỏ.
 Chúng lấp lánh dưới ánh điện. Màu đỏ như giọt máu trinh nữ, tuyệt đẹp.
 Tôi nhìn anh, "Cám ơn anh".
 "Em làm việc vất vả quá rồi", anh nói, "Em đáng được hưởng chúng"
 Lucy tiễn chúng tôi ra sân bay. Trước khi máy bay cất cánh, chúng tôi lục lọi mọi túi quần áo và túi xách, tiêu sạch tiền peso và tiền lẻ còn sót lại tại siêu thị ở sân bay. Mua được hai gói trà đắng đặc sản của Argentina và một hộp kẹo cao su.
 Trong túi chỉ còn lại đô la Mỹ. Cuối cùng chúng tôi quay về nước Mỹ.



Hương thơm dưới ánh mặt trời




blank

 

 Bạn sẽ chú ý tới hương thơm của hoa, nhưng lại không hề hay biết đó chính là mùi của tôi tỏa ra.
 - Rabindrantath Tagore -

 
 


Sức khỏe của pháp sư Tính Không dần hồi phục.
 Nhưng ông ăn ít tới kinh người, thậm chí còn áp dụng cả luật kiêng "không ăn gì sau bữa trưa". Mỗi ngày ông chỉ ăn hai bữa sáng và trưa. Buổi sáng là một bát cháo trắng, không hề có chút rau nào. Buổi trưa là một bát cơm, một đĩa "rau La Hán". Món "rau La Hán" này chính là đậu phụ thêm chút rau xanh, đậu, nấm, và không hề thêm tí thịt, cá nào. Một ngày chỉ có hai bữa như vậy.
 Một buổi chiều mát mẻ, tôi đưa pháp sư Tính Không vừa lành bệnh đi dạo quanh chùa Pháp Vũ.
 Khi đi qua điện Thiên Vương trước cây Bồ Đề, mấy con chim trên cành cứ ríu rít không ngớt, tiếng trong trẻo như âm thanh phát ra trên cành trúc.
 "Pháp sư có nghe thấy tiếng chim kêu không?", tôi hỏi.
 "Có", pháp sư gật đầu, rồi ngẩng đầu nhìn lên cành cây. Mấy con chim lích rích trong lùm cây rậm rạp ù té bay ùa lên, mất hút trong tầm nhìn.
 "Bây giờ còn nghe thấy tiếng chim nữa không?", pháp sư hờ hững hỏi.
 Tôi không biết trả lời ra sao. Bản thân tôi cảm thấy mình không thể nói "không", mặc dù sự thực đúng là như vậy. Câu hỏi của pháp sư như có một ý nghĩa khác.
 Pháp sư xoay người, tiếp tục đi về phía trước. Tôi đi theo sau, ngắm hai cái bóng một trước một sau của tôi và pháp sư dưới ánh mặt trời.
 "Xin lỗi, con chưa lĩnh hội được ý thầy", tôi lúng búng thốt lên.
 Pháp sư mỉm cười, "Pháp danh của con là Trí Tuệ cơ mà!".
 Tôi cũng cười, "Đó là vì con cần trí tuệ ạ".
 Pháp sư vuốt bộ râu trắng như tuyết, từ tốn nói, "Âm thanh như bụi trần, và cũng bị hủy diệt như bụi trần. Khả năng nghe được không sinh ra khi âm thanh tạo ra và không hủy diệt khi âm thanh bị hủy diệt. Tính ngộ không nhận tích lũy của âm thanh tới và đi, hoặc của âm thanh lớn hay nhỏ".
 Tôi dừng chân, vỗ tay, hoan hỉ, "Con hiểu rồi ạ".
 Pháp sư như vẫn không nghe thấy, cứ tiếp tục đi thẳng. Tôi vội vã đuổi theo sau, đỡ ông bước lên bậc tam cấp.
 Chú tiểu Tuệ Quang đang bận rộn trong hành lang. Đi tới ngó, thấy trên ghế đá đã đặt sẵn một sấp giấy. Một bó hoa cúc dại tươi vừa hái đặt phía trên. Tuệ Quang đang cắm cúi lấy một cành trúc nhỏ lật đám hoa cúc, để mỗi cành hoa đều nhận được ánh nắng mặt trời.
 "Sư phụ tới rồi ạ!", Tuệ Quang vừa ngẩng đầu thấy chúng tôi, vộ vã đứng lên.
 Pháp sư Tính Không chỉ cho tôi một cái ghế đá khác và nói, "Nghỉ chân ở đây thôi". Rồi lại cười nói với Tuệ Quang, "Chơi một ván cờ đi".
 "Đệ tử đi lấy bàn cờ và trà ạ", Tuệ Quang thưa rồi co giò chạy đi.
 Chẳng mấy chốc, pháp sư và Tuệ Quang đã bầy xong bàn cờ, vừa uống trà vừa đánh cờ vây. Tôi ngồi bên cạnh quan sát cuộc đấu, chốc chốc lại ra lật đám hoa cúc để ánh nắng trải đều vào từng cánh hoa. Đợi đến khi chỗ hoa đã phơi khô, có thể lồng vào vải gối, làm thành gối hoa cúc tỏa mùi thơm, để pháp sư dùng. Nghe nói ngủ trên chiếc gối này sẽ khiến tai và mắt thông minh, nhanh nhậy hơn, đồng thời cũng giúp tăng nhiệt, giảm độ ẩm. Tối qua, pháp sư Tính Không chỉ tiện miệng kể về chức năng của loại gối này, không ngờ Tuệ Quang đã ghi nhớ. Sáng sớm nay chú đã lên núi hái ngay hoa cúc về cho thầy.
 Tôi quay đầu nhìn Tuệ Quang đúng lúc chú cũng đang nhìn thầy. Gương mặt trẻ trung đượm vẻ chân thành và chăm chú. Chú tiểu trong chùa cũng giống như quả táo chưa bị côn trùng gặm qua, có linh hồn lương thiện và trong sáng không gì so sánh nổi.
 Nhớ có lần tôi hỏi chú: "Đã bao giờ chú nghĩ tới việc muốn trở thành người như thế nào chưa?".
 Chú ta liền đáp: "Muốn giống người như pháp sư Tính Không".
 Tôi ngồi bên cạnh hai vị tu hành một già một rtrẻ rất lâu, ngửi thấy mùi thơm dịu thoảng tới từng đợt, thấm vào tận tim can. Đó không chỉ là mùi thơm từ đám hoa cúc đang phơi dưới nắng, mà còn bắt nguồn từ một người già đã sống một thế kỷ và từ cậu thanh niên có linh hồn như đóa hoa chưa nở.
 Thánh kinh đã ghi rõ: trên người kẻ tu hành có hương thơm.



