DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,399,408

Luân Hoán với Giai Nhân - tuyền linh Nguyễn Văn Thơ

Wednesday, September 18, 201312:00 AM(View: 11852)
Luân Hoán với Giai Nhân - tuyền linh Nguyễn Văn Thơ

Luân Hoán vi Giai Nhân


 luan_hoan-content

Nguyễn Thu Hà ghép ảnh

 

 

1. Phần Đời

 

 Luân Hoán tên thật là Lê Ngọc Châu, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1941 (năm Canh Thìn) tại phố cổ Hội An. Cha anh là ông Lê Hoán và mẹ là bà Nguyễn Thị Luân. Bút hiệu Luân Hoán được ghép từ tên cha và tên mẹ của anh. Ngoài ra, anh còn các bút hiệu khác như: Châu Hải Châu - Cự Hải -Trần Gia Nam - Lý Phước Ninh - Lê Bảo Hoàng. Quê nội Luân Hoán ở làng Liêm Lạc, Hòa Đa, Hòa Vang Quảng Nam, quê ngoại tại Vĩnh Điện, Điện Bàn Quảng Nam. Trong nhiều năm chiến tranh (1945) gia đình anh di tản về sống ở vùng Tiên Phước Quảng Nam. Vào năm 1951, gia đình anh lại di chuyển về sống tại huyện Hòa Vang, và sau cùng về định cư tại Thành phố Đà Nẵng. Đến ngày 02 tháng 02 năm 1985, anh được người em trai bảo lãnh để qua sống tại Montreal Canada. Anh là cựu học sinh Trường Trung Học Phan Chu Trinh Đà Nẵng.

 

 Tính tình Luân Hoán rất trầm lặng, ít nói, phong cách xề xòa, lè phè, rất rõ nét là một nhà thơ từ khi còn ngồi ghế nhà trường. Luân Hoán sống nội tâm nên ít thích nhóm họp, tiệc tùng nơi đám đông. Anh đam mê nhất là Thơ, ngoài ra Luân Hoán cũng thích hội họa, âm nhạc, nhiếp ảnh, nhưng Thi Ca vẫn là con đường chính anh chọn và theo đuổi cho đến bây giờ. Luân Hoán biết làm thơ từ nhỏ,

từ lúc lên mười, nhưng là những bài thơ rất ngô nghê của tuổi thiếu niên, như bài Hàm Tiếu v..v…

 

 Luân Hoán bắt đầu viết chính thức từ năm 1960, thường có bài trên các báo: Gió Mới, Tuổi Xanh, Thời Nay, Bách Khoa, Văn Học, Mai, Ngàn Khơi, Kỷ Nguyên Mới, Văn, Trình Bày (trước 1975 ). Anh cũng có chân trong Ban Biên Tập các Tạp chí Văn học Sài Gòn (1964 – 1975)

Từ khi chuyển về sống ở Canada, thơ anh cũng góp mặt trên nhiều báo tại hải ngoại.

  Tác phẩm đã xuất bản:

 

Về Trời (Văn Học-Sai Gòn, 1964) Trôi Sông (Văn Học-Sai Gòn 1966) Chết Trong Lòng Người (Ngưỡng Cửa, 1967) Viên Đạn Cho Người Yêu Dấu (Thơ, 1969- tái bản 1995) Hòa Bình Ơi Hãy Đến (Thơ, 1970, cùng Phạm Thế Mỹ và Lê Vĩnh Thọ) Nén Hương Cho Bàn Chân Trái (Thơ, 1970, với các bạn văn) Thơ Tình (in cùng Khắc Minh, nxb Thơ, 1970) Ca Dao Tình Yêu ( nxb Thơ, 1970, cùng Khắc Minh) Lục Bát Ca (cùng Lê Vĩnh Thọ và Vĩnh Điện, nxb Thơ, 1970) Rượu Hồng Đã Rót ( nxb Thơ, 1974, tái bản 1995).

 Từ khi qua định cư tại Canada, Luân Hoán cũng đã xuất bản khá nhiều sách, như: Ngơ Ngác Cõi Người, Đưa Nhau Về Đâu, Cám Ơn Đất Đá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài, Mời Em Lên Ngựa, Nuôi Thơm Chùm Kỷ Niệm Xanh, Cỏ Hoa Gối Đầu, Sông Núi Cùng Người Thơm Ngát Thơ, Tác Gỉa Việt Nam (Tự Điển dưới tên Lê Bảo Hoàng) Ổ Tình Lận Lưng, Em Từ Lục Bát Bước Ra, Theo Gót Thơ, Thanh Thi…..

 

2. Thơ và Giai Nhân

 

 Nói đến thơ của Luân Hoán thì bao la lắm, nói cả ngày cũng không hết, bao la như tình của anh đối với Giai Nhân vậy. Thơ Luân Hoán mang hơi thở rất riêng, không giống nhà thơ nào cả. Chính cái riêng đó làm cho tôi và các bạn cùng trang lứa, cùng Lớp cùng Trường mê mệt và luôn nhớ đến anh, như luôn nhớ đến thời hoa niên của mình – anh đúng nghĩa là một nhà thơ lớn của tuổi học trò. Anh làm thơ như đùa giỡn với thơ, trêu ghẹo ngôn ngữ. Những ngôn từ anh dùng trong thơ thật bình dị, chơn chất, y như đi đứng, ăn uống và tắm rửa hàng ngày. Thơ anh không trau chuốt, gọt giũa nhưng lại đầy sức sống, truyền cho người xem nhiều rung cảm . Chất ngọt ngào trong thơ Luân Hoán không phải vị ngọt của thứ đường đã được tinh luyện, mà là vị ngọt của cây mía lau mía đường nơi ruộng đồng thôn dã. Sự bình dị chân phương mà Luân Hoán có được trong thơ là cả một nghệ thuật, không phải ai cũng có thể viết được như thế. Nhờ tính chất chân phương này nên thơ Luân Hoán mang rất nhiều nhạc tính (musicalite). Tôi đã phổ nhạc thơ Luân Hoán rất nhiều, nhưng tiếc là điều kiện tài chánh chưa cho phép nên mới chỉ thu âm được ba bài (Em và Thơ, Hỏi Thật và Bệnh Rình Hương Sắc). Hy vọng một ngày gần đây, tôi sẽ trình làng tiếp những nhạc phẩm tôi đã phổ từ thơ Luân Hoán.

