DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,402,772

Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh (tiếp theo và hết)

Sunday, January 30, 201112:00 AM(View: 16020)
Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh (tiếp theo và hết)


Hồi ký Nguyên Đăng Mạnh (tiêp theo và hết)


Chương XI: Hoài Thanh

Tôi được tiếp xúc với Hoài Thanh nhiều lần.

Hồi công tác ở một cơ quan của Tỉnh đảng bộ Thái Nguyên, tôi đã được

nghe ông nói chuyện về thơ kháng chiến, tại một địa điểm ở thị trấn Phúc Trìu.

Tiếp đó tôi học ở trường sư phạm trung cấp trung ương (đóng ở Chợ Ngọc,

Tuyên Quang). ở đây tôi lại được nghe ông nói về đề tài ấy một lần nữa. Cả hai

lần đều vào năm 1949.

Khi tôi về học ở Đại học sư phạm Hà Nội (từ 1957 – 1960) thì ông đến

dạy mấy bài về văn học Việt Nam thời trung đại: Kiều, Cung oán, Hoa Tiên,

Phan Trần...

Sau này, được giữ lại làm cán bộ giảng dạy đại học, lúc đầu ở Đại học

Sư phạm Vinh, sau ở Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi luôn đến ông để hỏi về tình

hình văn học thời trước cách mạng tháng Tám và về kinh nghiệm phê bình văn

học (Khi ở Nguyễn Thượng Hiền, khi ở Trần Quốc Toản).

Hầu hết những ghi chép của tôi về ông, tôi đã sử dụng trong bài chân

dung đặt tên là “ Hoài Thanh, con người sinh ra để đọc thơ, bình thơ”.

ở đây tôi chỉ xin ghi một số điều về ông mà tôi chưa có dịp viết ra hoặc

viết ra chưa đầy đủ.

Có lẽ một trong những điều khổ tâm nhất của Hoài Thanh là hầu hết các

cây bút cùng thời với ông và cùng theo cách mạng như ông, đều gọi ông là

“thằng nịnh” (Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên...)

Cho nên Xuân Sách có thơ:

Vị nghệ thuật nửa đời người

Nửa đời còn lại vị người cấp trên.

Tôi nghe nói, hồi kháng chiến chống Pháp, ở chiến khu Việt Bắc Hoài

Thanh luôn luôn sát cánh với Tố Hữu, luôn gần gũi trò chuyện thân mật với Tố

Hữu, trong khi anh em khác thường lảng đi chỗ khác, sợ mang tiếng cầu thân

với cán bộ lãnh đạo. Tâm lý anh trí thức thường như thế. Và họ phản ứng với

thái độ của Hoài Thanh.

Tôi thì cho rằng, Hoài Thanh là con người sống bằng tình cảm. Hồi

cách mạng tháng Tám, ông ở Huế. Lúc ấy Tố Hữu còn rất trẻ mà đã làm chủ

tịch uỷ ban khởi nghĩa của Huế. Một thanh niên vào tù ra tội, lại là một thi sĩ

thật sự và cũng mê Kiều như ông, hợp với ông, nên ông phục lắm. Tố Hữu cũng

rất quý và tin cậy Hoài Thanh. Khi được gọi ra Bắc để lãnh đạo văn nghệ, người

đầu tiên Tố Hữu cần gặp là Nguyễn Tuân. Tố Hữu đã nhờ Hoài Thanh đến

Nguyễn Tuân, thương lượng và hẹn thời gian, địa điểm gặp (Nguyễn Tuân hẹn

gặp ở nhà hàng Thuỷ Tạ bờ hồ Hoàn Kiếm). Tố Hữu còn là chỗ dựa về chính trị

của Hoài Thanh nữa.

Từ Sơn, con Hoài Thanh, có lần nói với tôi: có một bữa, ông Hoài

Thanh nằm trên giường, có vẻ mệt. Bỗng ông nói với con: “Cha mà không có

anh Lành thì Bùi Công Trừng nó giết cha rồi!” Té ra là thế! Cái chuyện vị nghệ

thuật, vị nhân sinh có chết ai đâu mà những ông cộng sản làm to chuyện thế, và

thù dai thế! Người ta đã đi theo cách mạng, theo kháng chiến bao năm rồi mà

vẫn không tha (cho mãi đến kỳ tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996), họ

cũng không tặng cho Hoài Thanh, trong khi sẵn sàng tặng cho Hà Xuân Trường,

Hồ Tôn Trinh, tuy sự nghiệp của hai vị này có đáng gì đâu so với Hoài Thanh).

Tôi cứ nghĩ mãi, không hiểu sao, đối với trí thức, các ông cộng sản lại hẹp hòi

và ngu xuẩn đến thế. Chính các ông ấy, đã làm hại cách mạng nhiều lắm.

Anh Từ Sơn còn cho biết, hồi Hoài Thanh phụ trách tuần báo Văn nghệ.

