DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,745,436

Xứ Nắng - Lê Thị Thấm Vân (hết)

26 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 7653)
Xứ Nắng - Lê Thị Thấm Vân (hết)
Xứ Nắng




blank



Chương 10




Nghiệp chướng nằm trong mỗi cá nhân, gia đình, xã hội, đất nước.
 Dân tộc nào, hứng chịu nghiệp chướng dân tộc đó!
 Ai có thể cắt nghĩa hộ tôi câu nói này.
 
 Giấc mơ thứ nhất.
 Tôi mơ thấy khúc chân trái của mình phồng to, bủng nước, màu tím mồng tơi chuyển dần sang màu vàng vạn thọ. Khúc chân người chết đã nhiều ngày. Bắp đùi non gần bẹn từ từ nứt, những con dòi tròn úc núc, to gần bằng con đỉa, cứ thế chui ra, chen chúc chui ra. Tôi không đau, không ghê tởm. Trái lại, háo hức kỳ thú.
 
 Giấc mơ thứ hai.
 Nằm trên cái ghế bố đắp vá nhiều lớp. Ba người đàn ông giằng kéo thân tôi. Người thứ nhất, cánh tay lính Mỹ đen cháy phỏng cố giằng cái ghế. Của tôi, hắn nhất quyết đòi lại. Tôi chẳng nói chẳng rằng, thẳng chân đạp hắn một cái thật mạnh vào mặt. Bình thường hắn to con khoẻ mạnh, chỉ cần phủi nhẹ là tôi ngã nhào, nhưng hắn đang bị thương. Hắn lồm cồm bò dậy, đổi chiến lược, năn nỉ xin được nằm một lát bởi đau quá, tôi gạt ngoài tai. Người thứ hai là “lính ngụy” cụt mất giò trái, bả vai lòi khúc xương trắng hếu, máu mướt dầm lan tận chân ghế. Đau quá, tôi đau quá. Hắn van xin bằng mắt. Tôi chần chừ không quá ba giây, quay mặt hướng khác. Người thứ ba, anh Quyến, phun nước vào mặt tôi, nước biển tanh nồng, mặn chát, và lạnh. Cá rỉa gần hết thịt trên mặt anh. Anh cố bấu chặt thành ghế bố, tôi cố nạy từng ngón tay, nhất định không cho anh bấu vào. Nạy xong mười ngón tay, cái ghế bố chao đảo như thuyền gặp phải cơn giông, giữa biển khơi.
 
 Giấc mơ thứ ba.
 Trời mưa, sấm sét, gió lộng. Những ngón tay tôi ấm mềm trong bàn tay người đàn bà không đầu. Ngôi mộ hoang trong vườn nứt đôi. Tôi ngoan ngoãn bước theo bà vào bên trong lòng mộ. Mộ thứ nhất, là người đàn bà nằm úp mặt, trên lưng bà là đứa bé sơ sinh, cũng úp mặt. Máu mủ cuống rốn của mẹ lẫn con còn nối liền rơi chảy lòng thòng giữa xác hoa nhài khô héo phủ kín lòng mộ. Văng vẳng tiếng ai, ‘mang con tôi đi hộ.’
 Mộ thứ hai, cũng người đàn bà, toàn thân phủ kín tóc đen. Người đàn bà không đầu buông vội tay tôi, chạy nhanh tới, ôm chụp. Thoa, con!
 Tiếng hét. Tôi choàng tỉnh.
 
 
- o O o -

 
 Tiếng rên khe khẽ, tự dỗ câm nín giữa đêm khuya thanh vắng. Mùi đất cao nguyên Ban Mê Thuột len lén thổi về.
 Tiếng côn trùng, ễnh ương, dế mèn. Tiếng gọi quay về tuổi thơ.
 Tiếng lá khua vỗ ngoài vườn. Không là tiếng nỉ non, than oán.
 Tiếng rên khe khẽ. Xiết chặt, chặn giữa hai hàm răng, trổi lên, lớn dần... lớn dần, rồi không thể kiềm hãm. Tiếng thét.
 Vỡ oà.
 Sau ánh chớp, bao giờ cũng là cơn giông bão.
 Khi mảnh gương vỡ tan, thì cạnh nào cũng sắc bén.
 Đứa bé tuổi chưa đếm đủ mười đầu ngón tay. Này đếm nhé, một hai ba bốn năm sáu bảy tám... đầu ngón tay chạm đầu ngón tay, trong đêm. Đêm thanh vắng. Tiếng ngáy ran của chồng như tiếng ve sầu hè, tôi lặng lẽ xoay nằm ngược đầu.
 Đứa bé khi chiều ngồi trước cánh cửa. Nó nhìn tôi, tôi nhìn nó, ở giữa là nắng xuyên rọi. Hai cái chân trần khẳng khiu khó lòng duỗi thẳng. Hai hòn dái tong teo xám ngắt dấu trong cái quần đùi rộng ống. Một hai ba bốn năm sáu bảy tám... tôi đếm tuổi nó trên đầu ngón tay trong ánh nắng chiều. Những cái mụt tròn mọng mủ căng cứng trên làn da chân tựa miếng bánh tráng vừa nướng xong, nóng, giòn, xốp, phồng. Đầu thằng bé tựa vào cánh cửa, nửa nằm nửa ngồi. Nó nhìn tôi, tôi nhìn nó, ở giữa là nắng xuyên rọi.
 Mảnh da bánh tráng nóng giòn xốp đang hành hạ thằng bé.
 Sắp đến giờ thọc dao vào cổ heo lấy huyết.
 Sao không là tiếng dế mèn gọi quay về tuổi thơ? Tiếng mưa rơi trên lá đu đủ xanh ngời trong vười sau? Tiếng nổ tan bọt bong bóng trên mặt lề đường?
 Người nằm trong mộ ngoài đêm đen kia, có nỉ non oán trách gì không?
 
 Sáng chủ nhật, tôi ngồi trên bậc thềm, ngó mông lung. Những con kiến chạy lòng vòng dưới chân. Triệu triệu lá me non lung lay trong gió sớm. Người đi qua đi lại ngoài đường. Sự vật, con người đang di động trong hai tròng mắt tôi.
 Sáng chủ nhật ở California, giữa phố tôi ở, cách nhà chừng năm phút lái xe, tụ điểm của farmer’s market. Những khuôn mặt người bàn hàng, tôi nhớ rất rõ, cả nụ cười, giọng nói, vài người tôi biết cả tên và họ. Những rổ rau tươi rói còn đọng bùn, hoa còn đọng sương. Một mình, tôi lang thang ôm hai bó hoa, một chưng phòng khách, một chưng phòng ăn. Xách giỏ trái cây, bánh mì, cheese, mận khô, hạt điều rang muối. Trời trong gió mát, bình an, thong thả, nhẹ nhàng. Thói quen thú vị, đều đặn mỗi sáng sớm chủ nhật trong nhiều năm.
 
