DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,402,819

VN: Xã hội đảo điên - Nơi người dân không khai sinh- Rượu độc tràn lan - Giết mổ heo lậu

Wednesday, January 5, 201112:00 AM(View: 21906)
VN: Xã hội đảo điên - Nơi người dân không khai sinh- Rượu độc tràn lan - Giết mổ heo lậu

Về nơi làng không có tuổi…

Không giấy khai sinh, không đăng ký kết hôn, đó là tình trạng chung của gần 1.000 nhân khẩu đang sinh sống tại khu dân cư số 1 và 2 của xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức tỉnh Đắk Nông…

Không cần giấy khai sinh vì… không đi học

Nằm cách trung tâm huyện Tuy Đức chưa đến 20km nhưng để đến được khu dân cư số 1 và 2 thuộc xã Đắk Ngo phải men theo những cánh rừng già bạt ngàn trên những con đường lầy lội. Bên những đồi sắn xanh mướt là hơn 400 nóc nhà của người Mông vừa mới được dựng lên vẫn còn thơm mùi gỗ mới.

Nằm ngay đầu bản khu dân cư số 1 là nhà của anh Lý Văn Khư có đến 7 nhân khẩu nhưng tất cả đều không có giấy khai sinh, lý giải vấn đề trên anh Khư cho biết: “Do đời sống của dân tộc mình quen với cuộc sống du canh, du cư, nay đây, mai đó nên chẳng cần giấy khai sinh làm gì. Nếu muốn làm cũng chẳng biết làm ở đâu bởi vì mình chỉ mới được nhà nước cấp đất định cư cách đây vài tháng”. Chính vì lẽ đó mà đã ngoài cái tuổi 40 nhưng vợ chồng anh vẫn chưa biết đến giấy khai sinh như thế nào.

Cách nhà anh Khư vài chục mét là gia đình chị Lý Thị Tôi, vợ chồng đã xây dựng gia đình hơn một năm nay nhưng cả hai đều không có giấy khai sinh cũng như giấy đăng ký kết hôn. Chị Tôi lý giải: “Nhà nghèo không có tiền đi học, không biết cái chữ với lại mình lấy chồng không cần đăng ký kết hôn nên chẳng cần đến giấy khai sinh để làm gì”.

Nằm cách khu dân cư số 1 khoảng 3km là khu dân cư số 2, khi chúng tôi đến đầu làng bắt gặp một đám trẻ đang mang gùi đi mót sắn. Khi được hỏi các em năm nay bao nhiêu tuổi thì những đứa trẻ chỉ biết nhìn ngơ ngác và nhoẻn miệng cười.

Thị Ưa – người đàn bà trạc khoảng 35 tuổi đứng cạnh lũ trẻ cho biết, hầu hết con em của họ ở đây được tính tuổi bằng những mùa rẫy, mỗi mùa rẫy qua đi là chúng lại thêm một tuổi, ngay cả đứa con trai của Thị Ưa cũng ước chừng 15 hay 16 mùa rẫy gì đó, cuối năm nay nó đã đến tuổi lấy vợ rồi nhưng không được đi học, không biết chữ nên cũng chẳng cần đến giấy khai sinh.

Ông Nguyễn Văn Sáu – cán bộ Tư pháp xã Đắk Ngo cho biết: “Tại hai cụm dân cư số 1 và 2 có khoảng 400 hộ với khoảng 1.000 nhân khẩu thì trong đó hơn một nửa người lớn và gần như 100% trẻ em đều không có đăng ký giấy khai sinh và thất học”.

Do người dân sống hoàn toàn biệt lập

Ông Ngô Quang Minh – Chủ tịch xã Đắk Ngo cho biết, mỗi năm trên địa bàn xã “đón” nhận gần 100 hộ dân với hơn 500 nhân khẩu nhảy “dù” di cư tự do từ các tỉnh phía bắc vào và hầu hết những hộ dân này đến đều tự ý khai phá, xâm canh lấn chiếm diện tích đất rừng ở những nơi hẻo lánh để ở, nhiều hộ sống hoàn toàn biệt lập với thế giới bên ngoài nên rất khó kiểm soát về vấn đề nhân khẩu.

Theo thống kê thì từ năm 2007 đến nay, trên địa bàn xã mới chỉ có khoảng 1.000 trường hợp đến UBND xã để làm giấy khai sinh và đăng ký kết hôn, trong đó có đến 90% là đăng ký muộn và chỉ khi nào cần thiết như làm hộ khẩu, vay vốn ngân hàng thì người dân mới chịu đi làm. Nhiều trường hợp sau khi được cấp giấy khai sinh cũng không thèm đến nhận, cán bộ phải cất vào tủ và khi nào cần họ mới đến xã để “đòi” về.