 Với Luân Hoán, thơ chính là hơi thở, luôn hít vào thở ra từng giây…từng phút…từng giờ…và cứ thế nối đuôi nhau không bao giờ dứt được. Bởi thế, thơ luôn theo anh cả lúc ăn, lúc thức giấc, lúc đi đường, lúc đứng đợi xe, lúc làm việc, và ngay cả lúc đang dạy học:

 

 tôi đứng lặng vài giây trên bục giảng

 giáo án thuộc lòng bỗng chốc lãng quên

 nét phấn lạc dòng chữ run mặt bảng

 trở lại bàn hồn nghe đã lênh đênh

 

 thôi tôi hiểu ra rồi em bé bỏng

 chẳng có gì mới lạ phải không em

 trái tim đựng bao nhiêu điều bí mật

 cũng chỉ là tôi đã chớm yêu em

 (Điều Bí Ân Bình Thường)

 

 Như tôi đã nói ở trên, thơ luôn theo anh, và anh luôn theo thơ, cũng như anh luôn theo gái vậy. Nếu suy nghĩ của tôi không quá chủ quan thì trên đời này không có giai nhân, Luân Hoán chẳng bao giờ có được thơ hay (?) Anh yêu mỹ nhân như yêu chính bản thân mình, có nhiều khi còn hơn thế, phải không Luân Hoán ? Vậy thì Luân Hoán biết đến mỹ nhân từ lúc naò ? Chúng ta cùng nghe anh thổ lộ:

 

 Khi gặp em độ chừng lên 8

 Tôi chớm 10 rất đỗi ngô nghê

 Em quá đẹp bởi vì em lai Pháp

 Tôi lên rừng rồi trở xuống nhà quê

 …………………………………..

 Tôi mỏi đớ nắm chân em lưỡng lự

 Tay vụng về tinh nghịch úp lung tung

 Em ú ớ nói gì như đang mớ

 Tôi khi không nghe nhịp máu lạ lùng

 

 Từ phút đó nằm thức hoài đến sáng

 Tưởng tượng ra nhiều chuyện chẳng đầu đuôi

 Da em ấm tôi hít hà ngột thở

 Nghe nhiều nơi rất khác lạ trên người

 (Hàm Tiếu)

 

 Đọc xong những câu thơ trên của Luân Hoán, tôi biết nhiều đọc giả sẽ thắc mắc và muốn đánh đòn Luân Hoán. Tại sao biết yêu sớm vậy ? Xin thưa, đây không phải là một tình yêu đúng nghĩa giữa đôi trai gái. Đây là một hiện tượng tâm sinh lý ở tuổi vị thành niên. Luân Hoán cũng như bao thiếu niên khác, do trong thời kỳ phát triển cơ thể mất cân bằng nên đã dẫn đến những thay đổi tâm sinh lý, làm xuất hiện cảm giác, cảm xúc mới lạ đối với người khác phái. Vì Luân Hoán có tài biết làm thơ quá sớm nên Luân Hoán bộc bạch ra được, thế thôi, còn những em thiếu niên khác thì luôn giữ kín trong lòng. Dẫu sao, cũng cám ơn Luân Hoán, anh đã cho mọi người thưởng thức những câu thơ rất ngô nghê, rất thật và không kém phần dễ thương ( da em ấm tôi hít hà ngột thở- tay vụng về tinh nghịch úp lung tung ). Rất dễ thương !

 Thơ của Luân Hoán luôn cuốn hút người đọc, thi phong thật đằm thắm, nhẹ nhàng, và rất diễm tình:

 

 mười sáu tuổi em tập làm thiếu nữ

 vai tóc thề áo lụa trắng bay bay

 quai nón đỏ ngậm hờ vành môi ướt

 vuông khăn thêu kín đáo xếp trong tay

 

 em đến lớp nắng theo đùa trên áo

 cặp che ngang ngực thơm ngát ngọc lan

 tay giở vở tưởng chừng như đệm nhạc

 hồn thanh xuân em lót xuống từng trang

 ( Điều Bí Ân Bình Thường )

 

 Thơ anh không thể nói là không hay được, Luân Hoán dùng những từ ngữ rất mộc mạc, dung dị, nhưng cách dùng từ ngữ của anh rất uyển chuyển khiến thơ Luân Hoán luôn uốn lượn, bay bổng. Tiếng thơ anh chính là những cung bậc bổng trầm trong âm nhạc :

 

 Em từ bụi chuối bước ra

 Ánh trăng làm nũng chao qua ống quần

 Niềm vui giấu dưới bàn chân

 Vỡ theo sợi gió lâng lâng ngậm ngùi

 (Trăng Đêm Nở Hoa)

 

 Mỗi lần sắp sửa yêu ai

 Tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng

 Hình như có triệu vi trùng

 Ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình

 (Triệu Chứng)

 

luan_hoan_2-content

Luân Hoán

ảnh ghép từ Nguyễn Thu Hà (Việt Nam)

 

 Hình như Luân Hoán thật sự đi vào con đường tình ái năm mười sáu tuổi, cái tuổi đầy mộng mơ, thêu hoa dệt gấm. Tuy nhiên, tình yêu thời bấy giờ của chúng tôi không thực tiễn như thời a còng (@) này, hễ yêu nhau là tự nhiên, tự do đủ mọi mặt, thậm chí có thể sống thử với nhau. Ở thế hệ chúng tôi, giữa đôi trai gái yêu nhau, chỉ biết nhìn mặt nhau, trao gởi những tình thư rất kín đáo, người nào bạo dạn lắm thì cũng chỉ biết nắm tay nhau là cùng. Tất cả nỗi lòng của mình đều được giấu kín, chẳng ai biết, ai hay. Cũng vì thế đã có những mối tình đơn phương rất tội nghiệp, chẳng hạn như tôi đây. Tôi thầm yêu trộm nhớ một cô nữ sinh học dưới tôi hai lớp, tôi học Đệ Ngũ, cô ta học Đệ Thất, chúng tôi cùng học tại Trường Trung Học Phan Chu Trinh Đà Nẵng. Tôi và cô ta cùng cư trú trong Làng Nại Hiên, cùng chung đường về nhà sau khi tan trường, nhưng suốt mấy năm trời tôi không dám hé một lời. Tôi cũng không hiểu tại sao lại như vậy. Để cuối cùng, buồn tình, tôi viết một bài thơ gởi đăng trên báo Bán Nguyệt San Phong Lan và bỏ đi biệt xứ. Tôi còn nhớ, năm đó là cuối năm Đệ Nhị. Mối tình đầu đời của tôi gói gọn trong bài thơ sau:

  

 Áo tím em mang tự thuở nào?

 Kinh kỳ ngập nắng rộn xôn xao

 Áo em lã lướt trong gió thoảng

 Hứng lại giùm ta chút máu trào

 

 Ta đến nơi đây nén dặm đường

 Mập mờ áo tím lướt trong sương

 Mắt em xanh quá là xanh quá!