 Tôi đi vào phòng tắm, lần mò như kẻ bị móc mắt, nhưng cũng quyết chí đi. Như kẻ vượt tù, tin chắc rằng chân trời chỉ cách mình một cái nhẩy cao. Vượt biên, thõng chân xuống nước là chạm phải mặt đất. Cậu Thịnh kể chuyện vượt biên tám lần mới lọt, lần nào cũng như xem phim trinh thám. Còn tôi đây, đang dò dẫm bước từng bước trên thềm xi măng, lòng bàn chân mát lạnh, tay bám vào những gì có thể bám. Thần trí lùng bùng. Đi theo tiếng gọi của thể xác, trong tôi. Thằng Út nằm phơi mình ngoài sương đêm, cu nó có ngổng không? Nhưng biết chắc một điều, khi nằm, nó bình đẳng như mọi người. Bước qua Trinh, tôi dừng, tích-tắc, tích-tắc, từng lỗ chân lông bung nở, tỉ tỉ sự sống cựa quậy. Bước thêm bốn bước, rẽ trái. Bóng đêm đồng lõa, gió đêm rủ rê, khoảng sân mờ ảo mời mọc. Đầu gối đụng phải bàn ăn, tôi cắn chặt môi dưới. Băng qua bếp, mùi thức ăn trong bóng tối xông ra, đầu đụng chùm nem chua treo lủng lẳng như bùa chú. Tôi dừng, định thần, tiếng mèo hoang phóng nhanh trên mái nhà. Trăng sao biền biệt.
 Cánh cửa phòng tắm bật tung...
 Tôi chịu hết nổi, tuột gấp quần, chỉ kịp qua khỏi đầu gối. Tôi ngồi bệt xuống sàn xi măng ẩm nước, góc tường lạnh thấm qua lưng, hất cái ghế đẩu nhựa sang một bên, ngón tay tôi run run đút sâu... luồn lách qua từng thớ thịt khe rãnh nhầy nhụa ấm nóng. Sóng cuồn cuộn trên vũng bụng. Ngón tay hút chặt. Đầu môi con bạch tuộc. Tôi biết tôi muốn gì, làm gì, ngay trong giây phút này. Tôi hoàn toàn thuộc về tôi. Cái quẫy mình của con kình ngư.
  thân thể tôi giãn nở
 mười ngón chân hết cứng đơ
 vũng bụng thôi cuộn sóng
 tất cả rũ mềm như giải lụa
 chậu nước tỏa hơi mát

 
tôi mỉm cười trong đêm. Tin chắc rằng, bên kia bức tường, rào cản, trời đêm mọi sự đều đơn giản, thanh thoát như hương hoa sứ đang độ giữa mùa.