Một nguyên nhân khác là do địa bàn cư trú rộng, dân cư lại sống rải rác, hàng năm có sự biến động về dân cư rất mạnh nên công tác tuyên truyền cũng chỉ đến được những vùng dân cư sống tập trung.

Anh Sáu than thở: “trực tiếp quản lý công tác hộ tịch, hộ khẩu nhưng bản thân tôi hiện cũng không thể xác định được toàn xã còn bao nhiêu trẻ em chưa được đăng ký khai sinh. Đó là chưa kể đến tình trạng phần đông đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn khi cưới hỏi cũng không đăng ký kết hôn, có người chết cũng không báo tử”...

Để ổn định tình hình dân di cư tự do trên địa bàn xã, tháng 6/2008, tỉnh Đắk Nông đã đồng ý giao cho huyện Tuy Đức phối hợp với các đơn vị liên quan lập dự án “ổn định dân di cư tự do” trên địa bàn xã Đắk Ngo, địa điểm để thực hiện dự án tại Tiểu khu 1541 do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín quản lý. Theo đó, mỗi hộ dân sau khi chuyển về sẽ được nhận 400m2 đất ở, 8 triệu đồng tiền làm nhà và 1ha đất sản xuất, dự án sẽ đón nhận khoảng 500 hộ với 2.128 nhân khẩu. Ngoài ra, chủ đầu tư sẽ xây dựng các hạng mục thiết yếu như điện, đường, trường, trạm… để người dân khi chuyển đến đảm bảo an sinh và sản xuất.

Tuy nhiên, đến nay sau gần 3 năm thực hiện dự án bà con ở đây vẫn chưa có điện thắp sáng, chưa có nước sạch để dùng, chưa được cấp đất sản xuất; hệ thống trường học và trạm xá cũng chưa có. Do vậy, một số hộ dân đã chuyển về nơi ở cũ để sinh sống sản xuất, một số bộ hộ khác lại tiếp tục vào rừng phá rừng để lấy đất canh tác.

Ông Nguyễn Ngọc Quyền – huyện Tuy Đức cho biết: Theo kế hoạch, vào giữa tháng 8/2010, huyện sẽ tiến hành cấp đất sản xuất cho bà con, tuy nhiên do đất của dự án đang bị một số hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và người di cư tự do ở nơi khác đến xâm canh nên chưa thể thu hồi.

Ngoài ra, số diện tích này người dân chủ yếu là trồng sắn và bắp, sau mỗi lần thu hoạch thì họ lại trồng tiếp gây khó khăn cho việc thu hồi… dẫn đến công tác dồn dân quản lý lại càng gặp nhiều khó khăn, để tránh tình trạng thả nổi việc đăng ký hộ khẩu, hộ tịch cho người dân trên địa bàn hơn bao giờ hết rất cần sự quan tâm của các cấp, các ngành của địa phương.

BVN-TH

Kinh hoàng công nghệ rượu… chế

Nhiều người không khỏi giật mình khi biết được những chất độc tồn tại trong rượu chế, rượu giả bấy lâu nay. Chỉ vì rẻ, vì... tiện lợi, những người dân ở vùng nông thôn, miền núi và dân lao động tự do đang ngày ngày uống vào cơ thể thứ rượu mang nhiều độc tố. Ghi nhận của nhóm PV tại các địa điểm chuyên làm rượu giả thể hiện rõ điều này.

Trong khi thực hiện loạt bài viết này, chúng tôi gặp lại T. - một người bạn kiêm "đệ tử của thần lưu linh". T. đã nói chúng tôi biết đích danh tên làng rượu không khói mà T. vẫn “ăn hàng”. Đó là làng Đại Lâm, xã Tam Đa (Yên Phong – Bắc Ninh), làng “rượu chế không khói” nổi tiếng mà báo chí đã từng… rùm beng!