 Ta biết rồi ta sẽ đoạn trường

 

 Dáng liễu đong đưa tắm ánh hồng

 Mây buông lõa xõa cợt thu phong

 Trân Châu chừng tưởng là sương nhạt

 Em nỡ không mang chiếc áo hồng?

 

 Lê gót tìm hoa thỏa ước mong

 Những tưởng em mang chiếc áo hồng

 Ngờ đâu em đắp lên màu tím

 Tím cả lòng ta mấy độ trông

 

 Mây xám chiều nay đổ xuống rồi

 Rớm sầu nguyệt lệ ánh sao rơi

 Đường về lối nhỏ hoa tim tím

 Cánh bướm bay qua tủi phận đời

  (Aó Tím – Tuyền Linh)

 

 Luân Hoán thì khác tôi, anh ấy bản lĩnh hơn tôi trong việc giao tiếp với phái nữ, chỉ hơn tôi thôi vì tôi quá nhát gái, chứ thật ra theo nhận xét của bạn bè thì Luân Hoán bạo thơ hơn bạo gái. Mối tình đầu đời của Luân Hoán chớm nở vào năm mười sáu tuổi, cũng mặn nồng trong cốt cách khù khờ của tuổi mới lớn :

 

 Thuở mới yêu em độ chừng mười bảy

 Sắc hương thơm đằm thắm nở nụ hoa

 Ta lụt lịt chỉ thua em một tuổi

 Sao khù khờ nhút nhát – nghĩ không ra

 ………………………………………..

 Môi với lưỡi chưa một lần dám chạm

 Nước bọt nhau mặn nhạt ngọt ra sao

 Vào xi nê chỉ dính chùm mái tóc

 Và mười ngón tay siết thật khít khao

 (Nụ Trăng Đầu Đời)

 

 Hình như đường tình của bất cứ ai trong thế gian này cũng đều như nhau, mối tình đầu chẳng bao giờ bền vững cả, như một quy luật. Luân Hoán cũng không ngoại lệ. Anh đã chia tay mối tình đầu một cách bất ngờ, không rõ nguyên do, để lại trong ký ức bao nỗi nhớ ngu ngơ…dễ thương…khó tả :

 

 Yêu chẳng biết làm gì hơn ngoài nhớ

 Nhớ lạ kỳ, nhớ tưởng phát cuồng điên

 Mới chia tay vừa đến nhà đã viết

 Trao gởi cho nhau liên tiếp nỗi niềm

 

 Chữ chẳng nói thay lòng hay đều vụng

 Để bất ngờ chia biệt chẳng nguyên do

 Vết thương tình của nhau không hiện rõ

 Vì hình như hai đứa giỏi giả đò

 

 Giờ em đã là chim lồng quí phái

 Ngậm nụ trăng đầu hay nhả từ lâu ?

 Ta nhờ nuốt đã như là thi sĩ

 Nụ tình xưa thành nụ thơ nhạt màu

 (Nụ Trăng Đầu Đời)

 

 Thơ của Luân Hoán luôn gợi lên một hình ảnh rất đẹp của tuổi học trò, rất học trò. Những cử chỉ vụng dại nhưng ngọt ngào, ngây ngô nhưng sâu lắng. Anh dùng ngôn ngữ rất đẹp, rất trẻ con, rất đời thường nên người đọc dễ nhập tâm, thấm đẫm. Luân Hoán sắp xếp những từ ngữ bình dân này vào thơ một cách rất khoa học, làm cho thơ anh sinh động hẳn lên, khiến người đọc tưởng như đang thực sự sống với cảnh thơ, quên bẵng đi thế giới bên ngoài rẫy đầy gai góc :

 

 mang vào lớp bài thơ anh mới tặng

 khoe bạn bè cho chúng lác mắt chơi

 í mà chết, anh viết gì trong đó ?

 chuyện chúng mình? Em hổng chịu đâu

 anh phải viết chuyện con mèo con chó

 chuyện con chim con cá gì thôi

 hay cùng lắm chuyện trời mưa trời nắng

 chuyện chúng mình, kỳ lắm, thôi thôi…

 (Nhõng Nhẽo – Đưa Nhau Về Đâu)

 

 Rất hồn nhiên, trong sáng, chơn chất:

 

 mà thôi, chắc không được

 ba mẹ chẳng chịu đâu

 anh người dưng nước lã

 đâu phải…xì, còn lâu

 (Tết Mười Sáu)

 

 Rất thật thà, ngây ngô, dễ thương :

 

 em có nhớ trong sân trường bữa ấy

 cô giáo đau, ta được nghỉ giờ đầu

 rất tình cờ hai đứa chợt gặp nhau

 em mở cặp vội vàng trao quyển sách

 sợ bạn thấy ta kẹp vào dưới nách

 đi một hơi không kịp cám ơn em

 trốn vào cầu hối hả giở ra xem

 mảnh giấy nhỏ nét mực nghiêng nghiêng tím

 (Trong Sân Trường Bữa Ấy) 

 

 Thơ Luân Hoán không mang tính ẩn dụ cao, thỉnh thoảng ta mới bắt gặp, nhưng những tình huống ẩn dụ trong thơ anh rất tinh tế. Thơ anh luôn phơi bày ra tất cả những ngõ ngách của tâm hồn mình, nhờ vậy thơ Luân Hoán dễ đi sâu vào lòng người đọc :

 

 tôi đã viết những gì trong lưu bút

 một đôi dòng tạm biệt vu vơ

 chiếc ảnh nhỏ tôi dán vào bên góc

 ghi khiêm nhường ba chữ đơn sơ

 khi chụp ảnh nào đâu tôi có khóc

 sao mắt buồn chan chứa bao la

 suốt niên khóa cùng chung trường chung lớp

 chung thầy cô, chung chúng bạn thân quen

 sao hình như vẫn vô cùng xa cách

 trai gái đôi đường cách trở chia ngăn

 ……………………………………………

 em có nhớ những lần đi du ngoạn

 em vui đùa nhí nhảnh như con chim

 không hiểu sao bỗng nhiên tôi buồn bã

 tiếng em cười nghe đau nhói trong tim

 sau ba tháng biết em còn đến lớp?

 mùa hè này ai đi hỏi em không?

 tập lưu bút của em tôi mở đó

 viết làm sao cho hết những chuyện lòng

 (Lưu Bút – Đưa Nhau Về Đâu)

 

 

 Có nhiều người cho rằng Thơ chỉ là Thơ, Thơ không là đời sống thực. Tôi thì không cho như vậy. Tôi không quá mẫn cảm với thơ Luân Hoán, nhưng tôi tâm đắc dòng thơ anh vì thơ anh kết hợp được thế giới hiện thực với thế giới tưởng tượng, cái hay trong thơ Luân Hoán là ở chỗ này. Vì rằng,thế giới hiện thực có giới hạn, trong khi thế giới tưởng tượng là vô hạn. Như các triết gia Tây phương đã nhận định, tưởng tượng làm sống lại những kỷ niệm và tôn giá trị niềm vui sướng mà những kỷ niệm ấy gợi lên. Tưởng tượng sáng tạo như Luân Hoán được đánh giá là rất tích cực, mang đến cho con người phương tiện để thoát khỏi những buồn rầu trong cuộc sống; làm cho con người hạnh phúc hơn trong thực tế, làm phong phú cảm xúc con người.