Chương 11






blank



Câu chuyện cậu kể về người đàn bà tôi nghe trên chuyến xe lửa xuyên Việt. Tôi cứ hình dung, vẽ ra khuôn mặt người đàn bà chưa lần gặp, nay đã xoá sạch, mất dấu. Xe lửa chạy trong đêm, chở tôi, đang nơi đâu? Trời đen ngòm bên ngoài. Tiếng rào rào cát đá, bánh xe nghiền nát thanh sắt. Xình xịch, bánh xe cứ quay vòng. Đầu tôi, vai tôi va vào thành giường cứng ngắc. Những đốt xương trong tôi va vào nhau như điệu nhạc rap.
 Xe đổ dốc ào ào. Đêm thẳm sâu. Những gì đang lướt trôi ngoài không gian kia, tôi chẳng thể nắm bắt được.
 Cậu tôi bắt đầu câu chuyện về người đàn bà. Mẹ và cậu gọi bằng cô. Tôi phải gọi bằng bà cô.
 Bà cô tên gì?
 Tôi hỏi.
 Chẳng biết, chẳng ai biết, chẳng có tên.
 Cậu nói, giọng vội vã, lướt nhanh.
 Gần hai ngày ngồi trên xe lửa, xuyên thấu hai múi đầu nước Việt. Ngoài ăn, ngủ, tiểu tiện, và ngồi chong mắt nhìn bên ngoài khoảng trời cho, cây cối, mái nhà, hiên, sân trước và sau, bên hông, mộ hoang, chân đất, đỉnh nón rách tưa, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời,” những đứa bé, con cu cái hĩm trò chuyện lân la cùng đất cát.
 Đất cát mỗi miền mang màu sắc khác nhau: đỏ, trắng, nâu, vàng, đen... tồn tại bao nghìn năm, lăn lóc qua lại, ẩn sâu, nổi trôi, thăng trầm, chìm khuất, trôi giạt, mưa sương thấm lạnh, nắng hè nung nóng, đất vẫn là đất, muôn đời là đất, không thể biến tan. Mỗi hạt cát là một linh hồn. Hồn mẹ, hồn cha, hồn ông, hồn bà, hồn con, hồn em, hồn cháu...
 Trời đêm, giọng cậu nhập nhòa cùng bóng in trên vách toa. Tiếng bánh nghiền nát mặt đường. Lại lao xuống vực, rào rào.
 Cô ấy là con riêng, ngoại hôn của ông nội, cùng cha khác mẹ với các chú, và cũng là cô của cậu. Ông nội có bốn vợ, tổng cộng mười tám người con. Cậu là con bà ba, mẹ cháu là con bà hai, bà đầu, tức bà nội cả chẳng sinh được con. Cháu hiểu chưa? Bà nội cả phải cưới vợ bé cho ông nội, cháu hiểu chưa đã nào?
 Tôi gật đầu, dạ lí nhí, dù chẳng chiểu, chỉ lờ mờ đoán sự nối liền, liên hệ, là đống ruột thịt bầy nhầy trong chậu nước lã, vắt không ra một giọt hồng thắm. Bốn vợ chưa đủ sao còn có con ngoại hôn, tôi chỉ thắc mắc. Cậu nói lung bung, nhớ gì nói nấy, quàng xiên.
 Thế này nhá, để cậu kể lại lần nữa rõ cho cháu nghe...
 Cứ thế, tiếng cậu kể, tiếng rào rào xe lửa đang lao xuống vực. Bóng cậu, bóng đêm cứ nhập nhằng vào nhau trên vách toa. Tôi trong trạng thái mơ màng, bất an. Câu chuyện nhiều mảng chắp nối, rối tung. Cậu vẫn kể, bánh xe lửa cứ nghiền nát tàn nhẫn mặt đất nó đang phải băng qua. Cái bóng trên vách bỗng nhòa nhập mùi không gian, thời gian xa xăm, khuất dấu. Khuôn mặt người đàn bà không tên, mất dấu, xóa nhòa.
 Bà nội cả, thượng thọ sáu mươi thì mất. Năm đó gió mùa đông bắc thổi rét tận tủy. Bà cô lên tám, trong nhà gọi là con ngoẻo cổ, con đần, con lì. Có người bảo mẹ bà cô ấy chết là bị đứt ruột, hay sinh con bị dây quấn. Sau khi bà cả mất, ông nội hết đi buôn xa, về lại làng câu cá, đò lật, chết chìm, ông nội không biết bơi, nước chỉ cao quá đầu gối một gang tay. Xác ông dạt về cuối bãi, mấy ngày sau mới tìm thấy.
 Mọi chuyện nằm trong quá khứ và hiện tại trên đất nước này tôi có cảm tưởng không một ai nắm rõ, đầy giai thoại, huyền bí, mập mờ như chuyện lập quốc. Mỗi người kể một ý, tự diễn giãi, đầy cảm tính, không cần lý luận, lý giải như bản tính, bản chất con người muôn đời không thể thay đổi.
 Từ ngày ông nội bà nội mất, những người con phải tự lo sống, họ hàng chẳng thể giúp đỡ được ai. Năm đói Ất Dậu, cả làng ai cũng bình đẳng xin ăn. Trong làng có hai vợ chồng già, có chút ruộng nương, nhưng không con cái. Trước khi biết sắp mất, hai người giao chút ruộng nương cho người anh cả với điều kiện chỉ cần cúng giỗ mỗi năm. Rồi một đêm, hai vợ chồng già và anh cả cùng đứng lạy xá sao như kê vàng trên trời nhận lễ chứng kiến.
 Thời gian trôi, nhưng nỗi khổ vẫn không trôi. Nó dính cứng, bám chặt như đất. Đói rách vẫn đói rách. Ngắc ngoải, vật vờ sống. Cỏ cây cũng thế. Thời tiết khắc nghiệt và thời thế nghiệt ngã cứ đổ đè trên vai người dân, như ngay lúc này, bóng cậu và bóng tôi nhập một cứ lung linh trên song cửa lưới toa xe. Tôi nhoài người cố nhìn bên ngoài. Thế giới đen ngòm. Xóa sạch ý niệm.
 Bỗng một ngày cô có cái tên mới, ai đó đặt cho, “nhài” bởi cô thích bụi nhài sau nhà. Lúc bé cô hay ngủ vùi dưới bụi cây. Lớn lên một chút, thích hái hoa sâu thành chuỗi quấn quanh cổ, quanh bụng. Mười sáu tuổi, anh cả gả cô cho người làng cạnh. Làm con gái đã vất vả, giờ gặp thằng chồng vô tích sự, còn phải hầu hạ bố mẹ chồng, và bẩy đứa em chồng. Quần quật như trâu từ mở mắt đến nhắm mắt. Đã thế, hầu không khéo, thì bị đánh đập, nhiếc mắng, hành hạ. Vài lần, quá oan ức, tủi thân, cô mò về làng cũ trong đêm, ngồi dưới bụi nhài sau nhà khóc thút thít. Khóc no, cô lại lặng lẽ quay đầu về lại làng chồng.
 Một chiều cuối đông, cô về lại làng cũ, áo quần nón lá tả tơi, đi chân đất, cái bụng chửa to, quanh người quấn rơm đỡ rét. Cô Nhài đứng, quỳ, ngồi, lạy lục khóc lóc van xin về lại nhà, anh cả nhất định không cho, xua hai tay như xua quỷ, tà ma. Anh vác cây quất vào người cô như đánh chó dại. Cô vẫn đứng lì một chỗ vái, khóc, van xin... Cuối cùng, anh cả chạy ra sân sau, tước nhanh tàu lá chuối, bọc cánh tay cô kéo lôi xềnh xệch ra ngõ, tận ngoài đường cái, tát thêm mấy cái vào mặt, xô cô ngã nhào, cút xéo, đừng hòng về lại đây, lấy chồng thì phải theo chồng, có chết cũng phải chịu, nghe rõ chưa, rõ chưa... đồ thứ vô phúc, vô phần. Anh vừa chửi, vừa đánh, vừa thở dốc. Vào nhà, như chưa hả dạ, anh ra vội sau hè, kiếm cái xẻng, xúc phần đất cô Nhài đã giẫm lên khi nãy, hất đổ ra ngoài đường. Vừa xúc, vừa đổ, vừa thở, vừa chửi tiếp, mày mà về lại đây là tao giết, tao giết...
 Cô Nhài chẳng về lại nhà chồng, làng chồng, mà cũng chẳng bao giờ về lại nhà cũ, làng cũ. Chẳng ai biết cô đi đâu, làm gì với cái thai tám tháng sau buổi chiều cuối đông hôm đó.
 Yêu thương có cần phải học không?
 Hiểu biết, trí tuệ có giúp con người đỡ ra hay tệ đi? Có phải bớt nghèo khổ thì con người đối xử với nhau tử tế hơn không?
 Tôi chập chờn thấy mình trôi tuột theo dòng văn hóa Việt. Trở về nguồn cội, tấm lòng mềm nõn như lá tre lá ổi lá dừa. Sự thủy chung như đất cát ngàn năm phơi mình trong biên giới quê mẹ đất cha. Tôi không có sợi dây nối từng khúc ruột liền nhau, hay cuộn tròn, thắt gút, buộc chặt lòng. Tôi tìm về Việt Nam qua sách vở, câu chuyện kể, kinh nghiệm giòng họ, gia đình và chồng.
 Sinh ra nào ai có được sự lựa chọn quốc gia, chủng tộc, giới tính?
 Bà nội thường lý giải theo cách nhìn của đạo Phật. Một tín đồ sùng đạo, “nghiệp báo, nhân quả” khi bà không có câu trả lời.
 Người đàn bà không đầu đã xé nát tấm ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh, đấng cứu rỗi vất xuống lỗ cầu tiêu, múc nước dội sạch.
 Người đàn bà ngoẻo cổ, con đần, con nhài, cái bụng trương phình như mang trống nay trôi dạt phương nào? còn sống hay đã chết?
 Xác người anh trai kế của Đức có chìm sâu dưới lòng biển khơi?
 Mảnh đất nhiều màu đỏ-trắng-đen-vàng-nâu nhưng nhiều gai và lắm đá sạn. Cây cối phủ bụi, hỗn loạn đa đoan, xương chất thành núi, máu chảy thành sông, muôn vạn hồn, sinh linh sống hay chết đều vật vờ, ngắc ngoải đã, đang và sẽ lướt bay muôn muôn trùng trùng điệp điệp trong nắng chan hòa. Xứ sở không bao giờ thiếu nắng.
 Tôi bỗng nhớ chị Cát Tiên-Catherine, chị họ của tôi.
 Biết chị đang sống ra sao ở thiền viện?
 