blank




Rời bỏ New York, rời bỏ anh

 

 Bạn cần phải cực kỳ yêu thích đàn ông. Bạn cần phải rất thích họ mới có thể yêu nổi họ. Nếu không, họ sẽ trở thành những thứ không tài nào chịu đựng nổi.
  - Marguerita Duras -
 

 Đi thôi, đã tới giờ rồi.
  - Lão Tử -
 

 


 Cây cối xanh rờn tỏa xuống bóng râm tĩnh mịch. Đường phố và các tòa nhà đều được mặt trời chiếu sáng lóa. New York đã bước sang đầu hè.
 
 Tôi đeo chiếc kính râm hiệu Chanel đời mới ngồi trong tiệm cà phê ở một góc đường thuộc khu Upper West Side, vẫn ghi nhật ký, ngắm người qua lại và uống trà. Một người Trung Quốc vĩnh viễn chỉ uống trà trong các tiệm cà phê ở Manhattan. Ý tưởng này đã thể hiện rõ thân phận nguồn gốc xuất xứ của người khách. Nhưng nó hầu như cũng là một lời nguyền: Ở Thượng Hải, cô ta bị khinh miệt là một kẻ lập dị mặc quần da, chỉ làm tình với văn hóa phương Tây, nhưng ở New Yorkm cô ta cũng là một kẻ lập di chỉ mặc áo dài tơ Thượng Hải và uống trà. Cô ta đã đi lang bạt khắp thế giới, nhưng dù tới đâu vẫn là khách tha phương vội vã kéo lê chiếc va ly xách tay chờ lên máy bay.
 
 Có lúc, tôi thấy cổ họng đau rát. Đó là do cảm giác thiếu hụt thế giới của mình như biến thành một cái gai, chọc vào cổ họng.
 
 Tôi mơ về ngôi chùa trên đảo và núi Phổ Đà nơi tôi sinh ra ngày càng nhiều. Cảnh mơ thấy nhiều nhất là: Tôi kiệt sức trôi dạt trên mặt biển, tìm kiếm hòn đảo nhỏ đó khắp nơi. Đúng lúc tôi định sắp bỏ cuộc, một tiếng nói như vọng từ trờ cao xuống nói với tôi điều gì. Tôi cố gắng nghe nhưng không nghe rõ. Cảnh tượng như thế cùng âm thanh vọng từ trên trời xuống cứ lặp đi lặp lại, hết lần này tới lần khác. Lúc tỉnh giấc, tôi luôn bị đắm chìm trong nỗi muộn phiền và rất hối tiếc bởi mỗi lần đều không nghe rõ được tiếng nói thần bí đó đã nói với tôi những gì.
 
 Trong một giấc mơ khác, tôi biến thành một đứa trẻ hai, ba tuổi, đang ra sức bước qua bậu cửa. Đối với tôi, bậu cửa quá cao. Tôi cần phải tập trung tinh thần và phải dốc hết sức lực. Dù nỗ lực như vậy, nhưng hầu như tôi không hề cảm thấy sợ hãi, mặc cho xung quanh vắng lặng không một bóng người. Vắng vẻ nhưng rất sáng sủa.
 
 Muju vẫn bận rộn ở văn phòng như cũ. Nếu ở nhà được một hôm, anh sẽ cảm thấy tội lỗi nếu cứ ở lỳ trong nhà quá mười hai tiếng đồng hồ.
 
 Chẳng ai nhắc đến chuyện cãi nhau ở Argentina, nhưng điều đó không biểu lộ tôi và anh đã hoàn toàn hiểu nhau và tha thứ cho nhau. Chúng tôi như đang rơi vào trong kí ước ngầm kì quái, như thể hạ quyết tâm trong những ngày này tạm thời không đụng chạm tới những vấn đề làm phiền lòng người. Chúng tôi chỉ muốn nhìn thấy những phần thuộc về yêu thương trên cơ thể của đối phương, chỉ muốn thư giãn phơi nắng trong khu vực an toàn và tĩnh lặng của cuộc sống, như thể một con chim đã bay mỏi cánh.
 