Có một số báo, trang đầu in ảnh Trường Chinh. ảnh bị cái tít in quá đậm ở mặt

sau làm mờ đi. Trường Chinh gọi Hoài Thanh đến nói: “Anh in ảnh tôi như thế

này à?” Hoài Thanh sợ quá, cứ đi lang thang ngoài đường, vô cùng hoang

mang. Cái án vị nghệ thuật trở thành cái án chính trị, vẫn như lưỡi gươm lơ lửng

treo trên đầu.

Đúng vậy, Hoài Thanh là con người chủ yếu sống bằng tình cảm. Cái

tạng ông nó thế (Người ta từng cho ông thuộc loại phê bình tình cảm - để phân

biệt với phê bình lý trí, phê bình khoa học chủ nghĩa scientisme). Cho nên, ông

có quan hệ đặc biệt với Tố Hữu, viết rất say sưa về thơ Tố Hữu, tập thơ nào

củaTố Hữu ra đời cũng lập tức có một bài phê bình rất tâm huyết của ông. Đó,

cũng là do cái nợ tình, nợ nghĩa mà ra.

Nhưng cái: “án chính trị vị nghệ thuật” chắc cũng làm cho ông phải lên

gân lên cốt khi phủ nhận triệt để Thi nhân Việt Nam:

Thi nhân còn một chút duyên

Chẳng cầm cho vững lại lèn cho đau.

(Xuân Sách)

Chẳng lẽ một con người giầu tình như ông mà lại dễ dàng dứt tình với

đứa con tinh thần mà ông đã gửi cả tâm hồn vào đấy. Từ Sơn nói, cuối đời, có

lần Hoài Thanh nói với anh: “Nhờ có cuốn Thi Nhân Việt Nam mà người ta mới

coi cha là một nhà văn”.

Vậy mà ông lại phủ nhận Thi nhân Việt Nam (Nhìn lại phong trào Thơ

mới và cuốn Thi nhân Việt Nam) đến mức Trần Huy Liệu cho là quá đáng, và

Tố Hữu thì nói: “Hoài Thanh đã tát mình đau quá”.

Cho nên tôi vẫn cứ ngờ ngợ thế nào về cái thái độ quá cứng, quá tả của

Hoài Thanh. Tiếp xúc với ông, thấy ông luôn luôn nói lập trường cách mạng,

lập trường giai cấp. Phải có tình cảm đúng, tình cảm đúng là tình cảm của giai

cấp công nhân. Ông tỏ ra rất phục các lãnh tụ cộng sản, coi phát ngôn của các vị

ấy là chân lý mình phải lấy làm chuẩn, kể cả những phát biểu về văn chương.

Và ông không viết về các nhà Thơ mới nữa, mà chỉ chăm chăm viết về thơ Hồ

Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, hay các cây bút đang chiến đấu ở miền Nam

như Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, Anh Đức... Cứ như là mỗi bài viết phải là một

cuộc chiến đấu về tư tưởng theo gương những người cộng sản. Không biết ông

có thật sự tin ở những điều mình nói, mình viết hay không – tôi cứ ngờ ngờ thế

nào ấy.

Nhưng ý kiến của Hoài Thanh bên cạnh “phần cứng” cũng có những

“phần mềm”. ấy là khi ông phát biểu về những đối tượng khác. Nhiều nhận xét

của ông khá thẳng thắn, không dè dặt, né tránh.

Có lần ông nói với tôi về Viện văn học và tờ Tạp chí văn học do ông

phụ trách (Lúc này Hoài Thanh làm Viện phó Viện Văn học, thư ký toà soạn

Tạp chí văn học): “Viện văn học của chúng tôi làm sao có uy tín được như Tự

lực văn đoàn ngày trước. Nó đưa ai lên là được lên. Nó hạ ai xuống là phải

xuống”

Bây giờ ta đang chống Mỹ (1967), tạp chí của chúng tôi vẫn ra được

đều đều là coi như thắng Mỹ rồi. Mỗi số ra được đúng kì hạn là một trận

thắng... Chứ thực ra nhiều bài có chất lượng gì đâu. Tôi khổ với các ông HMĐ,

HSV quá, chữ nghĩa, câu văn, tôi cứ phải sửa rất nhiều mới đăng được.

Ông nói về Chế Lan Viên: “Chế Lan Viên sắc sảo, nhiều sáng tạo khá

hấp dẫn. Nhưng tôi cứ lởn vởn ý nghĩ về chỗ trung thực của anh. Cuốn Thi

nhân Việt Nam của tôi có nhiều sai lầm. Nhưng điều tôi ân hận hơn cả là đã

qúa khen Chế Lan Viên. Thực thì chắc có thực, nhưng có thực đến mức ấy

không? Có thật “Hồn ai trú ẩn ở đầu ta”, có thật có “tâm hồn Chàm” thế

không? Có muốn trốn lên “một tinh cầu giá lạnh” thật không? Xuân Diệu thì

chân chất, thật thà.