 Chị hơn tôi tám tuổi, ra trường MBA ở đại học Columbia. Chị thông minh, lôi cuốn, độc thân, tự lập, tinh thần trách nhiệm. Chị không hút thuốc, không uống rượu, tập thể dục đều đặn. Luôn điều nghiên công việc kỹ lưỡng, có kế hoạch xa gần. Ở với bạn trai hai năm, không hợp chị dọn ra không một lời oán trách. Chị không thích bị ràng buộc, gò bó. Thỉnh thoảng đi du lịch, nhưng việc làm vẫn là mối đam mê chính. Chọn lựa không có con cũng là làm một ân huệ cho nhân loại về sau, tránh bớt nhân mãn, ô uế môi sinh. Một lần, chị nói với tôi như thế. Đêm về, nằm ngẫm nghĩ, chị cũng có lý.
 Chị Cát Tiên, tên Việt Nam, sang tới Mỹ hai bác đổi thành Catherine, sau khi ra trường, chị đổi lại tên Việt. Chẳng như bà cô Nhài của tôi, chẳng có cả cái tên.
 Chị kiểm soát công việc như một phụ nữ trong xã hội kỹ nghệ hiện đại tân tiến. Tốc độ công việc phóng nhanh như xe chạy trên xa lộ, và đổi thay như thời tiết bốn mùa trong năm. Mỗi lần sau khi ăn trưa với chị, tôi thường suy nghĩ miên man trên đường về. Xem ra vẻ độc lập, tự tin bên ngoài của chị có điều gì không ổn, nhưng tôi không phải là chị. Chị luôn mãi mê lo lắng đối đầu giữ chắc công việc, đồng thời tham vọng thăng chức trong hãng. Chị ngụp lặn trong thời khóa biểu kín mít, họp hành, gặp gỡ, đổi trao.
 Điện thoại luôn cầm chắc trong tay. Liên lạc mọi người qua ngã email, theo dõi internet thường xuyên để nắm bắt mọi chuyện, từ kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa gần xa. Chúng xoay chị như cái chong chóng, nhập vào từng bước đi, giọng nói của chị, như thể phải rượt theo một cái gì đó, vừa cần thiết, vừa mong manh, chỉ để khẳng định, tồn tại, không được ngã quỵ. Dừng lại đồng nghĩa thụt lùi.
 Hai tuần trước khi tôi đi Việt Nam. Chị thu xếp đồ đạc đi vào thiền viện nào đó ở New Mexico. Bác tôi gọi cho mẹ và khóc. Nó muốn trút bỏ tất cả, quá mỏi mệt, kiệt sức, mọi thứ nó bỗng thấy đều vô nghĩa.
 Chị đi, mà tôi chới với mất mấy ngày.
 
 
- o O o -

 
 Nửa đêm mở mắt, ngửi mùi thuốc lá trong bóng đêm quyện với hơi thở đàn ông đâu đó, quanh tôi.
 Hắn ngồi yên như thế có lẽ đã rất lâu. Ngồi sát chân tường. Mùi đêm và màu đêm bó rọ thân tôi. Tôi thấy từng bước nhẩy của mình trên sa mạc cát. Cơn bão cát đuổi từ phía sau. Tôi nhắm mắt. Nằm yên.
 Âm thanh từng tia máu trên da tôi từ từ đua nhau nổ tí tách.
 Hơi thở hắn tiến lại gần. Cát cuồn cuộn. Kề cận. Tiếng di chuyển của móng chân mèo đực. Sát kề. Cát bốc xoáy cả một góc trời. Cơn sóng thần.
 Hắn nghĩ gì, muốn gì ở tôi?
 Thân thể tôi cuộn bởi cát.
 Go ahead, get over with! Tôi muốn hét to.
 Tiếng nổ của bắp rang. Bước chân nhẩy của con châu chấu. Hạt đậu xanh nẩy mầm, mọc nhanh thành giá.
 Tôi banh rộng hai chân, buông trôi, để mặc, tận cùng...
 Đầu óc tỉnh táo lạ thường, tưởng chừng vừa ngậm môät họng đầy đá đập vụn, còn tan dần trên đầu lưỡi, tê tê, lan tận óc, óc trắng hếu, khoanh tròn như óc heo.
 Tiếng thở dốc. Tiếng rên nén kềm trong cuống họng. Cứ la hét, cấu chặt... nếu muốn. Chưa bao giờ thân thể tôi mềm mại, rủ mềm đến thế.
 Tôi để mặc, như đêm đang trôi, thời gian đang trôi, lạnh lẽo, vô nghĩa, vô thường.
 Một lần, một lần mà thôi, Đức ơi!
 Một lần, chỉ một lần rồi thôi, Trinh nhé.
 Ước mơ đời người?
 Một lần, làm thân phận người.
 Ngay lúc này, tôi chỉ là con đàn bà trời sinh ra, có cái hang sâu hoắm, hắn đang cần, đẩy đưa thế nào, tôi đang có mặt nơi chốn này.
 Một điếu thuốc khác lại được đốt cháy. Hắn vẫn ngồi sát chân tường. Mắt bóc từng mảnh da, vẩy trên thân thể tôi. Nước bọt hắn trào nổi bong bóng ra ở hai khóe họng, nuốt ực, cố không gây tiếng động, dù rất khẽ.
 Bất cứ người đàn bà nào muốn cho, dâng hiến, bố thí điều gì, dù lớn hay nhỏ cũng vướng mắc sự rắc rối, muộn phiền.
 Nhưng sao tôi vẫn thiết tha cho, dâng hiến, bố thí một cái gì, từ xác thân tôi.
 Thân cây gẫy đổ trong rừng sâu, nếu không có ai hiện diện, thì có ‘tiếng động’ không nhỉ?
 