 Đồng thời, chúng tôi đều có một linh cảm. Đó là tôi sẽ không ở New York lâu nữa. Chẳng mấy chốc, tôi sẽ bỏ đi rất nhanh vào một ngày nào đó.
 
 Trong thùng thư dưới lầu có thư của nhà xuất bản gửi tới, một số hợp đồng và một tấm thiệp năm mới do Kitty vợ cũ của Muju gửi tới (cô chúc tôi và Muju được hạnh phúc như ý), một tá hóa đơn thanh toán và vài cuốn sách giả bản tiếng Hoa của Búp bê Thượng Hải do Hỉ Nhĩ gửi từ Thượng Hải tới. (Cô ấy đã thay tôi sưu tầm được hơn ba chục cuốn sách giả có bìa mang hình thù kỳ quái), và chỉ mất một đô la có thể mua được một đĩa DVD lậu của phim Người nhện.
 
 Ở phần tái bút, cô ấy cảnh báo với tôi rằng: Đừng tiêu mười đô la ở New York để xem những bộ phim rác rưởi của Hollywood. Hãy quay về Trung Quốc bởi với mười đô la đó, cậu có thể coi được mười bộ phim tử tế.
 
 Muju sắp xếp một bữa tối chia tay, nhưng không phải vì tôi, mà vì anh bạn đồng nghiệp ngọt ngào và tài hoa của anh là Peter. Peter đã tìm được một công việc mà anh hằng mơ ước ở Francisco - trợ giảng trong một trường đại học. Còn ở đây, với sự thật là công ty của Muju đang cố giãy giụa trong vô vàn khó khăn và khách hàng đang ngày càng vơi đi khiến anh phải suy tính tới việc giảm số lượng nhân viên. Vì thế đây là việc mà cả hai bên đều tình nguyện.
 
 Nhưng bầu không khí bữa ăn tối đó rất buồn. Muju phá lệ uống rất nhiều rượu, cũng có phần hơi say, kéo tay Peter liến thoắng không ngớt. Trong mắt anh cũng lấp lánh ngấn lệ. Họ đã cùng làm việc bên nhau suốt mười năm. Nói theo cách của Muju chính là: "Đó là một thứ tình cảm như những người ruột thịt".
 
 Anh luôn có thể dễ dàng nảy sinh tình cảm gia đình với đồng nghiệp, với bạn bè, với bạn gái cũ, vợ cũ, thậm chí đối với cả những đối tượng mà anh đã từng quay phim tài liệu. Còn với tôi, có lẽ tôi bị treo ở một góc nào đó, lơ lửng giữa "gia đình" và con người từng có tuổi thơ không vui vẻ, từng bị cả gia tộc từ bỏ vì lấy một cô vợ Do Thái như Muju sẽ cần người nhà hơn hay cần người tình hơn đây? Anh muốn tìm kiếm những tình yêu như thế nào từ trên người các cô bạn gái cũ? Tình yêu của người thân hay tình yêu của người tình?
 
 Bữa tối kết thúc cũng đã nửa đêm. Nhân lúc còn lơ mơ buồn bã, tôi nhanh chóng vào bếp làm một bình trà, rồi hai người ngồi nói chuyện trên ghế sô pha ở phòng khách.
 
 "Như có một thằng bé trong con người anh... Thực ra, đôi khi anh cũng rất trẻ con", anh thanh minh.
 
 "Em hiểu", tôi đáp. Điều này quá hiển nhiên. Hãy cứ nhìn những món đồ chơi hình quả đào, hình người đẹp bầy khắp phòng, nhìn mớ trang phục vừa điên rồ vừa đáng yêu trên người anh. Nhìn gương mặt tròn trịa và đôi mắt híp lại khi anh phá lên cười.
 
 "Đôi khi, anh cũng làm những việc thật ngu ngốc", anh nhấp một ngụm trà, đặt tách xuống, rồi vuốt ve lưng tôi. Qua làn áo mỏng, tôi cảm nhận được độ nóng còn vương lại trên tay anh từ tách trà. "Mặc dù em cũng làm nhiều điều dại dột, Coco à, anh vẫn luôn cảm thấy em thông minh hơn anh".
 