Về Nguyễn Đình Thi, ông nói vắn tắt: “Chưa bao giờ tôi đánh giá cao

nhân cách của Nguyễn Đình Thi”.

Hoài Thanh cũng đánh giá rất thấp con người Huy Cận: “Có người

nhân cách tốt nhưng thơ lại không hay, như Thanh Tịnh. Có người nhân cách

kém mà thơ lại hay, như Huy Cận”. Đây là ông nói Huy Cận trước cách mạng,

Huy Cận “Lửa thiêng”. Thơ Huy Cận sau cách mạng, ông cho là tầm thường

(vulgaire) – Trong tập Di bút, ông có ghi lại cuộc trao đổi của ông với Trường

Chinh ở chiến khu Việt Bắc hồi kháng chiến chống Pháp về Huy Cận. Họ thống

nhất với nhau: thơ Huy Cận vulgaire (Khi in tập Di bút thành sách, anh Từ Sơn

ngại đụng chạm nên cắt bỏ đi, cả ý kiến của Hoài Thanh về văn của HMĐ nữa).

Còn với tôi, ông nói: “Huy Cận xưa hay hơn bây giờ. Bây giờ cũng có bài hay

nhưng ít, càng làm càng dở. Xưa trong cái u uất nặng nề, anh chàng 16, 17 tuổi

đó có nhìn thấy một góc, một khoảng trời rất trong, rất thơ.

Nay có thể là tâm hồn không u ám nữa, tiến bộ, nhưng không có được

khoảng trời rất trong như thế nữa.

Nguyễn Tuân không ưa Hoài Thanh, nói về ông nhiều câu rất ác.

Nhưng nhận xét về Nguyễn Tuân, thái độ của Hoài Thanh vẫn rất công bằng:

“Nguyễn Tuân địch có thể lợi dụng, như trước cách mạng, nó tặng anh ấy giải

thưởng Alexanơre de Rhodes – Sau cách mạng thì bọn Nhân văn lôi kéo. Nhưng

Nguyễn Tuân không bao giờ hạ mình làm những điều phi nghĩa. Nguyễn Tuân

không phải Nhân văn, không bê tha truỵ lạc trong sinh hoạt như cánh Nhân

văn. Nguyễn Tuân thích phát hiện những cái lặt vặt, thứ yếu vì cho rằng những

cái quan trọng ai cũng biết cả rồi. Nguyễn Tuân rất bướng. Cần góp ý kiến gì

với anh ấy, chúng tôi phải nhờ anh Tố Hữu. Tố Hữu nói mới nghe, mà cũng

nghe vừa phải thôi. Anh ấy cho giáo điều thì sinh ra xét lại. Vào Đảng như một

thứ nhân sĩ, không gắn bó với một trách nhiệm cụ thể nào, coi mình như một thế

giới uỷ, chính uỷ của thế giới, có trách nhiệm với toàn nhân loại. Cho nên chậm

tiến. Đi trong kháng chiến như đi chơi, tuy đi chơi trong kháng chiến khác đi

chơi trước cách mạng.

Bài Tờ hoa của Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên có công phát hiện, đã bỏ

đi. Thế mà sau lại đăng báo được. Tờ hoa là có ý chửi cải cách ruộng đất.

Cái gì quen đi rồi cũng thành nghề. Nguyễn Tuân có nghề chửi. Chửi

rất ác. Không thể phê bình thân ái nội bộ được. Nguyễn Tuân cứ phải chửi ác.

Nay vớ được thằng phi công Mỹ, tốt quá! Ta chửi Mỹ lâu rồi, song trước kia nó

ở tận đâu đâu ấy, nay nó trực tiếp đánh ta, ta nhìn rõ mặt nó rồi. Cái nghề chửi

của Nguyễn Tuân được dùng đến, rất tốt. Nguyễn Tuân ghét conformisme. Tôi

cho tác dụng của Nguyễn Tuân còn lâu dài đối với cách mạng giải phóng dân

tộc.

Hoài Thanh nói về Nguyên Hồng: “Lắm lúc không biết anh ấy thật hay

giả. Trên diễn đàn, đang nói, dừng lại: “Cho tôi khóc một lúc đã”. Nguyên

Hồng cũng không gắn với một trách nhiệm cụ thể nào, nên chậm tiến bộ”.

Hoài Thanh luôn luôn cho rằng phải sống gắn bó với quần chúng, có

trách nhiệm cụ thể với cách mạng mới tiến bộ được.

* *

*

Nhìn chung cuộc đời Hoài Thanh, thấy ông có mấy cái thực sự trở

thành niềm say mê:

Một là say Thơ mới (1932 – 1945). Điều này, sau cách mạng ông đã

quyết dứt bỏ. Nhưng chắc ở chỗ sâu kín của tâm hồn, vẫn không dứt bỏ được.