Nghệ sĩ không thể không tưởng tượng trong khi sáng tác, bởi tưởng tượng là tự do vượt lên trên hiện tại, thực tại để trở về đó một cách sâu sắc hơn. Như Sigmund Freud đã nói: “ nghệ thuật cũng chính là một giấc mơ (giấc mơ ban ngày) Nghệ thuật là một cách để con người ghi lại những giấc mơ. Giấc mơ nghệ thuật giúp con người được sống nhiều cuộc đời, trải nghiệm nhiều tình huống, thỏa mãn những khát vọng không phải lúc nào cũng thực hiện được “

 

 Vâng, đúng thế. Vậy chúng ta hãy cùng xem thế giới tưởng tượng của Luân Hoán khi ra Huế đi thi Tú Tài gặp các cô sinh viên ra sao:

 

 chào em lộng lẫy Luật Khoa

 cho tôi thay cái cặp da tầm thường

 kẻo không phí mất mùi hương

 em đang bỏ lại trên đường em đi

 xin thề tôi chẳng nói chi

 nằm ngoan trong ngón xuân thì trổ thơ

 (Ngàn năm người đẹp Hương Giang

 Vẫn còn đi đứng đàng hoàng trong tôi)

 ………………………………………… 

 

 

  chào em đài cát Văn Khoa 

 cho tôi thế cái yên da em ngồi

 đường dài nhớ đạp thảnh thơi

 cho tôi uống trọn hương đời thơm tho

 xin thề không dám làm thơ

 chỉ thiêm thiếp mộng bên bờ tồn sinh

 (Ngàn năm người đẹp Hương Giang

 Vẫn còn đi đứng đàng hoàng trong tôi)

 

 

 Dù thế giới tưởng tượng là vô hạn, nhưng không kết hợp được với thế giới hiện thực thì cũng chẳng có thơ hay. Chúng ta hãy nghe Luân Hoán ra Huế thi Tú Tài, ngồi đúng vào cái bàn có khắc tên các nữ sinh Đồng Khánh Huế. Anh nói gì đây :

 

 ngồi thi nhìn cái mặt bàn

 Thu, Sương, Bích, Thảo nhẹ nhàng hóa thơ

 …………………………………………….

 

 không biết chỗ này ngày mấy buổi

 ai ngồi duỗi thẳng búp chân thơm

 cánh tay chắc hẳn tròn ghê lắm

 tựa nhẳn mặt bàn ửng nước thơm

 …………………………………..

 

 này ả thơ cưng trường Đồng Khánh

 tay ta cầm bút trả bài thi

 hồn ta lơ lửng trong hương Huế

 đạt cả hai tay chẳng có chi

 ……………………………………...

 

 Vâng, ”chẳng có chi“, và cậu học trò Lê Ngọc Châu, Trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng đã chẳng có chi, thi hỏng Tú Tài kỳ 1.

 

 Có thể nói rằng, Luân Hoán kết hợp thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng một cách rất nhuần nhuyễn, bởi trí tưởng tưởng cũng nằm trong vùng tâm thức cá nhân anh. Nói như John Lennon: “ Hiện thực để lại nhiều điều cho trí tưởng tượng”, Vâng, đúng thế. Ở bất cứ hình ảnh nào trong thơ Luân Hoán, cái nhìn của anh luôn xuyên suốt, vượt qua tất cả sự vật bằng trí tưởng tượng của mình, nhờ thế hình ảnh trong thơ anh luôn mỹ miều dễ cảm :

 

 ta đứng tựa trong hành lang lớp học

 trên lầu cao nhìn xuống mộng bâng khuâng

 lòng cúi theo từng ngọn tóc phân vân

 hôn rất nhẹ trên tóc thề đen nhánh

 môi em đỏ sao hình như quá lạnh

 răng trắng thơm níu giữ lấy hồn ta

 lưỡi rót thương tình rót mật đậm đà

 ta nương náu bên em bằng mộng tưởng

 bởi quá yêu nên ta giàu tưởng tượng)

 (Trong Sân Trường Bữa Ấy)

 

 Tưởng tượng như thế này thì thú vị biết bao!

 

 ngoắc kêu một bác xe lôi

 một mình mà tưởng đang ngồi với em

 quanh co xe chạy đã thèm

 bác phu nhỏ nhẹ: ”thầy quên chỉ đường“

 (Nhật ký chặng đường Đà Nẵng – Sài Gòn)

 

 Hoặc dặn dò vu vơ :

 

 nhớ đừng gục xuống mặt bàn

 gỗ hôn trộm má môi hoàng hậu ra

 (Nhật Ký)

 

 Nhờ trí tưởng tượng phong phú nên không gian thơ Luân Hoán rất rộng: ở trường học, ở ngoài phố, ở chợ, ở hồ bơi, ở bãi biển, ở sông ngòi, ở vùng quê, ở miếu đình, và nhất là ở trước cổng nhà của các mỹ nhân; chỗ nào có giai nhân là chỗ đó có thơ anh. Tất cả hình như đều đến rất bất chợt, không hẹn trước. Chính sự bất chợt này đã phát triển năng khiếu bẩm sinh của anh một cách mạnh mẽ, nhanh chóng và đưa thơ anh lên ngôi. Trong thơ Luân Hoán, thỉnh thoảng ta thấy anh muốn hóa thân ra nhiều ảnh hình như: mây, gió, hạt bụi, ánh nắng mặt trời, cái yên da xe đạp, cái cặp da nữ sinh, con tàu bập bềnh trên sóng biển…Nói chung, tất cả những gì có thể tiếp cận được với mỹ nhân là anh hóa thân ra thứ ấy, để ve vãn, để trêu cợt hay nói một cách thực tế hơn là để được thưởng thức mùi hương của người đẹp (?):