Công nghệ nấu rượu… không khói

Báo chí một thời “ầm ĩ” về công nghệ nấu rượu không khói theo phương thức: “cồn + nước lã + hương liệu = rượu” của không chỉ làng rượu Đại Lâm mà còn ở nhiều làng rượu đã làm say biết bao thế hệ "đệ tử lưu linh" cả trăm năm có lẻ.

blank

Ban đầu, một chủ lò nấu rượu “bức xúc” và không đủ kiên nhẫn vì thời gian và công suất nấu rượu theo kiểu chưng cất truyền thống, đã đi “tầm tang” thiên hạ cách “nấu” rượu bằng pha chế cồn khô – hay còn gọi là “viên sủi” có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Thấy siêu lợi nhuận, hoạt động chế rượu bằng viên sủi này nhanh chóng lan ra nhiều hộ dân ở Đại Lâm và cũng nhanh chóng “giết chết” những làng nấu rượu truyền thống.

Cách mạng tất phải có phát kiến! Một chủ xưởng rượu người bản địa đã nâng tầm “viên sủi” thành cồn, vừa dễ sử dụng, giá thành rẻ lại năng xuất.

Theo đó, người pha chế chỉ cần pha với nước lã và hương liệu sắn, ngô, gạo là thành rượu với các độ và mùi vị theo ý muốn. Loại cồn này cũng giúp cho việc chế rượu nhanh hơn so với dùng trực tiếp viên sủi. Sau đó, loại cồn này được nâng cấp lên thành cồn hương vị.

Dụng cụ dùng để chế rượu là những chiếc thùng phuy. Nước được bơm vào thùng đến một ngưỡng nhất định (được biết, chủ pha chế phải dùng… đòn gánh để đo vì chiều cao một phuy nhựa này chừng 1,5m).

Khi mực nước trong thùng đạt đến khấc đã vạch sẵn, cồn được bơm vào các phuy nước. Chiếc đòn gánh dùng làm thước đo mức nước lúc này trở thành dụng cụ để… khoắng cồn cho tan với nước. Miệt mài như thế chừng vài chục phút, dung dịch mới được trộn giữa nước và cồn đã có mùi như… rượu. Để trở thành rượu gạo, rượu sắn, người ta “chế thêm” hương liệu.

Với công nghệ này, một phuy rượu chừng một khối chỉ thao tác trong vòng nửa giờ đồng hồ. Nếu để có được khối lượng rượu nấu như thế này, có lẽ, một lò rượu phải miệt mài cả ngày cả đêm trong vòng cả tuần, nếu như tính theo mức mà bà chủ nhà tiết lộ, rằng một ngày chỉ nấu được chừng vài bốn chục lít.

Bà chủ quán nước đầu dốc Đặng (cách làng rượu Đại Lâm chừng 2 cây số) thở dài: Trước, cả làng Đại Lâm nấu rượu. Bây giờ, còn mấy nhà theo nghề. Nghề truyền thống đã dần mai một và bị giết chết bởi công nghệ “nước pha cồn” như thế.

Dọc trục đường vào Đại Lâm, còn dưới chục nhà “nấu” rượu. Tuy nhiên, mỗi một “lò” này một ngày có thể sản xuất bằng 3, 4 lần công suất của cả làng Đại Lâm ngày xưa.

“Công nghệ này, một đứa trẻ con cũng làm được rượu, vì nó chỉ cần trộn và khuấy. Nhưng không phải ai cũng làm được, vì quan trọng nhất là… đầu ra của sản phẩm. Nói không đâu xa, anh chị cứ vào mấy “hầm rượu” cạnh nhà ông lang chữa bệnh vô sinh, sẽ thấy người ta xây nhà lầu, mua xe hơi… cũng từ những phuy, những téc nước pha cồn như thế!” – bà chủ hàng nước thở dài, chép miệng.

Cồn được sử dụng để chế thành rượu có nồng độ cao, từ 90- 96 độ. Tỷ lệ pha chế của nó là 1 – 4 (1 lít cồn pha chế thành 4 lít rượu), tuỳ vào mức độ rượu nặng - nhẹ khác nhau mà tỷ lệ này sẽ được điều chỉnh. Tuy nhiên, với cách “nấu” kiểu này, một phuy rượu nếu không “đẩy” nhanh, sẽ bị thối sau vài ba tháng. Đó là trở ngại duy nhất mà những “xưởng rượu không khói” ở Đại Lâm lo lắng.

Tràn lan rượu bẩn

Anh Nguyễn Văn Tùng (Bình Đà, Hà Nội) khề khà trong khói thuốc: “Hiện nay, đa số họ nấu bằng men tầu hay viên cồn pha nước lã. Đổ các quán đó chỉ khoảng 3,5 nghìn đến 5 nghìn đồng/lít. Những quán cơm bình dân cho công nhân, sinh viên và người lao động thu nhập thấp thường tiêu thụ loại rượu này!”.