 Cái đầu hấp dẫn hay thể xác hấp dẫn?
 Trả lời hộ tôi.
 Trinh. Đức.
 Những con thiêu thân đâm đầu vào lửa chỉ để rã cánh.
 Con cá vì miếng mồi mà cắn phải lưỡi câu.
 Nhụy thơm làm con ong tắt thở trong cánh hoa.
 Ý chí và lòng khát khao.
 
 Tôi suy nghĩ đến hai chữ bình đẳng. Lời phát biểu để đời của cố tổng thống Thomas Jefferson, Con người được sinh ra bình đẳng – All men are created equal. Về lại nơi chốn này, chẳng có người da đen để giải phóng nô lệ, nhưng tôi bỗng nhận thức ra rằng, muôn đời không thể ‘là’ mà ‘nên’. Nên đã quá khó khăn. Mọi người sinh ra đều nên có cơ hội tìm kiếm hạnh phúc, nên được quyền vươn lên để tiến bộ. Đứa bé này sanh ra đã mang chứng AIDS từ trong bụng mẹ, đứa bé kia sanh ra đã là con của tỉ phú Bill Gates. Làm sao mà ai cũng như ai. Làm sao san bằng mọi dị biệt. Làm sao cào bằng để giống nhau. Một câu nói lúc còn bé nghe từ miệng người lớn, tôn giáo nào cũng hay cũng tốt cũng dạy con người làm điều lành, điều thiện, tránh xa điều xấu, điều ác. Thế tại sao lịch sử nhân loại lại luôn có thánh chiến?
 Bởi không bình đẳng khi lọt khỏi lòng mẹ nên ai cũng cứ luôn cố gắng, làm tất cả chỉ để được có cái quyền tiến bộ, được sự có mặt. Cao hơn một nấc là mong được sự đóng góp. Qua rồi cái thời mộng mị một xã hội lý tưởng, “Làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu.” Hứa hẹn “sỏi đá cũng thành cơm.” Bình đẳng, thế sao lương thủ tướng Phan Văn Khải cao hơn ông đạp xích lô ở sát cạnh nhà, sức lực đổ ra chưa chắc ai ít hơn ai. Cái lăng ông Hồ Chí Minh lính gác cấm được nhúc nhích, còn cái mả anh Tịnh, cỏ dại che luôn cả tấm ảnh. Người sống không bình đẳng, khi chết, lại càng không.
 Cách đây không lâu, đứa cháu gái mười sáu tuổi hỏi tôi, khi nào mình biết mình trưởng thành hả cô? Tôi ngẫm nghĩ một lát, khi cháu bắt đầu biết suy nghĩ kỹ. Về nhà, tôi đã quên không nói thêm với nó, và có trách nhiệm với mọi việc mình làm.


Chương 12




blank





Không hiểu sao tôi lại gật đầu nhận lời đi cùng Trinh ra nơi chốn vắng vẻ này? Con người, thú vật, xe cộ, tiếng động ồn ào bỏ dần sau lưng. Càng tiến sâu vào trong vách núi, bước chân người càng thưa thớt dần. Tiếng nước chẩy róc rách. Vài người ngồi giặt quần áo, Kinh lẫn Thượng, như màu đá thẫm giữa màu đá nhạt. Cả hai tiến vào sâu hơn, đá cát, cỏ khô lạo xạo dưới chân.
 Em quên không mang theo quả trứng, có chỗ nước nóng có thể luộc chín được.
 Trinh không biết tôi là đứa rất ghét trứng, lại là trứng luộc.
 Càng vào sâu tôi càng tự hỏi. Sao mình đi cùng Trinh vào nới đây?
 Cây cối thổi ra gió, khói bốc từ những hốc nước. Lá khô, gió khô, cả nắng khô khốc đổ túa lên cả người tôi. Dừng, thở dốc, tôi chẳng cần phải đi tìm cái ‘sức nóng.’ Nắng đang quấn chặt người tôi. Tôi bỗng mệt nhoài, cảm giác như thân cây vừa bị đốn ngã. Nằm bệt xuống đất. Trời chao lượn trên cao, mặt trời rực máu.
 Tia mắt Trinh quét trọn người tôi, từ sợi tóc đứt ngắn chĩa trên đỉnh đầu đến gót chân dính toàn bụi cát. Quét một lượt, rồi dừng lại nơi chốn phải dừng ‘suối khe, gò bồng đảo.’ Miếng táo Adam trồi trục trơn trợt như viên chè trôi nước. Tôi chợt phì cười, thấy mình vô duyên tệ.
 Nhạy cảm, mày là đứa quá nhạy cảm. Phải, đã nhiều lần giúp tôi bay cao, như chim, mở toang cánh cửa thiên đường, ngụp lặn trong bể hạnh phúc tuyệt đỉnh. Đồng thời, cũng đạp xô tôi xuống tận đáy đen địa ngục, đớn đau, tủi nhục, ê chề biết bao.
 Hai mắt Trinh vẫn liếm dọc, ngang trên người tôi. Mỗi cái quét mắt là một vết cứa. Bốn bề vắng lặng, chỉ gió, đất đá, cây cối, sức nóng và tiếng nước róc rách. Tôi nghĩ đến mảnh da vá chằng chịt nhàu nát khâu vội. Trả thù cho sự bất công. Ừ, cứ đè đại xuống. Hất tung. Bất chấp. Phá hủy. Đòi hỏi giữa người và người.
 Tưởng tượng, mày là đứa giàu tưởng tượng. Một cái gì đó đâm phập vào cửa mình tôi, hốt hoảng, hả dạ, cười, bặm chặt môi, mắt long lên, trợn ngược, chỉ toàn màu đờm. Mẹ kiếp. Fuck you! thì đã sao. So what? Đã chứ, đụ má nó, cuộc đời. Bình đẳng nằm ở đâu? chỉ toàn nghiệp chướng. Tại sao phải là thằng Trinh này, kẻ bị trừng phạt. Tại sao? Đụ má, kệ, tới đâu tới, ha ha, ha ha... Thân xác và đầu óc. Một chấm đen li ti, u mê và tỉnh táo. Hạt bụi nổi bật trên tấm giấy trắng phau học trò. Màu trắng vô nghĩa. Quỷ ma rình rập. Khổ đau là thật. Chắc chắn như chết. Hấp dẫn như phá hủy. Chiến tranh, ừ phải, trong chiến tranh: từ bi, tình yêu, tha thứ là xa xỉ phẩm.
 Vấn đề là hoàn cảnh, cơ hội, thuận tiện, có dịp.
 ... sự có dịp của một đời người đang xảy ra ngay trong khoảnh khắc này, tại nơi đây.
 Sự trả thù đời.
 Sợ hãi làm bụng tôi trương cứng như đàn bà chửa. Mùi mồ hôi từ nách bốc ra, gần-gũi-ấm-êm-dỗ-dành-trìu-mến.
 Nếu hắn đè mình ra ngay lúc này, tại nơi đây? Dám lắm, tại sao không? Mắt hắn vẫn như mặt chổi quét lia lịa trên người tôi. Đôi mắt đắc chí của gã thợ săn dốt nát, mới đi rừng ngày đầu, nhưng vận may, gặp con mồi béo bở. Tay hắn cầm cọng cỏ khô, vuốt qua vuốt lại trong lòng bàn tay, như liếc dao sẵn sàng cắt cổ vịt.
 Yên lặng và bóng tối, đầu con rắn hổ mang không nhúc nhích di động, nhưng hai mắt chòng chọc vào bị thịt. Bị thịt là tôi, chỉ cần tiếng động khẽ, nhích nhẹ, mỏ rắn mỗ ngay tròng mắt, tôi.
 Tôi bật dậy, nóc hòm bật tung. Đi, đi về...
 Trinh vất nhanh cọng cỏ khô.
 Chị nằm nghỉ một lát cho đỡ mệt, mình chưa vào trong coi...
 Tôi mệt quá! Đi về.
 Tôi nói nhanh, mê man trong từng bước chân vội vã, vươn dài.
 Bước chân Trinh cũng vội vã, vươn dài.
 Trời lóa nắng, chói chang, khô khốc. Xứ sở chẳng bao giờ thiếu nắng. Tôi thấy bóng người đàn bà đứng sẵn ngoài cổng ngóng chờ tôi.
 Tôi ngã người vào lòng bà, chạm phải trái tim ấm nồng, mềm mại. Mẹ, tôi gọi.
 Cái đầu bà đã mọc. Nhưng mọc ngược.
 