 Tôi cười, "Cám ơn anh, anh thông minh hơn em chứ".
 Anh không cười, vẫn tiếp tục xoa lưng tôi. Sự vuốt ve của anh cũng vô cùng đặc biệt mặc dù không hề cố ý. Tôi không nhịn nổi khát vọng chỉ muốn biến thành một chú mèo lười nhác.
 "Chúng ta không phải đang chiến đấu. Chúng ta đang cố gắng hiểu nhau và cùng tìm ra một khả năng, đúng không em?".
 "Khả năng gì?"
 "Em không biết sao? Đó là kết hôn, sinh con, như bao đôi trai gái khác khi ở bên nhau vẫn suy tính ấy".
 Lần đầu tiên nghe anh thẳng thắn đề cập tới những vấn đề nhạy cảm như vậy, tôi không khỏi sững sờ. Đó là những việc mà tôi vẫn nghí tới hàng ngày, chúng luôn xuất hiện như xào rau trong nồi. Nhưng anh nói như thế trong lúc này, đột nhiên tôi không biết phải nói ra sao. Tôi đứng dậy, bước vào bếp, nhưng vào đó cũng chẳng làm gì. Sau khi ở trong đó mấy phút, tôi giả vờ như vừa rửa tay, bước ra.
 "Vậy anh nhìn nhận thế nào về khả năng giữa hai chúng ta?", tôi hỏi, cố giữ giọng thật bình thản. Như thế dù anh có nói gì đi chăng nữa, tôi vẫn chuẩn bị sẵn tư tưởng.
 Muju đang nằm trên sô pha chìa một tay về phía tôi. Tôi đành bước tới. Anh kéo tôi lại. Tôi đứng không vững, đổ cả người lên anh.
 Chúng tôi nằm trên sô pha rất lâu, không nói gì. Nhưng sự im lặng của chúng tôi luôn có ý nghĩa gì đó. Tôi bị bao phủ bởi vẻ dịu dàng và kiên định của anh. Ngửi thấy mùi rượu trong hơi thở của anh và mùi đàn ông, vừa ngọt ngào vừa bực bội.
 "Chúng ta sẽ không lấy nhau, đúng không?", rút cục tôi cũng mở miệng và không thích cái vẻ tiêu cực và nhát gát trong ngữ khí của mình.
 "... Không biết nữa", anh nói.
 Tôi im bặt. Dù anh nói "Không biết", nhưng tôi đã đoán được phần lớn hàm ý thực sự của anh. "Tại sao anh lại không biết...", tôi lầm rầm, cố bò ra khỏi người anh. Nhưng anh vẫn ôm ghì lấy tôi, không chịu để tôi vùng ra.
 Dẫy dụa hồi lâu không có tác dụng, tôi đành phải nằm nguyên trên người anh. Khi mặt tôi áp vào mặt anh, tôi mới phát hiện thấy mặt tôi ướt đẫm. Thì ra tôi đã khóc. "Thật vô dụng!", tôi tự nguyền rủa mình. Những giọt nước mắt đáng ghét, người đàn ông chỉ biết nói "không biết" nhưng cứ ôm ghì lấy bạn không cho bạn đi thật đáng ghét.
 "Cưng ơi", giọng của anh nghe thật xa xăm, "Những ngày tháng chúng mình sống bên nhau, anh tin rằng em cũng có lúc cảm thấy thật mê hoặc. Chắc chắn anh cũng có nhiều điểm khiến em không hài lòng, không thích... Em quá đặc biệt, rất nhiều đàn ông mê em. Em như một nàng công chúa vậy. Nhưng có lúc anh cảm thấy rất khó khăn, hầu như rất khó làm em vui vẻ được. Dù anh làm những gì, em vẫn tức giận...".
 Giọng anh rất ấm ức, nhưng dịch ra trực tiếp hơn chính là: từ khi quen nhau đến nay, Muju có lúc cảm thấy rất mê hoặc. Tôi là một phụ nữ rất khó chiều chuộng vì đã được quá cưng chiều. Cho tới giờ, anh vẫn chưa nhìn thấy tương lai vui vẻ giữa tôi và anh.
 Tôi đứng dậy khỏi ghế sô pha, đi vào buồng tắm, đóng cửa lại. Mở vòi nước, nước đập rào rào vào mặt, khiến da hơi đau. Có thể cảm thấy được đau là hạnh phúc, chứng minh bạn vẫn còn sống.
 Từ buồng tắm đi ra, tôi nói với Muju. Có lẽ đã đến lúc em quay về Thượng Hải viết một cuốn sách mới.
 Sáng hôm sau, tôi gọi điện cho một người làm quản lý du lịch. Cô ta nói hiện đang là mùa du lịch, các chuyến đi Thượng Hải hầu như đều kín chỗ. "Tôi chỉ cần một ghế", tôi nói, "Thế nào cô cũng có thể kiếm được một ghế cho tôi, đắt một tí cũng không sao".
 Đặt điện thoại xuống, cuộc sống đột nhiên trở nên rõ ràng hơn. Tôi như một hành tinh nhỏ bị lạc lối trong vũ trụ, nay đã tìm lại được một quỹ đạo, một hướng bay. Dù đó không phải là hướng đi mà tôi mong muốn nhất, nhưng có phương hướng vẫn tốt hơn là không có.