Anh Tùng chia sẻ kinh nghiệm: “Nhiều loại rượu được pha chế từ cồn hoặc cho thêm thuốc trừ sâu… có loại chỉ pha chế bằng 1 viên thuốc vào nước theo tỉ lệ, lắc đều, chờ vài phút là thành rượu”.

Ông chủ cho biết thêm: “Nhà vẫn còn gần như nguyên can nhưng đã hơn tháng không thấy bà bán rượu qua lấy can và tiền. Chắc sợ lộ nên bỏ của chạy lấy người rồi!”.
Bà Thoa, hàng xóm của anh Tùng nói: “Năm ngoái cưới thằng con lớn nhà tôi mua phải rượu pha cồn. Cả đám cưới uống kêu đau đầu điên đảo. Thật là mất mặt với họ hàng, làng xóm”. Theo bà Thoa trong làng đã có rất nhiều gia đình ham rẻ một vài giá nên đã mua phải rượu nấu “không khói”.

Những ngày giáp Tết, không chỉ thị trường rượu ngoại mới sôi động. Tại các khu vực nông thôn rượu cuốc lủi được sử dụng khá nhiều. Anh Nguyễn Hữu Thạch, một trong những chủ nấu rượu tại Cự Khê, Thanh Oai, Hà Nội cho biết: “ Vào dịp cuối năm này, do có nhiều đám cưới hỏi, đám tang nên nhu cầu rượu tăng lên. Trong vài tháng cuối nhu cầu tăng lên khoảng 4 đến 5 lần. Ở quê một đám cưới thường đặt của anh khoảng 70 đến 80 lít với giá rơi vào 28.000 đến 30.000/lít”

Sau một hồi anh lắc đầu ngán ngẩm: “Cứ tình trạng này, chẳng biết đằng nào mà lần, rượu đểu lan tràn".

Nằm nép bên đường quốc lộ thuộc huyện Hoài Đức là một quán rượu ốc khá nổi tiếng. Ông chủ cửa hàng cho biết: “Tháng trước có người chở can rượu cuốc lủi 20 lít đến chào hàng với giá chỉ 500 đồng. Họ còn sẵn sàng để lại số rượu cho quán bán thử mà chỉ lấy tiền 5 lít làm tin, sau khi cửa hàng bán hết sẽ quay lại lấy can và tiền.”

Ông Nguyễn Văn Quý, xã Tam Đa cho biết: “Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong cách làm này của một số người dân là do chạy theo lợi nhuận. Sản xuất rượu bằng cách hòa cồn công nghiệp với nước lã đem lại lợi nhuận rất lớn, bởi tiết kiệm được toàn bộ các khâu lên men, nhân lực vật lực, sản lượng lại lớn.

Theo ông Quý, vài năm trở lại đây, dư luận trong xã đã khá bức xúc trước cách sản xuất rượu “thiếu đạo đức” này. Họ đã phản ánh nhiều lần lên chính quyền xã về việc có nhiều hộ gia đình vì chạy theo lợi nhuận mà làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác khi uống vào.


Theo thông tin ông Quý cung cấp thì loại cồn công nghiệp mà các hộ gia đình sử dụng để pha thành rượu thường có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc hoặc các tỉnh miền Trung chuyển ra (mà ông không nắm rõ lắm về nguồn gốc).

Ông Quý cũng cho hay: Tam Đa có khoảng 1.200 hộ, thời kỳ cao điểm (đầu tháng 8, tháng 9) có khoảng 800 gia đình nấu rượu. Còn ở thời kỳ thấp điểm có khoảng 200 gia đình nấu rượu”.

Như thế, với sản lượng rượu mà Tam Đa cung ứng cho thị trường vẫn đảm bảo như nhau, chỉ có thể giải thích bởi những ‘lò” sản xuất rượu theo công nghệ không khói có năng suất gấp nhiều lần các lò nấu rượu thủ công.

Trưởng xã Tam Đa tự tin cho biết rượu của địa phương này có mặt ở tất cả các nơi có người uống rượu. Nhưng với công nghệ sản xuất như thế này thì mức độ phổ biến của rượu Tam Đa quả thật trở thành một mối nguy hiểm.

Ông Nguyễn Trọng Hội – xã Vân Hà (Việt Yên – Bắc Giang) – “hàng xóm” của Tam Đa thở dài: "Thật nguy hiểm với các loại rượu không rõ nguồn gốc, được sản xuất bằng công nghệ cồn hòa với nước lã. Điều đó, ai cũng biết nhưng chẳng ai có đủ thẩm quyền để yêu cầu các xưởng sản xuất rượu kiểu đó “dẹp tiệm”. Họ chở đi bán nơi nào thì chũng tôi cũng chịu…”.