 Không thể, không nên đem suy nghĩ đời mình ra xét đời trước. Cũng như, đời sau nghĩ sao, sống sao là chuyện của họ. Thời tiền sử nhe răng xé thịt sống. Thời mình ăn rau đậu, trái cây, tránh thịt như tránh bệnh tật.
 Về lại chốn này, tựa cuốn phim quay chậm. Đoạn còn đoạn xóa sạch. Đi qua vùng đất, giẫm chân lên dấu chân cha ông đã hằn in trên đoạn đường Nam tiến, trong cảnh chiều tà, những tháp Chàm, di tích một thời hiển hách, uy nghi nay rớt rơi, sót lại. Đêm ở Huế, tôi bận quần cụt, áo ngắn tay, ngồi cùng vài người khách phương tây chơi trò thả đèn xuống dọc dòng Hương giang. Trời đêm, nước sông óng ánh đen tuyền như màu quần sa tanh của người đàn bà ngồi tựa mạn thuyền ca bài Nam Bình. Chân, tay, miệng, mắt, giọng... trôi theo cung đàn nhịp phách.
 Nước non ngàn dặm ra đi, mối tình chi
 Mượn màu son phấn, đền nợ Ô Ly
 Tình đem mà cân
 Đắng cay trăm phần.
 Chị tôi ngày chưa lấy chồng, hay ngân nga dỗ dành, vuốt ve tự ái sau những mối tình gẫy đổ qua đướng, không như mối tình làm nên lịch sử của Huyền Trân công chúa bảy trăm năm trước.
 Cũng không bằng... thương nhớ người
 mới hay tình nhẹ như... tơ
 Chữ tơ chị kéo dài, thật dài.
 Còn bé, hay tin điều người lớn truyền dạy, “thằng Mán, thằng Mường. Vàng chì lẫn lộn. Lũ Hời...” Lớn lên, nhận thức ra rằng, tiền nhân ta kiêu ngạo quá lố, tự tôn quá đáng. Chiêm Thành xứ sở thời đó văn hóa cao, đồng thời không kém phần lãng mạn, tự chọn bông hoa sắc trắng, có mùi hương đặc biệt đặt tên cho xứ sở mình. Chiêm Thành đã thuộc về tiền kiếp, và tháp Chàm giờ đây, tựa như nghĩa trang tích tụ, ẩn náu cho những oan hồn bay bổng trong không gian. Mỗi viên gạch là một linh hồn. Áp sát tai, nghe tiếng thì thầm rên rỉ ru hời. Gió hú từng cơn trên đỉnh tháp, âm khí lạnh lẽo, mây đen đùn về tứ phương. Tháp phơi sương sớm, nắng gắt, mưa rào, trăng chiếu sáng trôi hằng bao thế kỷ.
 Ngày trước, vua cha mộ đạo Phật như Trần Nhân Tông cũng cậy nhờ con gái để bành trướng lãnh thổ, mở mang bờ cõi.
 Ngày nay, phụ nữ Việt Nam tự chọn đàn ông ngoại quốc làm chồng. Đủ mọi giống dân, màu da, ngôn ngữ.
 Lịch sử văn minh nhân loại, đàn bà quả là khai phóng, khai hóa, dám phá bỏ biên cương, lãnh thổ, nhấc chân ra khỏi lũy tre làng. Đàn ông luôn cố giữ gìn, duy trì sợ mất giống, mất gốc, sợ bị đồng hóa. Bằng mọi cách, phải kiếm cho được thằng con trai để giữ cái họ, dù rằng, trong quá khứ, cái họ, đã nhiều lần bị đổi.
 Mối bi kịch của đất Chiêm Thành.
 Sự thất tín của người Việt Nam.
 Dù sao, công chúa Huyền Trân không bị tuẫn táng trên hỏa đàn, mà được cùng người tình Trần Khắc Chung lênh đêm trên sóng nước hơn một năm, thời gian dài hơn làm bà hoàng hậu xứ Chàm với mỹ hiệu Parameshvari, Nữ Thần Tối Thượng.
 