 

 gáy ngà đỡ mái tóc cao

 rõ ràng có hạt bụi thao thức nằm

 

 mây cao chốc chốc muốn sa

 nắng soi từng góc thân hoa thiên thần

 câu thơ biết phận cù lần

 rút lui vào trái tim trần nằm mơ

 (Thả Thơ Trên Biển)

 

 chào em đài cát Văn Khoa

 cho tôi thế cái yên da em ngồi

 

 chào em lộng lẫy Luật Khoa

 cho tôi thay cái cặp da tầm thường

 (Ngàn năm người đẹp Hương Giang

 Vẫn còn đi đứng đàng hoàng trong tôi)

 

 Luân Hoán hóa thân trong thơ thật đẹp, thật dễ thương, thật diễm tình :

 

 em nằm đắp nắng bãi chiều

 cồn hoa che ngọn thủy triều trắng phau

 tôi ngồi vốc cát xây lầu

 hóa thân thả triệu con tàu viễn mơ

 ngực em đè phải câu thơ

 còn nằm trong trái tim khờ dại tôi

 

 

 Một đôi lúc, trí tượng của anh vượt quá vùng hiện thực, anh vẫn cho ra đời những câu thơ rất ngộ nghĩnh :

 

 nằm nghiêng

 thừa cánh tay ôm

 nằm ngửa

 thiếu cánh tay thơm lạnh đùi

 nằm sấp

 bức rức cả người

 ngồi lên

 chạm mỹ nhân ngồi chung quanh

 (Nhớ)

 

 

 Như tôi đã nói ở trên, thơ Luân Hoán ít mang tính ẩn dụ, nhưng một đôi khi những bài thơ của anh mang tính ẩn dụ thì lại đầy sức sống:

 

 em ngồi trải cánh chân phơi

 nắng thơm nghiêng một góc trời săm se

 tôi ngồi đờ đẫn tay che

 com-chim-thơ-đội-mộng xòe cánh bay

 

 gió rình trong nách lá cây

 hồ đồ rơi trúng mình dây em mềm

 hoảng hồn, gió vãi hương lên

 thanh xuân cỏ biếc hai bên tôi nằm

 mon men tôi ướm tay thăm

 vô tình vướng phải cái dằm nhớ nhung

 (Trên Đồi Cỏ)

 

 Theo nhận định của tôi, thơ Luân Hoán và Giai Nhân luôn hòa quyện với nhau, có Giai Nhân là có thơ Luân Hoán và có thơ Luân Hoán là có hình bóng Giai Nhân. Hay nói một cách chính xác hơn, Giai Nhân chính là mạch nguồn của dòng thơ Luân Hoán. Trong lòng anh không lúc nào là không có hình bóng giai nhân ngự trị, bởi cõi lòng anh mênh mông quá như chính thơ anh tự nó đã lắm mênh mông. Chúng ta hãy đọc những câu thơ dưới đây sẽ hiểu anh hơn:

 

 chiều chiều luồn chợ Vườn Hoa

 trôi theo Đồng Khánh bám tà áo bay

 mắt hồng liệng cái ngoắt tay

 dắt qua Độc Lập dựa cây đèn đường

 chập chùng xuân ảnh vãi hương

 ngó ai lòng cũng yêu thương tức thì

 giả vờ châm thuốc nhâm nhi

 nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình

 (Đà Nẵng – 1960)

 

 “Nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình“. Vâng, thèm hơn thèm thuốc lá. Nhưng sự thèm khát của anh không phải là sắc dục, mà anh thèm hứng dòng mạch nguồn chảy ra từ tâm hồn mình. Bởi thế, cảm xúc anh lúc nào cũng tuôn trào để hóa thành thơ. Với anh, một ngày không làm được thơ kể như ngày ấy muốn bịnh. Anh tâm sự :

 

 làm thơ là để bình thường

 cái ta cứ thích đứng đường ngó em

 làm thơ là để lênh đênh

 trên giòng rảnh rỗi chợt quên mất mình

 làm thơ là để làm thinh

 im nghe ta tự tỏ tình với ta

 làm thơ là để dần dà

 trở thành ông thánh hóa ra ông khùng

 làm thơ là sống ung dung

 để cho óc khỏi lùng bùng nổi điên

 làm thơ là có đủ quyền

 ba hoa tưởng tượng đã ghiền mới thôi

 với ta, thơ như bầu hơi

 của hai lá phổi lôi thôi thở hoài

 ngày nào thơ chẳng lai rai

 kể như ngày đó coi mòi muốn đau

 (Ta Phỏng Vấn Ta)

 

 Đọc thơ Luân Hoán, ta cảm thấy thời gian như chậm lại, như chính cốt cách lè phè ngoài đời của anh. Với anh, thời gian luôn thong thả xuôi dòng, thong dong tự tại:

 

 trong đầu nhú chút vẩn vơ

 trong bụng vài ngọn chữ lơ mơ nằm

 kể như cái ổ lót xong

 nằm-ngồi-đi-đứng thong dong đẻ đều 

 

 Vâng, anh đẻ ra thơ thật đều, thật nhiều. So với tỷ lệ thời gian, anh là một trong những nhà thơ Việt Nam có số lượng sách xuất bản nhiều nhất. Tôi nghĩ, thơ anh được đa số học sinh, sinh viên yêu thích. Riêng tôi, tôi rất tâm đắc dòng thơ trữ tình của anh nếu không muốn nói là đồng cảm. Thơ Luân Hoán không mang tính ước lệ, thơ anh rất gần với đời thường. Luân Hoán không sáng tạo ngôn ngữ nhưng anh sắp xếp ngôn ngữ rất uyển chuyển, mới lạ:

 

 em từ bụi chuối bước ra

 ánh trăng làm nũng chao qua ống quần

hay:

 

 mỗi lần sắp sửa yêu ai

 tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng

 hình như có triêu vi trùng

 ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình

 

 Chỉ chừng đó con chữ, rất đời thường, nhưng anh đưa vào những ý tưởng thật mới lạ. Theo tôi, thơ anh luôn sống mãi với thời gian, nó như đã được thẩm định thời tính, nó chính là tiếng thời gian, tuy vô hình nhưng hiện hữu. Thơ của Luân Hoán đi từ cái không đến có, từ quên đến nhớ. Vâng, sau bao thăng trầm trong cuộc sống, vật lộn với cơm áo gao tiền, tha phương cầu thực, khi đọc được thơ anh, cả một Đà Nẵng lai hiện rõ trong tôi với bao hoài niệm. Từng con đường góc phố, từng hàng cây, từng những ngã tư, ngã ba hẹn hò, từng thôn xóm làng mạc, và nhất là hình ảnh những bóng hồng tha thướt một thời, tất cả đều đã được phát họa một cách rõ nét trong thơ anh. Tiện đây, tôi cũng xin phép các giai nhân một thời cùa Thành phố Đà Nẵng để ghi lại những dòng thơ trữ tình rất học trò và đầy tinh nghịch của Luân Hoán, một giọng thơ mà theo tôi nghĩ, các bạn ( xin phép được xưng hô như vậy cho thân mật ) khi đọc đến không khỏi phì cười lẫn bùi ngùi cho anh bạn học trò Lê Ngọc Châu. Phì cười vì nhìn được những cử chỉ rập rình như kẻ trộm của anh trước cổng nhà các bạn, và bùi ngùi khi thấy anh ghẹo gái thật nhiều nhưng rốt cuộc lại trắng tay. Nếu bạn nào chưa đọc, xin mời đọc những dòng này :