Hai là say Kiều. Trước cách mạng thì không nói làm gì. Ông đã ca tụng

câu nói mà ông cho là “can đảm” của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn, tiếng ta

còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Và ông đã trân trọng ghi lên trang đầu cuốn Thi

nhân Việt Nam câu thơ của Nguyễn Du: “Của tin gọi một chút này làm ghi”.

Sau cách mạng, ngay trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến

chống Pháp, ông đã viết ngay một cuốn sách về Kiều: Quyền sống của con

người trong Truyện Kiều. Ông ca ngợi Nguyễn Du trong dịp kỉ niệm 200 năm

sinh của nhà thơ, rồi ông dạy Truyện Kiều ở Đại học Sư phạm Hà Nội...

Trong những cuộc tiếp xúc với ông, tôi thấy khi nói về quá trình phấn

đấu về tư tưởng để có được lập trường của Đảng, có được tình cảm mà ông gọi

là tình cảm đúng đắn của giai cấp công nhân, cứ thấy ông quẩn quanh, vướng

vít không sao dứt khỏi được duyên nợ với Truyện Kiều. Ông thương cô Kiều

chịu nhiều oan khổ thì không có chuyện gì. Nhưng ông cảm thông với giấc

mộng Từ Hải của Nguyễn Du thì có vấn đề. Ông biết Cụ Hồ nói: “Thằng Từ

Hải sao nó tồi thế. Nó không chết đứng thì về triều nó cũng chết ngồi”. Lê

Duẩn phê phán cuốn “Quyền sống...” của ông. Tuy ông rất phục Hồ Chí Minh

và Lê Duẩn, nhưng ông vẫn chưa thông. Đến cuộc chỉnh huấn năm 1952, Tố

Hữu còn phải giúp đỡ ông nhiều: “Làm sao lại lấy Từ Hải làm lý tưởng được:

một nhân vật bất mãn và bất lực”. Nhưng ông vẫn chưa thông hẳn.

Duyệt lại quá trình phê bình, nghiên cứu của Truyện Kiều của mình,

ông nói: “Trước cách mạng tháng Tám mình viết “Một phương diện của thiên

tài Nguyễn Du” (1944), nhiệt liệt ca ngợi Từ Hải. Lúc nhỏ tôi cũng có mộng

anh hùng (Hoài Thanh từng tham gia đảng Tân Việt và từng bị bắt giam một

thời gian ở Hà Nội, sau đó bị trục xuất về Nghệ An), rồi cuộc đời ác liệt quá, lại

không gắn được với một tổ chức nào cho chắc nên không dám làm anh hùng.

Nhưng vẫn có mơ ước làm anh hùng. Nguyễn Du chắc cũng vậy. Đến thời

kháng chiến, năm 1948, tôi viết Quyền sống của con người trong Truyện Kiều,

tự thấy chưa thay đổi gì lắm. Đi cách mạng, ừ thì đi. Rồi đâu cũng vào đấy thôi,

chỉ khác là có đánh Tây. Vì thế trong cuốn sách tôi chỉ thêm có một câu: “

Nhân dân ta đang thực hiện giấc mộng anh hùng của Nguyễn Du và còn vượt

xa nữa. Nói chung vẫn ca ngợi Từ Hải.

Sau chỉnh huấn 1952, cũng chưa hoàn toàn thay đổi. Trước thì viết Từ

Hải chết vì ngay thẳng mà chết. Sau viết, Từ Hải chết vì thật dạ tin người. Đến

mãi 1965, kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du tuy có phê phán Từ Hải thiếu cảnh

giác, nhưng trong phê phán vẫn có thương hại nhiều...

Đấy, qua lời tự bạch của Hoài Thanh, thấy ông không sao dứt được khỏi

tâm trí mình nỗi ám ảnh của Từ Hải, giấc mơ của Nguyễn Du trong Truyện

Kiều. Dù đấu tranh tư tưởng, dù kiểm thảo lên, kiểm thảo xuống, vẫn không dứt

ra được. Ông mê Kiều có lẽ còn hơn cả Chu Mạnh Trinh ngày trước: “Ta cũng

nói tình, thương người đồng điệu”.

Một niềm say mê nữa cũng đeo đuổi Hoài Thanh đến trọn đời là đọc

thơ, bình thơ, giảng thơ. Con người tình cảm của Hoài Thanh tất nhiên thể hiện

rất rõ ở lĩnh vực này.

Ngay giải thích những hiện tượng văn học sử ông cũng dùng kinh

nghiệm đời sống, dùng trực cảm. Ông không thích nói lý luận, có lẽ ông không

tin ở lý luận.