 
- o O o -

 
 Thập niên 60, những người nồng nhiệt tham gia chống chiến tranh Việt Nam. Thắp nến đi vòng quanh trong sân trường, dưới lòng bàn chân là thảm cỏ mướt mịn, miệng gào to, “make love, not war!” Họ là thành phần phản chiến, thân cộng, ủng hộ Hà Nội. Mary McCarthy, Susan Sontag, Joan Baez, Jane Fonda... cùng hàng vạn người khác. Gờ đây, xong việc, trang sử đã lật, họ cũng như hàng vạn người khác trôi theo tuần hành sinh lão bệnh tử. Jane Fonda qua tay ba đời chồng. Mary McCarthy đã chết. Susan Sontag trải qua cơn bệnh ung thư ngực. Joan Baez giải nghệ. Và còn ai nữa? Đất nước Mỹ vẫn giàu, vẫn mạnh, vẫn quyền lực. Những công ti to nhỏ giờ đây đi bằng máy bay vào thẳng phi trường Nội Bài, thay vì đổ bộ vào hải cảng Cam Ranh. Peterson thời chiến là tù binh Hòa Lò. Thời bình là đại sứ thong dong đạp xe đạp quanh 36 phố phường Hà Nội, được quan quyền kính cẩn bẩm thưa.
 Một chị bạn tôi quen biết, có người xúi chị ra CD vì nghe giọng chị hát karaoke... hay. Chị bỏ việc làm, dốc hết tiền để dành ra cho được đĩa nhạc. Sau một năm, đĩa bán chẳng ai mua, không ai nhắc nhở, người xúi chị ra CD cũng chẳng nhớ đã từng khen, chị trắng tay, đắng cay trở về nghề cũ, ca sĩ một sớm một chiều trở thành giấc mộng. Hát karaoke chơi chơi cho vui khác nghề ca sĩ thực thụ. Một anh bạn khác, rủ bạn bè đến nhà ăn, được bạn bè khen món phở anh nấu ngon, đồng thanh đồng lòng xúi anh, mày nên mở tiệm, ngon đứt thiên hạ. Thế là anh dốc hết tiền để dành, cầm nhà mượn nợ trên trăm ngàn, quyết chí mở tiệm. Những người bạn ngày trước đồng lòng khen chỉ tới ngày đầu khai trương ăn free, sau đó quên tuốt, chẳng còn ai nhớ. Phở nhà nấu khác phở tiệm. Cái giá phải trả cho những lời khen phù phiếm là mất toi trên trăm ngàn đô, lại còn bị vợ li dị. Thiên hạ khen rồi chẳng nhớ. Họ về nhà sống đời họ. Hai người tôi quen biết sống vì lời khen của thiên hạ, chẳng phải vì ý thích riêng của mình.
 Việt Nam trả giá cho trò chơi trí thức của vài người nghĩ ra, luôn áp dụng mọi chủ nghĩa, chủ thuyết một cách sốt sắng, kỹ càng, tới nơi tới chốn. Chủ nghĩa Cộng Sản, hậu quả giờ là một trong những nước nghèo dốt nhất. Thủ tướng nước ta là chuyên viên đi xin tiền và khất nợ.
 Không phải lúc nào cũng cả tin như chiếc áo tơi, mưa gió tạt hướng nào ta che hướng đó. Không phải đơn giản như lời Trinh nói ban trưa, em bắt chước mẹ, nóng trong người thì nấu canh rau má ăn cho giải nhiệt, mà lạnh trong người thì ngậm gừng cho ấm bụng.
 Áo tơi mưa, rau má hay gừng thì kiếp này,
 Mặt Trinh rách vẫn là rách
 Mẹ mất trí
 Và thằng Út không thể chạy được.
 
 Tôi gọi điện thoại nhắn chị Hạnh, anh Sơn, về Dục Mỹ gấp.
 Tôi quyết định rời Dục Mỹ sớm hơn hai ngày.
 Phá hủy ước lệ, bẻ sập hàng rào. Phiêu lưu, mạo hiểm, thí nghiệm, khám phá để đón nhận nguy hiểm, bất trắc.
 Nhưng ngu xuẩn không phải bao giờ cũng có lý do để biện hộ, bào chữa, mà là sự thật.
 Tôi còn Đức, còn đứa con trong dự tính. Căn nhà với mái ngói nâu non, những chồng CD xếp hoài không bao giờ gọn, hàng rào có hoa tím leo, mỗi năm nở hai mùa.
 Khôn ngoan, tỉnh táo, sáng suốt, sử dụng cái đầu. Tôi nói với tôi, ôm xiết vai mình.
 Chiều sâu của lý trí – Chiều sâu của tình cảm.
 Và sức mạnh của bản năng.
 Tôi phải chuẩn bị, một ngày, Alyssa nếu muốn, con tôi nếu có. Chúng hỏi tôi phía bên nội, tìm về gốc gác, cội nguồn. Tôi sẽ dẫn chúng về đây, kể cho chúng nghe, tựa câu chuyện cổ tích dân gian, huyền thoại hoang đường. Ngày xửa ngày xưa... bà nội một ngày quyết định trở thành người mất trí để khỏi phải tiếp tục hứng chịu mọi oan khiên nghiệt ngã. Đừng tưởng rằng, người đàn bà chân quê, sức chịu đựng là vô biên, không đáy. Bà nội cũng là người, đừng phong bà làm thánh sống.
 
 
- o O o -

 
 Đêm cuối cùng, mưa không rả rích, không làm đất mục rã.
 Và giấc mơ.
 Trong giấc mơ, cuộc đời là đẹp. Tôi sống như hằng mong muốn, ước ao. Tôi lăn giữa con người.
 Tôi ngồi cạnh Trinh trên ngọn đồi cỏ mượt màu ngọc bích. Gió thổi nhạc, hoa dã quỳ vàng rực nỗi hân hoan bất tận. Những người tôi quen biết đều mang màu da dưới ánh lửa bập bùng.
 Trong giấc mơ, cuộc đời là đẹp. Người đàn bà không đầu là cô giáo dạy tôi năm lớp bốn, thương quý vô ngần. Mắt cô trong vắt, lông mi rậm rạp, môi luôn mỉm cười, dáng người đẫy đà, mềm mại, nhân ái, màu da dưới ánh lửa bập bùng.
 Trong giấc mơ, cuộc đời là đẹp. Người đàn bà mất dấu, phía trước mặt là con đường rộng mở. Mặt đất lót đá men xanh. Từng bước chân bà chắc nịch, bám sát mặt đường, mặt ngước ngửa, không gian mở ra theo từng bước chân
 Tôi thức dậy. Đối diện là cái trần nhà. Bên phải bên trái là khoảng không, bất tận.
 Thức dậy, cuộc đời là trách nhiệm, bổn phận.
 Tôi nghĩ đến câu chuyện đọc trên báo Tuổi Trẻ. Nhà báo hỏi cụ già chín mươi chín năm sống trên đời, trải qua cuộc chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ, Nam-Bắc phân tranh. Sắp từ giã cõi đời, điều gì nặng nề nhất đối với cụ?
 Tước bỏ huy chương, tước bỏ sứ mạng, tước bỏ anh hùng.
 Cụ trả lời.
 Chín mươi chín năm làm người Việt Nam. Giờ phút lìa đời, tự tột trần huy chương trước ngực, nơi kề cận con tim nhất, không thể bảo là không thật, dù là lời nói thành hình trong vô thức hay ý thức.