 Tôi bắt đầu dần thu dọn hành lý của mình, đi lại từ phòng này sang phòng kia, tay cầm một tờ giấy ghi chi chít các vật dụng.
 Trên tờ giấy liệt kê hết những thứ mà tôi cần phải mang đi nhưng dễ quên, không phân biệt lớn nhỏ. Tuýp thuốc dưỡng môi hiệu Kiehl s mua tại Barney, dây cắm máy tính xách tay, một cuộn phim chưa kịp rửa, tạp chí sex toàn đàn ông cởi trần mua cho Hỉ Nhĩ, thuốc chống say xe sản xuất tại Mỹ mua cho Phác Dũng. Anh là một tay chơi ghi ta trong một ban nhạc Rock, là kẻ mê đàn bà và Tatoo tới điên cuồng. Anh có một đôi bàn tay gợi cảm, tỏa mùi thuốc tài mà. Đôi tay đó có thể gẩy ghi ta nhanh đến ghê hồn. Rất nhiều phụ nữ đều muốn biến thành chiếc ghi ta trong tay anh. Nỗi đau khổ duy nhất của anh là thường xuyên say xe. Nhưng thuốc chống say xe do Trung Quốc sản xuất hầu như không có tác dụng với anh. Chỉ có thể dùng thuốc chống say xe do Nhật hoặc Mỹ sản xuất.
 Khi lượn đi lượn lại trong phòng, đột nhiên tôi rất háo hức với một loạt ngăn tủ trong phòng khách. Tôi chưa từng mở chúng, cũng chưa từng nhìn thấy Muju mở chúng. Tôi đoán bên trong đựng những thứ không mấy quan trọng vì Muju chưa bao giờ khóa tủ. Nhưng dù không quan trọng, tôi cũng tìm ra được một lý do an tâm cho việc nhìn trộm của mình.
 Mở hai cánh tủ lớn, bên trong còn một loạt ngăn kéo. Một ngăn kéo trong đó cất một lô hộp giầy. Tò mò mở một hộp, té ra bên trong không phải là giầy, mà là một đống ảnh. Những người phụ nữ mà tôi không quen. Những tấm hình đơn, rồi hình chụp chung với Muju. Tất cả bạn gái cũ của anh đều ở đây.
 Một giọng nói như nói với tôi: "Đừng làm chuyện vô nghĩa như thế. Cô là người lớn rồi". Một giọng khác lại nói: "Tại sao không được xem hình các cô bạn gái cũ đó? Có lẽ ngươi cũng sắp trở thành bạn gái cũ rồi".
 Nhưng rồi tôi vẫn xem. Xem được một lúc, tôi không cảm thấy hưng phấn và kích thích như hằng nghĩ. Có một số cô đẹp hơn tôi, nhưng đa phần trông rất bình thường. Chỉ có điều đều mang vẻ đáng yêu và đều mỉm cười, hoặc lộ rõ vẻ hạnh phúc. Tôi xem được nửa chừng liền dừng lại. Muju có quyền lưu giữ lịch sử và những bí mất của anh. Dùng cách này để hiểu thêm về anh, để nhìn trộm anh, chẳng qua chỉ là hành vi của một kẻ bất lực.
 Tôi đóng nắp hộp, đúng lúc định đóng ngăn kéo, chợt một tập album đề tên Muju lại thu hút sự chú ý của tôi. Mở ra, bên trong toàn là ảnh của anh. Một tấm ảnh cũ của anh thời đại học khiến tôi mê mẩn. Nom anh y hệt một cậu thanh niên đẹp trai nhưng hư hỏng, mặc đồ da, hút thuốc trên bờ tường, ánh mắt mơ màng nhưng cũng lóe lên khát vọng mãnh liệt. Cả bức ảnh chỉ mang hai màu đen trắng, cộng thêm màu thời gian phai mờ khiến nó mang một vẻ đẹp không có thật. Anh còn có vẻ hoang dại và yếu đuối mà giờ đây đã tan biến. Nhưng nét hoang dại và yếu đuối đó cộng lại hầu như đã là cả tuổi thanh xuân.
 Tôi lấy tấm ảnh ra. Đóng ngăn kéo, đóng tủ, bước tới trước va ly của tôi, lấy ra một cặp tài liệu đựng đầy các thứ lẩm cẩm như mảnh giấy có nét chữ của Muju, vé ca nhạc đi xem cùng anh, vé máy bay đi cùng anh... cẩn thận nhét tấm ảnh của anh vào trong.
 Trong những ngày cuối cùng ở New York, tôi lần lượt đi ăn cơm với Jimmy Wong, biên tập viên nhà xuất bản, giáo sư khoa Đong Á trường Đại học Columbia, Natasha cô thợ mát xa của tôi, Richard và cô vợ W và nhà phê bình sách Eric. Ăn cơm là phương thức tốt để giã biệt.