Ông nói, nhà thơ lãng mạn đến với cách mạng, sáng tác được ngay vì

quen ca ngợi. Còn nhà văn hiện thực phê phán lại lúng túng, không viết được, vì

chửi đã thành nghề rồi. Chỉ quen chửi. Đến với cách mạng, chửi ai?

Ông cho rằng, vấn đề dân tộc bao giờ cũng gây xúc động mạnh. Cách

mạng vô sản nói chuyện giai cấp nên khó hấp dẫn. Mặt trận Việt Minh ra đời

nêu dân tộc lên hàng đầu, làm nức lòng người.

Về tầng lớp tiểu tư sản, ông cho rằng, tiểu tư sản yêu nước song yếu

đuối. Rất sợ cây súng của Tây nên không tin tưởng. “La raison du plus fort est

toujours la meilleure” là cái triết lý nó đè lên tâm hồn như một định mệnh.

Ông nói về phê bình văn học: “Ta cho đến nay chưa có ai gọi là nhà

phê bình. Từ 1930, cái gì cũng đổi mới cả, song chưa thể nói đã có phê bình

chuyên nghiệp (nhà văn chuyên nghiệp thì có). Thường chỉ là nghiệp dư, làm

một nghề nào đó rồi mới làm thêm phê bình.

Muốn đẩy mạnh phê bình, phải giải quyết:

- Gây hào hứng cho phê bình. Người ta hiện nay không thích viết phê

bình, không hào hứng làm nhà phê bình.

- Tạo điều kiện để có nhà phê bình chuyên nghiệp.

- Luyện cách viết cho hay. Hiện nhiều người chưa có cách viết, không

biết cách viết. Phải viết thế nào cho người ta đọc một câu cứ phải đọc tiếp.

Nhược điểm của phê bình là không dứt khoát, tác phẩm nào cũng ưu

một chút, khuyết một chút. Như nhau. Người đọc không biết anh cho tác phẩm

là hay hay dở. Phê phán Vào đời và Đống rác cũ là trung ương phê chứ có phải

nhà phê bình nêu ra đâu.

Hiện nay có hiện tượng trái ngược là nhà văn và nhà phê bình đọc tác

phẩm rất ít, ít hơn quần chúng. Anh phê bình chỉ đọc để viết thôi. Khi cần viết

mới đọc.

Phê bình phải có hai điều kiện:

- Nhậy cảm. Xúc cảm nhạy bén.

- Có văn hoá. Dù là inpressionnisme cũng phải có văn hoá. Phải đọc

nhiều, đọc hết, có ấn tượng sâu và nhớ lâu.

Ngày xưa tôi đọc nhiều lắm, nhớ lâu, dễ khóc. Nay khó khóc quá -

“Tuổi già hạt lệ như sương”. Cũng ít nhớ. Tôi thuộc loại người cũ rồi. Lê Đình

Kỵ thế mà cũng thuộc loại cũ rồi.

Đi vào văn học mà 40 tuổi mới vào là dại. Vào làm gì! Viết văn là phải

bắt đầu từ trẻ, có nhiệt tình, nhậy cảm. Người ta viết văn bằng những ấn tượng

những năm lên năm, lên bẩy, chứ không phải 30, 35 đâu.

Và cái đó không thay đổi được. Cái tạo nên tài năng, phong cách, sở

trường là hoàn cảnh sống từ tuổi lên năm, lên bẩy: cánh đồng ấy, bờ tre ấy, cái

ao ấy... Sau này lớn lên, thay đổi quan điểm, lập trường, chứ không thay đổi

phạm vi đề tài, cách viết, cách cảm xúc, cách nghĩ. Không nên bắt người ta thay

đổi. Bắt vô ích. Mỗi ca sĩ chỉ hát hay vài bài, Tân Nhân chỉ hát hay vài bài, các

bài khác cũng hát được nhưng không hay.”

Về vấn đề tính dân tộc của văn học, tôi rất tán thành ý kiến Hoài Thanh:

“Tính dân tộc chỉ cảm thấy thôi, rất khó định nghĩa hay phân tích cho rành

mạch”. Viết văn thì phải thể hiện tính dân tộc. Nhưng tính dân tộc là gì? Hoài

Thanh bình thơ Giang Nam viết về tình vợ chồng mà ông cho là có tính dân tộc:

Dây bầu sai trái bên đầu ngõ

Vẫn đợi anh về hái nấu canh

Đó là tính dân tộc đấy, rất Việt Nam! Người vợ nghèo Việt Nam chỉ mơ

ước thế thôi.

Nhớ chồng, thương chồng, em khóc. Nhưng lại đổ tại con:

“Nó khóc làm em cũng khóc theo”

Thực ra con không khóc, em cũng khóc.

Tình cảm của người Việt Nam thường tỏ bầy, kín đáo, lặng lẽ, không ồn

ào. Đó là cái tần ngần của Kim Trọng khi trở lại vườn Thuý:

Cuối tường gai góc mọc đầy

Đi về này những lối này năm xưa...