“Trọng chứng hơn trọng cung”, chúng tôi quyết tâm tốn công sức để lần mò sang đất làng Vân. Đi khắp đầu thôn cuối xóm, tịnh không thấy bóng dáng những phuy rượu để dọc bên đường – hình ảnh “đập vào mắt” ở làng Tam Đa hàng xóm. Anh bạn đồng hành, lấy kinh nghiệm “đón gió ngửi mùi”, khìn khịt mấy lần mà vẫn lắc đầu: “Không thấy mùi men đâu cả!”. Làng Vân cơ chừng lụi lửa thật!

Đi dọc con đường xương cá dẫn vào làng, chúng tôi gặp duy nhất hai điểm đại lý bán… sắn khô. Đem cái ngơ ngác hỏi người bản địa, đáp rằng: “nguyên liệu nấu rượu sắn đấy!”. Sắn khô từ mạn ngược đánh về, mốc xanh mốc đỏ và đổ chất đống trên nền đường, tựa như là nguyên liệu để chế biến… thức ăn gia súc! Vẫn người dân hiếu khách và cởi mở kiên trì giải thích: “Có chứ, người ta phải tẩy mốc cho trắng nõn, rồi mới chưng cất, lên men!”.

Đi hết từ ngạc nhiên này sang sững sờ khác, chúng tôi còn được nghe công nghệ “ủ rượu” bằng men công nghiệp, men Tàu: rắc men vào gạo ngâm nước lã, không cần phải nấu thành cơm, vẫn ra cái thứ nước có nồng độ 29, 30 độ, nặng nhẹ tùy theo đơn đặt hàng!

Dọc trục đường làng của làng Vân, những chiếc ao tù đọng mặt vẩn lên những bọt bùn vì không khí không có chỗ thoát, đùn lên như… vẩy nến, đến độ… bèo cũng không sống được...

BVN-TH

Rùng rợn giết mổ gia cầm lậu

Có những điểm, mỗi ngày giết gần cả ngàn con gia cầm lậu đã hoạt động nhiều năm nay nhưng không hề bị ai “hỏi thăm”

12 giờ ngày 3-1, chúng tôi đến điểm “nóng” buôn bán gia cầm góc đường Phú Hữu - Trần Chánh Chiếu, quận 5 - TPSG. Dù giữa trưa nắng chang chang nhưng nơi đây vẫn có cả chục điểm bày bán gà, vịt sống công khai hoạt động mà không ai kiểm tra. Giá gà sống 80.000 đồng - 95.000 đồng/kg, tùy loại, vịt xiêm 55.000 đồng/kg... Nếu giết mổ tại chỗ thêm 10.000 đồng/con.
Chứa cả “trại” gà

Khi chúng tôi đặt vấn đề muốn mua gà đã giết mổ sẵn, bà chủ tên Nga nở nụ cười tươi, nói: “Mấy anh thông cảm, ở đây không được phép giết mổ mà phải sang “lò” ngay bên cạnh, chi phí 5.000 đồng/con. Muốn mua bao nhiêu cũng có”.
Cũng ngay trên đường Trần Chánh Chiếu, chúng tôi được dắt vào một lối đi tối thui rộng chưa tới 1 m dẫn vào một căn hộ rộng gần chục mét vuông trên tầng 2, nơi chứa gần cả trăm con gà sống. Một phụ nữ đội chiếc nón lá lụp xụp đang hì hục bơm bã đậu vào miệng gà (để làm tăng trọng lượng) hỏi: “Sao, đồng ý không?”. Chúng tôi chê gà không đẹp, lập tức cánh cửa đóng sầm lại, người dẫn đường tỏ vẻ khó chịu và bảo chúng tôi ra ngoài...
Trong vai người cần đặt mua số lượng lớn gà giết mổ sẵn để bán nhà hàng, chúng tôi được một phụ nữ tiếp đón nồng hậu: “Chỉ cần đặt trước vài giờ sẽ có hàng giao tận nơi, gà không đẹp không lấy tiền. Nếu cần lấy nhanh sẽ có cả chục người giết mổ”. Chúng tôi đi vào nơi giết mổ. Khu vực này chỉ rộng hơn chục mét vuông, mọi công đoạn giết mổ đều diễnra trên sàn xi măng nhầy nhụa nước thải, tiết gà, vịt và phân, lông...
Tại khu vực đường Tân Sơn (chợ Tân Sơn, quận Gò Vấp-TPSG), chúng tôi cũng ghi nhận có hơn chục điểm bán gia cầm sống và giết mổ tại chỗ. Phần lớn các điểm này đều giết mổ miễn phí cho khách. Bà Sáu bán gà tại đây cho biết lúc trước có vài ba người bán nên còn giết mổ lấy tiền công nhưng gần đây có quá nhiều người bán nên phải cạnh tranh bằng cách giết mổ miễn phí cho khách. Cả một khu vực bốc mùi hôi thối do mọi thứ chất thải (phân, lông, ruột, máu) đều được dồn xuống cống rãnh ngay trong khu vực...
Tại khu vực chợ thủy sản (ngã ba Phan Văn Trị - Thống Nhất, quận Gò Vấp), có một lò giết mổ đặt ngay trên vỉa hè, khách mua gia cầm đều được giết mổ tại chỗ. Tại đây có trang bị “dây chuyền” giết mổ thuộc dạng bán công nghiệp (có giàn cắt tiết gia cầm có thể cắt tiết đến 5 - 7 con gà, vịt cùng lúc) nên người mua, kẻ bán rất sôi động... Theo dõi gần như suốt buổi sáng 3-1, chúng tôi không hề thấy cơ quan chức năng kiểm tra, nhắc nhở...