 "Tôi cần phải quay về Thượng Hải. Cuốn sách mới của tôi cần một môi trường ngôn ngữ tiếng Hoa. Từ trước tới nay, tôi vẫn dùng tiếng Hoa để sáng tác", tôi luôn nói như vậy trong các buổi gặp. Như thể sáng tác trở thành một lý do chính đáng khiến tôi bắt buộc phải rời New York.
 Thời gian này, Jimmy Wong bạn tôi cũng gặp phải rắc rối lớn. Anh vừa phát hiện quan hệ giữa cô con cưng Nancy bề ngoài ngoan ngoãn, đang theo học tại trường trung học minh tinh Julia với bà mẹ đang quản giáo nó nghiêm khắc đã rơi vào tình trạng nước lửa không dung. Nancy lấy bàn chải đánh răng của mẹ cọ bồn cầu, rồi đùng đùng bỏ nhà đi. Có một lần, con bé phải làm công ba tiếng đồng hồ tại một tiệm pizza ở New Jersey vì không đủ tiền trả bánh. Cuối cùng phải gọi điện xin bố Jimmy cứu trợ.
 Lần bỏ nhà này thảm hại hơn nữa là đã kéo dài gần một tuần, Jimmy và cô vợ cũ như sắp phát điên. Cuối cùng họ mới phát hiện ra cục cưng yêu quý của họ tham gia một bữa tiệc dâm loạn trong một nhà nghỉ mùa hè của một đứa bạn học cùng lớp. Một lũ nhóc con nhà giàu mới mười bốn mười lăm tuổi, rủ nhau trốn học, hút tài mà, dùng thuốc lắc và làm tình tập thể.
 Không chỉ có vậy, Jimmy còn lo lắng anh bị FBI theo dõi. Anh chưa bao giờ dám làm điều gì phạm pháp, nhưng trong số khách hàng của anh khó tránh một vài người dùng chứng minh thư hoặc tài liệu giả. Anh không dám tìm đàn bà da trắng vì sợ nội gián của cảnh sát. Có lúc, anh rõ thật ngây thơ.
 Tóm lại, Jimmy gần đây đang rơi vào trạng thái tinh thần bất ổn, phải nhờ đến sự giúp đỡ của bác sĩ tâm lý.
 Câu chuyện của anh lại càng khích lệ quyết tâm của tôi phải rời bỏ New York. Trên đời này thiếu gì thời cơ đủ loại. Giờ là thời điểm cần phải tạm thời rời đi.
 Điều khiến tôi bất ngờ là Eric đã từ bỏ công việc tại Thời báo New York. Anh dự định một tháng sau tới Thượng Hải, rồi đi thăm thánh địa trong lòng anh là Tây Tạng. Đây là chuyến du lịch đầu tiên anh tới Trung Quốc.
 Anh kể đã gửi email cho bà chị họ Chu Sha của tôi ở Thượng Hải. Anh muốn gặp chị ấy. Sự thật là từ sau cú sét ái tình giữa anh - một chàng trai hai mươi sáu tuổi - với cô - một phụ nữ ba mươi ba tuổi - anh không tài nào xóa nhòa được hình ảnh của cô ra khỏi trí nhớ. Anh muốn gặp cô tới phát điên, bất chấp cô có thích anh hay không, bất chấp cô đã có gia đình.
 Tôi nhìn gương mặt trẻ trung và nhiệt tình của Eric, không nói gì. Đó sẽ là hài kịch hay bi kịch nhỉ?
 Nhưng dù hài hay bi trong quan hệ nam nữ vẫn không thể thoát khỏi mô hình này: anh yêu tôi, tôi không yêu anh. Tôi yêu em, nhưng em không yêu tôi... Quan hệ giữa tôi và Muju lại là: Tôi còn yêu anh, hình như anh vẫn còn yêu tôi. Nhưng tốt nhất là chúng ta nên ở xa nhau một thời gian, xem sau này sẽ ra sao.
 Hôm đó, Muju thật bất thường tiễn tôi ra sân bay. Đã mười năm qua, anh không tiễn ai ra sân bay. Anh không có thói quen này. Trên đường đi, tôi căng thẳng khôn nguôi vì linh cảm được tôi sẽ khóc khi chia tay. Nhưng tôi không hy vọng mình sẽ khóc. Tôi tin tưởng rất mê tín rằng nếu khóc lóc khi chia tay sẽ đem lại bất hạnh, sẽ trở thành vĩnh biệt mãi mãi.
 Thời khắc đó đã đến. Muju cúi thân hình cao to, ôm lấy tôi, hôn lên môi tôi. Nhưng không ngờ môi chúng tôi vừa chạm vào nhau đã lóe lên như giật điện, đau tê tê.
 "Trời ạ, lại giật điện nữa", tôi lẩm bẩm.
 "New York khô quá", anh nói. Chúng tôi nhìn nhau, đột nhiên phá lên cười. Chúng tôi coi như là một cặp khá đặc biệt. Nụ hôn đầu tiên và nụ hôn cuối cùng ở New York đều hôn tới mức giật điện.
 "Nhớ uống nhiều nước trên máy bay nhé", anh dặn dò, "Ngồi lâu nhớ thỉnh thoảng đứng dậy, đánh thái cực quyền ở chỗ lối đi ấy".
 Tôi lại bật cười.
 