181

Người Tây thì khác: Le lac của Lamartine: Ôi, hồ! ầm ĩ cả lên.

Về việc phân biệt thơ hay thơ dở, tức là việc thẩm văn, Hoài Thanh

cũng quan niệm hết sức đơn giản, theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa. Ông nói:

“Phân biệt thơ hay thơ dở chỉ có đọc nhiều. Ăn phở mãi thì phân biệt được phở

ngon. Chứ phân chất, định nghĩa phở ngon là gì, vô ích. Nhưng phải đọc kỹ,

phải tinh. Nếu không, có khi mắc lừa. Phở có lẽ ít mắc lừa hơn.

Về điểm này, tôi thấy Hoài Thanh chỉ đúng một phần thôi. Vì thực tế có

người đọc rất nhiều mà thẩm văn vẫn kém. Quan trọng là phải sống sâu sắc với

những gì mình đọc, cũng như những gì mình thấy, mình nghe...Người sống hời

hợt thì đọc thiên kinh vạn quyển, đi khắp thế giới, sống đến trăm tuổi, cũng

chẳng có được năng lực thẩm văn tử tế. Theo tôi, Hoài Thanh sở dĩ thẩm văn

tốt, chủ yếu vì ông sống sâu sắc cuộc sống của mình, sống sâu sắc với mọi cảnh

vật quanh mình. Cứ đọc những đoạn bình thơ của ông mà xem.

Thí dụ, ông bình thơ Tố Hữu, bài Việt Nam, máu và hoa

“Ngày 29 – 1 – 1973, báo Nhân dân đăng bài Việt Nam máu và hoa của

Tố Hữu. Hôm ấy, hiệp định Pari vừa kí được hai hôm. Nhà thơ cảm thấy một

niềm vui lớn quá, tưởng chừng như không phải là chuyện thật mà là chuyện

trong mơ:

Khao khát trăm năm mãi đợi chờ,

Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ

Cả cái êm ả của bầu trời, cái bình yên của mặt đất cũng có cái gì như

là không thật:

Một trời êm ả xanh không tưởng,

Mặt đất bình yên giấc trẻ thơ.

Có người băn khoăn: chuyện ta chiến thắng là chuyện tất nhiên, chuyện

ta dự kiến từ lâu, chính ta tự mình làm nên chiến thắng, tại sao gọi là chuyện

trong mơ? Nhưng tuần tự và đột biến, tất nhiên mà ta vẫn cứ ngạc nhiên, cuộc

sống xưa nay là thế và chính vì thế mà say người. Một cây hoa ta trồng ta biết

nó sẽ nở hoa, nhưng đến ngày nở hoa, ta lại không khỏi có chút ngạc nhiên.

Một đôi vợ chồng trẻ, một hôm nào đó cũng không ngờ mình đã làm cha, làm

mẹ. Một bông hồng nở, một đứa bé ra đời còn thế nữa là chuyện chiến thắng

hôm nay...”

Đấy, ông có dẫn sách vở gì đâu. Toàn nói chuyện kinh nghiệm sống

thông thường mà đem đến cho ông những rung cảm trước những vần thơ.

Ông nói đúng: Đọc thơ, nếu không có vốn sống thì cứ dửng dưng,

không có xúc cảm gì. ấy là thơ đã gieo vào những tâm hồn chưa có gì để đón

đợi nó.

Cảm nhận được thơ hay thơ dở rồi, lại còn phải biết diễn đạt sao cho

hấp dẫn nữa. ở đây, Hoài Thanh có hai tư cách thống nhất làm một: nhà phê

bình và thày giáo dạy văn.

Ông nói: “Cách viết, cách nói không nên cố định, mà tuỳ bài, tuỳ nội

dung mà quyết định hình thức. Có thể đi từ đại ý đến chi tiết hay ngược lại.

Điều quan trọng là làm sao luôn luôn đặt ra những vấn đề để giải quyết – cuộc

sống là như thế.

Và phải nói sao buộc người nghe phải chờ đợi.

Thí dụ, năm 1941, Tố Hữu ở trong tù viết bài Quyết hy sinh, đã vẽ được

hình ảnh người chiến sĩ cộng sản rất đẹp:

Các anh chị bước lên đài gươm máy

Đầu sắp rơi mà môi vẫn cười tươi!

Song lúc đó anh mới 20 tuổi, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, nên

hình ảnh chưa sâu. Đến bài Ba mươi năm đời ta có Đảng ( 1960), hình ảnh

người chiến sĩ được vẽ sâu hơn: “Miếng cơm dành để người sau ấm lòng”.

Đúng hơn, sâu hơn. Đằng sau câu thơ lại có thấp thoáng hình ảnh anh Hoàng

Văn Thụ.