 

 người tôi yêu, ở Lầu Đèn

 cây cao lá rậm ánh trăng khó vào

 trèo rào, tôi lén dán thơ

 mạch tình dẫn những đường sao đi về

 

 người tôi yêu, ở Thanh Khê

 quanh năm cát đóng quân che hải triều

 buộc thơ, tôi thả thay diều

 sáng khoe khoang gió xẩm chiều về không

 

 người tôi yêu, ở Cầu Vồng

 hương luồn hẻm cỏ những vòng thanh xuân

 nhiều khi gió lạc dấu lưng

 treo thơ tôi ngóng ở từng ngã ba

 

 người tôi yêu, ở Tam Tòa

 con đường, bụi, tóc đuôi gà bay chung

 mắt thơ khuyến khích, nhắc chừng

 mê, xin tự tiện, nhưng…đừng ghé vô

 

 người tôi yêu, ở Thanh Bồ

 tiếng cười đọng góc nhà thờ nuôi mây

 ngày ngày tôi đợi gió bay

 thở ra một ngụm thơ đầy mái hiên

 

 người tôi yêu, ở Nại Hiên

 vông đồng đứng chốt hữu biên canh chừng

 giả đò giày vướng lai quần

 thò tay tôi lượm thơ từng búp xanh

 

 người tôi yêu, ở Thuận Thành

 mấy đường sắt rỉ cỏ xanh mòn dần

 bóng tôi cùng nắng lần quần

 đọng thành vết sẹo trong ngần nhớ nhung

 

 người tôi yêu, ở tứ tung

 Phước Ninh, Thạch Gián, Khuê Trung,Thanh Hà

 Hải Châu, An Hải, Xuân Hòa

 vun vun mấy cõi đất tà ma chôn

 hạt tình bén giữa môi son

 nở tôi, tôi nở những con thơ tình

 

 người tôi yêu, những con tinh

 ngo ngoe sống thật hiển linh muôn đời

 người tôi yêu, ở mọi nơi

 nhưng chưa có được một người yêu tôi

 (Cõi Bén Tình Thơ)

 

 Vào thập niên 60 – 70, không hiểu trời phú thế nào mà Đà Nẵng sản sinh ra nhiều mỹ nhân đến thế ! Như tôi đã nói ở trên, nơi nào có giai nhân là nơi đó có thơ Luân Hoán. Lúc bấy giờ, dòng thơ anh tuôn trào như thác đổ. Tôi thấy trên toàn cõi đất nước Việt Nam chúng ta, chưa có một tỉnh thành nào có nhiều giai nhân được thi nhân ưu ái như Thành Phố Đà Nãng cả. Có lẽ đó cũng là một nét đặc thù trong thơ Luân Hoán chăng ? Dựa theo thơ anh, tôi tính tất cả là 23 Nữ Sắc được anh đưa lên ngôi và bắt anh hầu hạ mệt nghỉ. Tiện đây, tôi cũng xin phép có vài lời với các giai nhân Thành Phố Đà Nẵng một thời. Khi viết bài này, tôi đưa mỹ danh của các bạn lên với ý nghĩ trang trọng, và xin các bạn hãy hãnh diện khi thấy mỹ danh mình được ngồi chểm chệ trên dòng thơ Luân Hoán- một dòng thơ mượt mà, trữ tình, sâu lắng. Như anh đã từng nói :

 

 trời sinh em, trời sinh thơ

 nếu không chẳng biết phải thờ em đâu

 trái tim dù rất là sâu

 chắc gì em được ở lâu đời đời

 (Em và Thơ) (*)

(*) Bài Thơ này đã được phổ nhạc, các bạn muốn nghe hãy vào Google và tìm “ Tình Khúc Nguyễn Văn Thơ “ sẽ gặp.

 

 Vâng, đúng vậy, trái tim tuy sâu thật,nhưng trái tim rồi cũng sẽ chết theo người. Chỉ có thơ là sống đời với thời gian, mà thơ sống đời thì mỹ danh của các bạn cũng sống mãi…Xin được chúc mừng !

 

 Vậy thì bây giờ, xin các bạn khe khẽ, theo gót anh chàng học trò Lê Ngọc Châu để mục kích cái tật rình mò của anh ta như thế nào nhé!

 Tôi cũng xin thưa với các bạn ở đây, tôi chỉ ghi dấu bước đi của Lê Ngọc Châu qua các ngõ nhà của mỹ nhân để các bạn tiện theo dõi, tôi không tiện diễn giải nhân vật và địa danh nơi cư trú của các giai nhân. Nếu bạn nào muốn biết thật rõ từng chi tiết, xin tìm đọc bài của tác giả Nguyễn Đông Giang, với tựa đề:” Sống Đời Với Thơ “.

 

 Bây giờ chúng ta hãy cùng theo bước chân Luân Hoán:

 

 rập rình qua ngõ Minh Xuân

 liếc cho đỡ nhớ dải lưng lụa vàng

 nhìn nghiêng, nắng gác hành lang

 nhìn xéo, nắng giữ hai hàng sứ xanh

 long lanh mắt vượt qua thành

 vén màn hỏi nhỏ bức tranh treo tường…

 âm thầm gởi tặng mùi hương

 lên bàn tay vãi tiếng dương cầm buồn

 lòng tôi phiêu lãng mười phương

 bỗng vể ở trọ trên trường túc hoa

 

 thấp thỏm qua ngõ Như Thoa

 vòng cung Độc Lập nối qua Bạch Đằng

 phóng mắt lên nóc lầu đen

 lên bao lơn rọi thấy trăng Sơn Chà

 trầm hương từ cõi thịt da

 trải xanh ngọn gió ngấm ra sông Hàn

 bàn tay cầm vợt bóng bàn

 lỡ cho ai nắm lấm vàng tình thơ

 tôi ngồi dựa gốc cây mơ

 hóa thân thương nhớ thành tơ bắc cầu

 