 Nhưng khi đã ngồi ổn định trên máy bay, tôi mới phát hiện ra ban nãy tôi không hề khóc. Có lẽ đây là một điềm báo cũng không đến nỗi tệ.





blank



Pháp sư nói: mỉm cười, mỉm cười

 Hỏi: "Làm thế nào để giải thoát?"
 Thiền sư đáp: "Ai trói buộc con?"

 
 


 Sau một trận mưa mùa thu, thời tiết trên núi Phổ Đà đột nhiên lạnh không chịu nổi. Hoa lá cỏ cây thi nhau tàn rữa. Trong sắc màu xanh ngắt vốn có không hề thay đổi trong năm qua, màu của núi rừng giờ bỗng nhuốm thêm màu đỏ sậm và màu nâu sậm. Nhìn từ xa nom sinh động vô cùng.
 
 Thế mà đã ở trên đảo được hai tuần. Sắp gần ngày về, pháp sư Tính Không sai Tuệ Quang tới nhắn tôi hãy tới thăm tệ xá ông trước khi quay về.
 
 Pháp sư Tính Không sống trong một trai phòng nhỏ phía Tây Bắc trong chùa. Căn phòng được bày trí rất đơn giản sạch sẽ, chỉ có một cái ghế cũ, một cái bàn cũ. Cạnh bàn đặt một khám thờ trên có tượng Quan Âm. Một chiếc giường gỗ thấp, trên phủ một lớp chăn mỏng. Nếu so với cuộc sống thường ngày của người thường, quả là lạc hậu tới cả một thế kỷ.
 Nhưng trong căn phòng hầu như không một tí bụi này lại ngập tràn một mùi thơm không tên và hơi ấm lãng đãng. Nhưng thứ khiến tôi phải chú ý nhất lại là một bức lụa trắng treo bên cạnh giường pháp sư, bên trên viết chứ "Tử" bằng mực tàu đen. Mỗi lần nhìn thấ chữ này, tim tôi lại đập đánh thót một cái. Lần đầu tiên bước vào căn phòng này, tôi đã giật mình bởi cái chữ được viết bằng nét bút lông đậm và thô bằng mực tàu đen này.
 Hỏi pháp sư Tính Không tại sao lại treo chữ "Tử" lên tường. Ông vuốt râu, nói rất sâu xa rằng: "Rất nhiều người chỉ bận rộn lo sống mà quên mất một số chuẩn bị tất yếu cho cái chết trong tương lai. Hãy quên đi cái chết trước mắt, tranh thủ lúc nó vẫn chưa đến, phải sống một cuộc đời có ý nghĩa". Một lần khác, ông cũng nói: "Chúng ta đều sợ chết, nhưng lại không biết gì về cái chết. Vậy làm sao hiểu được về cuộc sống?".
 Tình cảm kính trọng của tôi đối với pháp sư càng tăng dần theo ngày tháng. Trong mắt tôi, con người từ bi này vừa tượng trưng cho trí tuệ, vừa giống như một ông già vô tư bảo vệ cho lớp trẻ. Có ông ở bên mình, mọi phiền nhiễu như được giải quyết hết. Những nỗi hoảng hốt, bất an, bi thương cũng tự tan biến. Ông như một nơi tránh nạn hùng vĩ. Trong cái xã hội mê loạn bởi tình dục và quyến lực này, ông là một ông già vĩ đại có sức mạnh phi thường mà người trần mắt thịt không thể nhìn thấy được.
 Vào buổi chiều tôi mua vé tàu quay trở về Thượng Hải, tôi lại tới thăm trai phòng của pháp sư Tính Không.
 Từ xa đã nhìn thấy Tuệ Quang vén tay áo đang lau cửa sổ bên ngoài trai phòng. Dưới chân là một thùng gỗ đầy nước.
 Tôi chào chú. Chú quay đầu lại. Gương mặt tròn ửng đỏ do làm việc. Chú ta mỉm cười với tôi, "Pháp sư đang đợi cô đấy", chú nói rồi lại quay đầu lại, tiếp tục lau cửa sổ.
 Pháp sư đang ngồi xếp bằng tròn trên giường, mặc một bộ áo cà sa màu xám rộng thùng thình. Chữ "Tử" treo trên tường sau lưng ông vẫn khiến người ta phải giật mình. Nhìn về chữ đúng vào tầm đỉnh đầu của pháp sư, giống như một thứ thần bí có thể rơi xuống bất kỳ lúc nào. Nom pháp sư có vẻ hơi mệt. Hầu như không thấy nổi tấm thân gày gò dưới lớp cà sa rộng.
 Tôi chắp tay làm lễ với ông.
 "Con sắp đi phải không?", ông hỏi và chỉ cho tôi chỗ ngồi xuống chiếc ghế cũ kĩ.
 "Vâng ạ, sẽ đi tàu vào ngày mai", tôi đáp, giọng hơi khàn khàn. "Con cũng không rõ nữa. Chỉ thấy cũng không muốn về lắm, nhưng..."
 "Con có thể lại đến bất kỳ lúc nào", pháp sư cười. "Khi ta ở tuổi con, chạy nhảy suốt ngày, không bao giờ ở yên được một nơi".
 Nụ cười của pháp sư có tác dụng chữa trị. Trong chớp mắt, tôi không thấy đau đớn gì nữa. Bất giác, tôi cũng cười. "Có hợp ắt có tan. Tan rồi vẫn còn cơ hội hợp", pháp sư nói.
 "Con sẽ quay về thăm pháp sư và mọi người. Lần sau nhất định con sẽ mang bánh kem tới. Thượng Hải có một tiệm cơm chay rất ngon có tên Công Đức Lâm. Họ cũng làm bánh kem bơ cho các hòa thượng".
 Pháp sư gật đầu, mỉm cười nhìn tôi một lượt, "Nom con mạnh khỏe hơn lúc vừa tới đây".
 "Ở đây, con ngủ được ngon giấc, không mộng mị. Vả lại, nếu có mơ thì cũng không phải là ác mộng", tôi nói.