Thí dụ khác: Tháng Tám 1945, Tố Hữu làm bài Hồ Chí Minh. Hình ảnh

Bác rất đúng, rất đẹp:

Bao thất bại dẫu xát lòng cay đắng

Hồn vẫn tươi vui, thơm ngát tình đời.

Nhưng lúc đó, Tố Hữu chưa được gần Bác, nên có câu không đúng

“Tiếng người thét, mau lên gươm lắp súng”. Tiếng thét này không phải của

Bác. Sau này trong bài Sáng tháng năm, anh sửa lại đúng hơn:

Giọng của Người, không phải sấm trên cao

Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước.

Về cách nói, có cách nói nhợt nhạt, có câu nói cứ trơn tuồn tuột. Có

cách nói làm cho người ta phải chú ý. Chữ dùng thì phải bình dị, gần gũi. Phải

học ngôn ngữ quần chúng, học ca dao, để nói cho đỡ khô khan.

Và phải tuỳ thể loại của tác phẩm. Mỗi thể loại có ưu thế và hạn chế

của nó, đáp ứng một khía cạnh nào đó của đời sống. Chẳng hạn, đánh giá Sống

như anh phải theo đặc trưng của thể ký. Đọc ký, người ta tin có thực. Cái hay

của ký, tác dụng của ký, một phần là ở chỗ người đọc tin là có thực. Nếu là tiểu

thuyết thì người ta đòi hỏi nhân vật phải được đào sâu vào tâm lý với những

diễn biến thầm kín và phức tạp. Nhưng là ký thì không ai đòi hỏi thế. Lê Anh

Xuân làm Trường ca Nguyễn Văn Trỗi. Anh tả chị Quyên đến thăm anh Trỗi ở

khám tử hình “Chấn song sắt cũng trổ cành đơm hoa”. Thơ tả thế được. Ký

không tả thế được.

* *

*

Hoài Thanh vốn là một học sinh trường Bưởi. Ông cùng Tôn Quang

Phiệt tham gia đảng Tân Việt, bị nó bắt giam rồi trục xuất khỏi Hà Nội, tống

vào Vinh. Có một thằng Tây, chủ nhà máy gạch Vinh thấy ông nói được tiếng

Pháp, gọi cho làm thư ký.

Một buổi kia đi làm, xe đạp thủng săm, đến chậm 15 phút, nó tát tai và

đuổi. Ông tìm được một gia đình xin làm gia sư. Bùi Huy Tín ở nhà in Đắc Lập,

Huế, tình cờ gặp, đưa vào trong ấy làm thợ chữa morasse (1931). Đến năm

1933, Đào Duy Anh, Tôn Quang Phiệt thành lập trường Collège tư thục Thuận

Hoá. Ông được mời dạy. Ông dạy Việt văn và tiếng Pháp, vừa đi làm, vừa đọc

sách, viết văn từ ngày ấy.

Hồi làm thợ chữa morasse, Hoài Thanh đã viết phê bình. Rồi nổ ra cuộc

tranh luận với Hải Triều về quan điểm nghệ thuật. Hoài Thanh hàng ngày đi làm

phải cuốc bộ, guốc gỗ, vậy mà bị quy là nhà văn phú hào. Còn Hải Triều đi xe

nhà gọng đồng, nhà có 8 đầy tớ, thì là nhà văn vô sản. Hoài Thanh ngẫm nghĩ

thấy cũng buồn cười.

Nhà in Đắc Lập, nơi làm việc của Hoài Thanh rất gần hiệu sách Hương

Giang của Hải Triều. Họ rất dễ gặp nhau. Nhưng Hải Triều tránh không muốn

gặp Hoài Thanh, vì sợ gặp, nhỡ hoà giải với nhau thì mất đối tượng đấu tranh.

Đọc thơ, bình thơ quả là niềm say mê, một niềm vui, thậm chí là lẽ sống

của Hoài Thanh. Dường như lúc nào ông cũng băn khoăn day dứt về chuyện

văn chương.

Trước cách mạng, cãi nhau với Hải Triều cũng là chuyện say mê văn

chương. Sau cách mạng, phấn đấu về tư tưởng, nhưng vẫn luôn luôn trăn trở về

quan niệm văn chương thế nào là đúng, là sai.

Năm 1954, anh Thành Thế Thái Bình được cử vào tiếp quản Thủ đô.