 e dè qua ngõ Trân Châu

 cây vông đồng đứng phía sau nhắc chừng

 bởi ai lỡ thắt dây lưng

 lên voi làm sống bà Trưng thuở nào

 cho tình thức cũng chiêm bao

 cho tình ngủ cũng nhả thơ nhớ đời

 hàng rào chẳng phải mồng tơi

 ném thư không tới, vói lời chẳng qua

 thôi đành làm đóa sao sa

 rơi hoài chẳng lọt nóc nhà hoa lan

 

 ngập ngừng qua ngõ Lâm An

 mưa dông hộ tống hai bàn chân thơ

 tưởng như đang đến nhà thờ

 thủ lời xưng tội vẩn vơ trong lòng

 lỡ quên hái bậy nhành bông

 ngửa tay hứng giọt mưa trong ngỡ là

 cô em chưa vướng vòng hoa

 chuỗi kim cương nước khác xa mọi người

 trông qua cổng, thấy em cười

 chúa tha tôi tội yêu người sau lưng

 

 lò dò qua ngõ Bích Quân

 giú bàn tay ở túi quần, đăm chiêu

 loanh quanh trong bóng xẩm chiều

 nghe chân mày thả lời phiêu bồng chào

 ngu ngơ dừng bước cổng vào

 dòm anh khuyển rất bảnh bao cau mày

 co chân buộc lại dây giày

 tam sông, tứ núi…chút này ngán chi

 ngại em…lững thững quay đi

 bâng khuâng ngoái lại chung qui cũng là

 

 mon men qua ngõ Thu Hà

 dẫu lơi chân đạp cổng nhà cũng qua

 nắng chiều đang thở trên hoa

 hình như có bóng thướt tha vói nhìn

 quay đầu xe lại, khó tin

 nụ cười thơm ấy vô tình thật sao ?

 gáy ngà đỡ mái tóc cao

 rõ ràng có hạt bụi thao thức nằm

 váy thơ đang độ thong dong

 chiếc xe đạp bỗng phải lòng quên đi

 

 tà tà qua ngõ Quỳnh Chi

 hai hành lang gió thầm thì quanh năm

 nắng không vào lọt chỗ nằm

 hạt thơ đâu dễ bén mầm bên hoa

 mê người nhớ cái ngã ba

 Đông Kinh Nghĩa Thục rẽ qua Nguyễn Hoàng

 ba nhành nhan sắc đoan trang

 có khi nào thấy anh chàng ngu ngơ

 chỗ nào véo cũng ra thơ

 yêu ai chưa biết vu vơ để dành

 

 phất phơ qua ngõ Thúy Oanh

 một gian cư xá long lanh mắt cười

 ai cho phép một con ruồi

 yêu người hóa điểm son tươi bên cằm

 trang Kiều mở dưới gối nằm

 thơm lừng hương tóc trăng rằm ngủ quên

 cánh tay tròn mướt tơ mềm

 làm sao dám gối chỉ thèm vu vơ

 lỡ mang bệnh nghiện làm thơ

 ngại chi đôi phút bất ngờ tà tâm

 

 bâng khuâng qua ngõ Ái Cầm

 chợ Cây Me ngó, thì thầm trên vai

 chàng này coi cũng bảnh trai

 tiếc rằng thiếu bước chân dài trổ hoa

 phòng hồng đã chật tiếng ca

 một nhà thơ ở phương xa đã vào

 trời thừa bao nhiêu vị sao

 thừa thêm vị nữa chẳng sao đâu tình

 vẩn vơ vào cõi u minh

 Tây cười dưới mộ giật mình làm thinh

 

 lờ khờ qua ngõ Diệu Minh

 trèo tường sân vận động nhìn mây bay

 nhạc luồn theo những ngón tay

 xoay lưng ong những vòng quay vật vờ

 dáng hoa đài cát thanh cao

 bước dần ra khỏi vạt thơ mê tình

 lầm bầm tụng một câu kinh

 một câu kinh trị thất tình vô ngôn

 ngó quanh trời đất vẫn tròn

 ngả lưng đánh giấc thả hồn lưu linh

 

 lừng khừng qua ngõ Phước Ninh

 lolita hiện hiển linh cười cười

 giá bứng được cánh môi tươi

 lấy thơ lấp lại cho đời khỏi ghen

 tình yêu là cái mặt bằng

 xây bao gác gió lầu trăng, vẫn thừa

 hôn nhau từ sáng đến trưa

 từ chiều sang tối vẫn chưa thơm lòng

 đường Phan Than Giản cong cong

 cái chân đứng lại, cái lòng bâng khuâng

 

 buồn buồn qua ngõ mỹ nhân

 Qúy Phẩm, Thạch Trúc, Ý Vân, Bích Hà

 Xuân, Đông, Hồng, Phú, Phước, Nga…

 những môi, những mắt, những da thịt nồng

 những vồng đất biết trổ bông

 thuận, không, tôi cũng đã trồng ra thơ

 dài đời trôi nổi phất phơ

 sờ trong ngực áo vẫn thao thức tình

 gởi người thánh nữ siêu hình

 nụ hôn này để tạ tình thế gian

 

 nguyện đem theo xuống suối vàng

 (Qua Ngõ Mỹ Nhân)

 

 Từ đầu đến giờ, tất cả những hình ảnh giai nhân mà tôi đã đề cập qua bài viết, xem như là tảng băng nổi trong cuộc đời tình ái của Luân Hoán. Vậy phần băng chìm còn lại ra sao ? Trước khi xem phần băng chìm còn lại, tưởng cũng cần tìm hiểu quan điểm về tình yêu của Luân Hoán. Dựa trên đời sống thực tại, tôi thấy Luân Hoán loại bỏ tất cả mặt tiêu cực và anh phát huy mặt tích cực. Quan điểm của anh thật rõ ràng :

 

 đâu có yêu ai để thất tình

 chỉ toàn thinh thích những em xinh

 sóng là của biển vô cùng tận

 chưa tiến thêm lên đã quay mình

 

 cứ thế mà giàu những ước mơ

 nhiều khi còn bạo phổi làm thơ

 em Y, em X, em J nữa

 thật giả thành ra khá mơ hồ

 

 cho dẫu rằng yêu hay là không

 thất tình cao lắm cũng vài năm

 trái tim không hạn bao nhiêu chỗ

 nhưng dễ dầu chi em mãi nằm

 

 thơ thẩn nhiều khi chỉ vẽ trò

 mười thằng thi sĩ chín ngài cho

 nhớ thương bành trướng theo con chữ

 một gã dường như giỏi giả đò

 

 em cứ tha hồ hãnh diện đi

 trăm năm còn mãi nét xuân thì

 từ trong máu thịt người thi sĩ

 lắng đọng thơm tình ngọn tuyệt thi

 

 thơ mới cũ gì cũng có em

 dẫu “tân hình thức“ cũng xêm xêm

 mắt môi mông ngực linh tinh nữa

 những thứ tình yêu vốn rất thèm

 

 tôi bảo chưa yêu, em có tin?