 "Thử kể một vài giấc mộng của con xem nào".
 "Dạ, có một số giấc mộng thường lặp đi lặp lại. Chẳng hanh như con trôi trên biển, cố tìm một hòn đảo nhỏ. Con đoán đó là núi Phổ Đà nhưng mãi không tìm ra. Đôi khi ảo ảnh lại xuất hiện. Rồi trên trời như có một giọng nói văng vẳng xuống như nói với con điều gì đó, nhưng con không bao giờ nghe rõ được. Còn nữa, có lần con mơ biến thành một đứa trẻ ra sức trèo qua cái bậc cửa. Rồi hai lần con mơ thấy cảnh New York, mơ thấy bạn con", tôi ngừng lại, "Nhưng cũng không có cảm giác khiếp sợ".
 Pháp sư không nói năng gì, gương mặt mơ màng như ngậm cười. Lúc đó, Tuệ Quang bước vào, bưng lại hai tách trà xanh, rồi rón rén khép cửa lại.
 Sau khi làm động tác "mời dùng trà" với tôi, pháp sư liền bê tách trà tới đặt cạnh giường, khẽ thổi lá trà trên mặt nước, uống một ngụm. Tôi cũng bắt chước ông, uống một ngụm. Trà rất ngon, do các hòa thượng trong chùa tự hái và sao tẩm.
 "Con học tiếng Anh mất bao lâu?", đột nhiên pháp sư đổi đề tài.
 "Cộng tất cả trước, sau cũng phải năm sáu năm. Tới giờ, con vẫn đang học ạ".
 "Như vậy cần phải kiên nhẫn", pháp sư nói, "Tu tâm dưỡng tính càng đòi hỏi kiên nhẫn... Có lẽ cũng phải mất cả đời". Tôi chăm chú ngắm gương mặt từ bi của pháp sư. Một tình cảm vô cùng sâu sắc và rất đỗi thân thương dù khó có thể miêu tả được thành lời từ từ dâng lên.
 "Ta có cái này cho con", pháp sư chỉ xuống gầm giường. Tôi vội bước lại, kéo từ dưới gầm giường ra một hộp gỗ. Mở ra, bên trong toàn là kinh Phật. Pháp sư nhấc một cuốn mỏng có ghi "Đại bi chú", đưa cho tôi, "Rảnh rỗi đọc lấy một ít. Có tác dụng ổn định tâm trí".
 Tôi vội vã chắp tay, xúc động vô cùng, nhưng không biết cảm tạ ra sao, nhất thời cứ đờ đãn như súc gỗ. "Cuốn kinh này do một hòa thượng tình cơ giữa đường tặng lại khi ta còn trẻ đang du ngoạn bốn bể. Giờ đây tặng lại cho con. Hy vọng nó sẽ giúp ích cho con được ít nhiều". Lúc nãy tôi không chỉ thấy cảm động, mà còn kinh ngạc. Món quà này thực đáng giá.
 Lúc tôi đứng dậy giã từ, pháp sư dùng sức dậm mạnh cây phương trượng, nói như thể đọc kinh: "Mỉm cười, mỉm cười".
 Tôi không cầm được nước mắt khi chia tay, cố gắng mỉm cười. "Con ơi, bí mật của cuộc sống chính là trong nụ cười. Con còn trẻ như vậy mà lúc nào mặt mũi cũng rầu rĩ. Cần phải cười, có lúc cũng cần phải có một trái tim hài hước". Pháp sư nói, vẫy tay với tôi. Tôi cúi khom người chào.
 Tuệ Quang tiễn tôi ra khỏi trai phòng của pháp sư và tiễn mãi tận ra ngoài chùa.
 Đứng con đường mòn nhỏ phủ đầy rêu ngoài cửa chùa, tôi nói với chú tiểu: "Tôi sẽ nhớ chú lắm". Tuệ Quang cúi đầu, đá một viên sỏi ra xa. Tôi lại ngửi thấy mùi mới mẻ và hơi cay đắng trên người chú, như thể mùi của cỏ ngải bị thiêu trụi. Đó là mùi chỉ có trên người các tăng lữ niên thiếu khổ hạnh. Mãi sau, chú mới mở miệng: "Cô nhớ giữ gìn sức khỏe".
 Tôi mỉm cười vui sướng, "Chăm sóc pháp sư Tính Không cẩn thận nhé. Khi ngồi thiền, đừng có ngủ gật đấy". Chú tiểu bật cười, "Sáng nay lúc ngồi học, suýt nữa tôi ngủ thiếp đi".
 "Tại sao?", tôi cười, hỏi lại.
 "Vì đêm qua hơn ba giờ sáng vẫn không ngủ được, tôi trốn ra khỏi trai phòng, đi ra trạm điện thoại công cộng trước cổng chùa gọi điên cho mẹ". Chú cắn chặt môi, mặt bừng sáng, "Mẹ tôi còn tưởng đang nằm mơ cơ đấy". Chú mỉm cười, chìm đắm trong niềm hạnh phúc mà mẹ mang tới.
 Lúc đó cây phong gần chỗ chúng tôi đứng bị gió thổi ào, trút xuống một đám lá đỏ ối. Những chiếc lá lượn vòng trong không trung đỏ như thế, bắt mắt như thế, thật đẹp khác thường.
 
 Tôi giơ tay vẫy chú, quay người đi xuyên qua chiếc cổng vòm của chùa Pháp Vũ. Ngồi một lúc trên bờ biển, tôi mới quay về nhà nghỉ ăn tối.
 
 Sáng hôm sau, tôi trở dậy, đánh răng rửa mặt, ăn sáng rồi gửi hành lý ở quầy tiếp tân. Tôi quay lại chùa Pháp Vũ thắp hương bái phật trước các chư vị phật thánh.
 
 Đúng lúc du khách tới thăm chùa rất đông. Họ bước qua bước lại bậc cửa chùa, nhìn từ xa như một đàn cá di cư từ xa tới.


Vệ Tuệ

(còn tiếp)

______________________________________________________




M
ời đọc Quảng cáo




blank


blank