Quá bẩn!

Có mặt tại khu vực đường Hiệp Bình, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức-TPSG từ lúc 14 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 3-1, chúng tôi nhận thấy dọc theo hai bên lề đường có đến 7 điểm bán gia cầm sống nhận làm sẵn cho khách. Khu vực giết mổ của 7 điểm nói trên hết thảy đều rất dơ bẩn, có điểm nằm ngay cạnh khu vực chứa rác, ruồi nhặng, rác rến bốc mùi hôi thối.
Chúng tôi dừng lại khá lâu tại một điểm đông khách và quan sát: Cứ khoảng 5 phút là có một khách đến mua. Điểm này có cả thảy 5 người bán, thay ca nhau bán từ sáng đến chiều tối. Khu vực giết mổ gà, vịt của họ đặt ngay trên một nắp cống thoát nước. Khi khách chọn được gà, chị bán hàng khóa cánh rồi kẹp con gà vào hông để cắt tiết. Bao nhiêu tiết gà được đựng chung vào một cái chén nhựa cáu bẩn. Khách hàng cần lấy tiết về thì chủ quán sẽ đổ sang một bịch ni lông nhỏ. Qua theo dõi, chúng tôi ghi nhận điểm bán và giết mổ này mỗi ngày tiêu thụ bình quân từ 60 - 70 con gà, vịt.
Tuy nhiên, dụng cụ giết mổ vô cùng đơn giản, chỉ có một cái xoong nấu nước, một bếp gas nhỏ. Khi gà đã nhúng nước sôi, người bán gà sẽ mang2 - 3 con gà quăng lên nắp cống, sẽ có 2 người chuyên ngồi vặt lông và mổ gà. Bao nhiêu lòng, chất thải, lông và tiết được họ thải trực tiếp xuống cống. Chúng tôi hỏi vì sao làm ăn lâu dài mà không đầu tư thiết bị cho sạch sẽ hơn, chị chủ hàng nói: Làm ở lề đường thì vậy thôi. Lỡ có bị QLTT kiểm tra chỉ cần chạy bu gà, còn xoong nồi, bếp gas bỏ đi cũng không tiếc...


BVN-TH













Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, March 26, 201412:00 AM(View: 8148)
Điều này tôi đã có lời thưa với bạn đọc ở đầu sách
Wednesday, February 19, 201412:00 AM(View: 9896)
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam
Monday, November 25, 201312:00 AM(View: 12520)
Giờ đây các quý bà đã không còn phải tị nạnh với cánh mày râu khi đã có dịch vụ massage yoni chỉ phục vụ riêng chị em.
Sunday, November 17, 201312:00 AM(View: 15371)
Hồi ở tuổi 15, tôi có đọc được một số thơ của tác giả Huy Phương đăng trên tuần báo “Đời Mới” ấn hành tại Sài Gòn từ 1951 đến 1955, trong đó có bài thơ nhan đề “Cát Lạnh”
Monday, November 4, 201312:00 AM(View: 8982)
những người công nhân (CN) tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Hà Nội rất khó khăn và bấp bênh