 ghê chưa, tôi quá đỗi hợm mình

 nhưng thôi, tha thứ em yêu nhé

 em có tôi và tôi có em

 (Yêu và Thất Tình)

 

 Vâng, “em có tôi và tôi có em.“ Có thể đây là bước ngoặt trong đời sống tình cảm của anh chăng ? Vậy ta thử tìm hiểu ra sao:

 

 ta đến trọ nhà em từ thuở

 em chưa qua hết tuổi mười ba

 bút mực thơm từng ngọn tóc đuôi gà

 miệng liếng thoắng vụng về như con sáo

 hoa cỏ dại mọc đầy trong túi áo

 gót chân hồng không mệt mỏi nhảy dây

 trái mù u chuyền thẻ chạy quanh tay

 em cười hát, ăn quà, vòi vĩnh mẹ

 chừng nấy việc dắt dìu em nhè nhẹ

 dạo vòng vòng trong thế giới ngây thơ…

 (Chiều Mưa)

 

 Như anh đã nói:


 

 sóng là của biển vô cùng tận

 chưa tiến thêm lên đã quay mình

 

 Vậy anh quay mình về đâu ? Thực tế đã cho ta thấy, anh quay về ở trọ nhà cô học trò chưa qua hết tuổi mười ba. Mà chẳng ai xa lạ cả, đó chính là người đẹp Lý Phước Ninh mà

trước đây anh đã nhiều lần rập rình qua ngõ mỹ nhân. Ở đây, anh đã cho và nhận được nhiều hương tình trong vườn hoa tình ái. Cũng dễ hiểu thôi, bởi tình yêu là sự cuốn hút cả tâm hồn lẫn thể xác, và tình yêu đích thực chỉ có thể có khi đi từ hai phía.

 Rồi việc gì đến cũng phải đến, tảng băng nổi qua nắng cháy thời gian dần dần tan đi để nhường lại phần chìm nhô lên như một sự khởi đầu thách thức. Có thể nói rằng, suốt khoảng thời gian dài phất phơ qua ngõ mỹ nhân để rập rình,

Luân Hoán đã cập bến tình với người đẹp Trần Thị Lý một cách êm ả. Nàng vừa là một người tình, vừa là tri kỷ, vừa là hiền thê mẫu mực đảm đang, lại vừa là nàng thơ của anh :

 

 tên em, tên một loài hoa

 thơm từ chạng vạng đậm đà suốt đêm

 cánh mỏng mảnh, hương mông mênh

 dịu dàng tẩm ướp hồn lên đời thường

 

 Dạ Lý Hương, Dạ Lý Hương

 cũng là bông Lý bình thường đơn sơ

 đứng góc sân, ẩn ven rào

 xác là thực vật, hồn thơ chập chùng

 (Qúy Danh)

 

 Nếu không quá lời thì tôi có thể nói rằng, Luân Hoán là một nhà thơ lớn của tuổi học trò, lãng mạn, đa tình nhưng rất chung thủy. Tới đây, tôi xin phép không diễn giải thơ anh nữa, tôi chỉ trích đưa lên những đoạn thơ mà tôi cho tự nó đã nói lên quá nhiều về một mối tình thuần hậu, trường cửu…

 

 em có biết em vẫn còn trẻ mãi

 bởi vì ta còn mãi mãi yêu em

 nối tay nhau đan từng sợi võng mềm

 ta kính cẩn mời em yêu ngã xuống

 chiều bát ngát mưa ngoài hiên phiêu lãng

 (Chiều Mưa)

 

 đóng cây đinh treo ảnh em lên vách

 nhìn mặt em cười trong ảnh muốn hôn

 xinh đẹp như ri sao mà lận đận

 theo ta làm gì hỡi ả mèo con ?

 (Đưa Nhau Về Đâu)

 

 năm tháng bình thường không chậm nhanh

 lúc nào em cũng rất xuân xanh

 tuy rằng sương tuyết trên nhành tóc

 chẳng ấm lòng thơm những hiền lành

 

 em vẫn là thơ của những thơ

 ngày xưa ta viết đến bây giờ

 cho dù bay bướm đôi ba bận

 tình vẫn về em hóa kiếp thơ

 (Cho Lý ngày 61)

 

 trộn chút tình ta vào bột giặt

 vò nhẹ nhàng bởi sợ em đau

 vải còn đượm mùi thịt da em ngát

 tay bùi ngùi như đang vuốt ve nhau

 trông thau nước đục lờ những cáu bẩn

 ta bỗng thương lớp bụi nổi màng màng

 chúng là những nhọc nhằn em gánh chịu

 nuôi chồng con dài năm tháng gian nan

 (Giặt Áo Quần Cho Vợ)

 

 Thưa quý đọc giả, trong bài viết này, mục đích của tôi chỉ muốn đưa lên những hình ảnh giai nhân, không nhiều thì ít, cũng liên quan đến dòng thơ và đời sống tình cảm của nhà thơ Luân Hoán; chứ nếu phân tích về thơ anh thì còn nhiều điều tích cực phải nói lắm. Bởi, khi đọc qua thơ anh thì ta thấy rất bình thường, nhưng suy nghĩ cho kỹ thì sẽ tìm ra được nhiều điểm lạ. Điểm lạ lẫm nổi cộm nhất trong thơ anh là các con chữ và ý từ. Anh luôn sáng tạo ý tưởng mới để đưa vào các con chữ cũ. Tôi không biết có nên cho đây là sự cách tân hay không, nhưng chắc chắn là rất lạ lẫm.

 

 Tới đây, tôi xin mượn câu danh ngôn của M. Gorki để khép lại bài viết này:

 “Trên thế gian này, chẳng có vị Thần nào đẹp hơn Thần Mặt Trời, chẳng có ngọn lửa nào kỳ diệu hơn Ngọn Lửa Tình Yêu” ./.

 

 Sài Gòn 18.9.2013

 tuyền linh Nguyễn Văn Thơ

 Email: tuyenlinh_nguyenthi@yahoo.com.vn 

ĐÀNẴNG, MỘT THỜI DẤU YÊU (Thơ Luân Hoán, nhạc và hát Nhật Ngân) 

 

 

______________________________________________________




M
ời đọc Quảng cáo



Mua Bán Nhà




blank


Nha Khoa

 


blank