Chương 13




blank


Chữ SÁT to dựng cao trên con lộ chính vô, ra của đất Dục Mỹ. Chỉ những người ngủ gật, lơ đễnh, hoặc mất hồn mới không nhìn thấy.
 Dấu tích còn lại của thời chiến. Đã là biểu tượng cho sự thúc giục, nhắc nhở hàng trăm ngàn thanh niên ghi lòng tạc dạ. Sát là giết, là tiêu diệt, là giết người, giết mình.
 Thành tích kiêu hùng của một thời đào tạo biết bao anh hùng trong chiến tranh, trên chiến trường.
 Ngôi nhà chứa ba người sống và hai ngôi mộ ủ xương người chết, cũng là chứng tích, tàn tích, di tích, thương tích của một gia đình trong một xứ sở.
 Chữ SÁT nay gần như bị xóa nhòa. Thời gian dự phần, thời thế dự phần, và bàn tay con người dự phần.
 Xa xa, dãy núi với dáng người con gái sớm thành đàn bà nằm xõa tóc mời gọi trong trí tưởng tượng của hàng trăm tân binh vừa vỡ giọng, lông râu tóc chưa mọc đủ, đều. Mỗi đêm, nhìn ánh hỏa châu lãng mạn hóa là ‘hoa đăng ngày cưới’ rồi tự dỗ lòng hy vọng ‘khi chiến tranh hết rồi, tương lai ta nhịp lối...’
 
 
- o O o -

 
 Xe đổ dốc trườn bò lên đồi, băng qua biết bao ổ gà lớn nhỏ. Con đường trở ngược, giật lùi, về lại.
 Lần lượt hiện trong tôi bao khuôn mặt cùng mất mát, dứt lìa, chia ly.
 Gió thổi bốc mùi muối mặn phả cả không gian. Triền núi san sát. Triền núi xa xa. Nắng chan hòa. Xứ sở không bao giờ thiếu nắng.
 ‘... cao ngất trường sơn ôm ấp tình thương nước rã sông buồn tìm về biển đông tình yêu thành sông thái bình dương tuổi đời qua mau gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi nên năm mười tám tuổi tôi đi vào quân đội mà lòng thì chưa hề yêu ai...’ Cây mọc ngàn năm không cao quá đầu người, rễ bám sâu vào đất, đá. ‘... người yêu tôi tôi mới quen mà thôi lúc dừng chân trên...’ Ngôn ngữ thấm vào đất cát, sông ngòi, rễ cây. Trong cơn gió, tẩm mùi Trinh, khét lẹt thuốc súng, phả hơi nửa khuôn mặt Trinh vá vội. ‘... mẹ là mẹ trùng dương gào than từ bãi trước ghềnh sau...’ Trinh, Trinh ơi! Tôi bật khóc, vỡ òa, lần đầu từ ngày về lại Việt Nam. Thở trong gió tôi ngửi được vị mặn của muối, nước mắt, mồ hôi, máu. Hai nấm mộ hoang sau hông nhà, ướt đẫm mưa đêm, trong đầu mẹ, là mộ con gái con trai, là chồng. Tiếng nạng gõ lộc cộc trên thềm xi măng xa dần, thưa dần.
 Lời nhạc thấm vào từng thớ thịt.
 Nước mắt thấm vào miệng, vị mặn của đất.
 Ba người ngồi trong xe, chị Hạnh, anh Sơn, chú Biền tài xế im lặng ái ngại. Chẳng ai hay biết, nghĩ rằng tôi khóc vì lời của bài hát, từ băng casette.
 
 Đã hai tháng trôi qua kể từ ngày tôi rời Việt Nam trở lại Mỹ. Tôi bắt đầu câu chuyện kể, như câu nói nghe nhàm tai, ta không thể tắm được hai lần trên một dòng sông. Nhưng đớn đau cứ lặp lại trong đêm thanh vắng. Cũng tiếng mưa rơi, nhưng không là mưa xa, mà mưa trên những nhánh sồi, trên mặt cửa kiếng khung cửa sổ rộng.
 Tôi khởi đầu kể lại câu chuyện vào một buổi sáng mưa. Mưa không ngớt mấy ngày nay. El Nino xối phủ tràn nước trên khắp nẻo đường Bắc Cali. Mưa đang rơi nặng hạt ngoài kia. Sáng nay là sáng thứ hai đầu tuần, đầu tháng, và đầu năm.
 Tháng ngày trôi qua. Cuốn truyện đã xong. Câu chuyện đã kể, đã phơi bày. Tôi viết như trút bỏ trên vai gánh nặng ngàn cân.
 Bước chân tôi đi nhẹ nhõm hơn.
 Sẽ chẳng bao giờ có câu hỏi, sao anh không bảo lãnh họ sang đây? Tôi đã tự đi tìm cho mình câu trả lời, dù không thỏa mãn và biết đúng hay sai. Như câu hỏi, sao mẹ lại tắt tiếng nói. Hoặc, còn có giấc mộng nào trong giấc ngủ mẹ không? Giờ đây tôi hiểu anh hơn, trong sự trầm ngâm bất chợt giữa ban ngày, hoặc hàng loạt lời nói dài trong đêm khuya, ngôn ngữ của riêng anh, dù thức dậy, không biết anh có biết không?
 Tôi vẫn phải sống với những buổi sáng có mưa hoặc không mưa. Có khi vui, có khi buồn. Lắm lúc lòng rỗng như bơi trong tinh cầu gió.
 Tôi vẫn phải sống thôi, như một trong hàng tỉ tỉ tỉ hạt cát lăn-lóc-trôi-giạt-vất-vưởng trên lãnh thổ biên cương đất nước Việt, nơi đưa tôi ra với đời sống này. Nơi chẳng có gì, ngoài lòng yêu thương và sự chết.
 Nơi chan hòa nắng. Xứ sở không bao giờ thiếu nắng.
 

Lê Thị Thấm Vân
(hết)



Thịt Da Ấy Ngát Hương Tình Nữ. Thơ Trần Yên Hòa. Nhạc Lê Tấn Dương

 

_________________________________________________




Mời đọc Quảng cáo


Mua Bán Nhà




blank

 


Nha Khoa

 


blank