Trước khi nhận nhiệm vụ này, anh có tham gia cải cách ruộng đất đợt 5 với

Hoài Thanh ít ngày ở Đại Từ – Thái Nguyên. Anh nhận xét, Hoài Thanh ba

cùng rất nghiêm túc, thái độ với anh đội trưởng rất kính cẩn, một thưa anh, hai

báo cáo anh, tuy anh này rất trẻ, chỉ đáng tuổi con ông thôi. Thành Thế Thái

Bình lúc đó chỉ độ 20 tuổi, cũng được ông thưa gửi như thế. Ông không hề tỏ ra

là một nhà văn, không bao giờ nói chuyện văn chương. Nhưng những buổi tối

sáng trăng, thấy ông thường ngồi trầm ngâm, ở cái chõng ngoài sân, hút thuốc

lào, vừa chống cái điếu cày, vừa nhìn trăng, thỉnh thoảng thở dài. “ Yêu trăng

có phải là vị nghệ thuật không nhỉ, cũng có thể là vị nhân sinh chứ! Có nhất

thiết cứ phải trực tiếp viết về người nghèo khổ mới là vị nhân sinh? Như thơ Hồ

Xanh: “Nước mắt của anh em vô sản, là nguồn thơ chảy ra vô tận”? Tôi đoán

ông tự hỏi mình như thế khi ngắm trăng và thở dài. Tôi nghĩ thế vì liên hệ đến

đoạn Di bút của ông sau này viết về ý kiến Lê Duẩn nói với họa sĩ Huỳnh Văn

Gấm hồi hoạt động ở trong Nam: “Không nhất thiết bức tranh nào cũng trình

bày những hình ảnh công nông. Một bông hồng rung rinh dưới ánh mặt trời

trong sương sớm sao lại không được xem là nghệ thuật vị nhân sinh?”.

Trong những ngày cuối đời, ông ghi những ý nghĩ của mình vào một tập

giấy gọi là Di bút. Đọc tập Di bút này thấy những băn khoăn day dứt cuối đời

của ông chủ yếu cũng vẫn là chuyện văn chương, đặc biệt là chuyện hiểu thơ và

bình thơ.

* *

*

Nhưng trong những ngày cuối cùng trước khi mất, theo anh Từ Sơn,

Hoài Thanh hình như có ngộ ra một cái gì đó có vẻ ngược chiều với những suy

nghĩ trước kia của ông.

Trong Di bút (bản đánh máy Từ Sơn cho tôi) tuy ông chủ yếu nói về

văn chương, nhưng cũng có nêu lên một vài thắc mắc về chế độ xã hội miền

184

Bắc. Chẳng hạn, ông nhận xét thái độ lao động của cán bộ ta không nghiêm túc

bằng những viên chức của các cơ quan dưới chính quyền nguỵ (gọi là viên chức

“lưu dung”). Thí dụ, những cô y tá, hộ lý của bệnh viện ta không phục vụ bệnh

nhân tốt như y tá, hộ lý của các bệnh viện ở Sài Gòn trước 1975 ở lại làm việc

với ta, hay những cô mậu dịch của ta thì rất hách dịch, cửa quyền. Còn luật lệ

giao thông của ta thì không nghiêm như luật lệ giao thông của Sài Gòn thời

nguỵ...Ông thuật lại câu chuyện của em ông là Nguyễn Đức Ninh là đảng uỷ

viên xã Nghĩa Mỹ huyện Nghĩa Đàn. Trong cải cách ruộng đất, khi anh bí thư

đảng uỷ bị bắt, bị quy là phản động mà Ninh không hề biết, anh rất phục đảng:

đảng tài giỏi quá!. Nhưng đến khi chính anh cũng bị bắt thì anh mới thấy, hoá ra

đảng cũng sai (Từ Sơn cho biết Nguyễn Đức Ninh bị kết án tử hình, sau hạ

xuống tù chung thân).

Ông thắc mắc cả về Lê Duẩn khi Duẩn nói Nguyễn Du không có chút

tình cảm gì với quần chúng. Ông thắc mắc cả về Hồ Chí Minh: trong 5 điều Bác

Hồ dạy “không có một điều nào nói về tình thương mẹ, thương cha. Tình

thương ấy mà không có hoặc có mà lệch lạc thì đâu có thể nói được là đã nên

người”. Hoặc là “vào khoảng năm 1952, tôi được nghe Bác nói trong một lớp

chỉnh huấn: “Bác có thể sai, Trung ương có thể sai... Nhưng đồng chí Mao

Trạch Đông, đồng chí Xitalin thì không thể sai”(...). ý kiến ấy khó có thể nói là

không sai.

Tuy thắc mắc đấy, nhưng qua cách diễn đạt, thấy ông vẫn phải rào đón

rất kỹ. Di bút chỉ viết cho con đọc thôi mà phải rào đón như thế có nghĩa là ông

chỉ phân vân thế thôi, chứ vẫn rất tin ở đảng, ở Lê Duẩn và cụ Hồ.

Về bài thơ của Xuân Sách viết về ông, Đặng Vương Hưng có viết trên

một số Văn nghệ công an rằng Xuân Sách có đến thăm Hoài Thanh khi ông

Hoài sắp mất. Xuân Sách cho biết, cuối cùng Hoài Thanh đã thú nhận Xuân

Sách viết về ông như thế là đúng. Thực ra, theo Từ Sơn, Đặng Vương Hưng đã

bịa ra chuyện ấy. Vì khi ốm nặng, Hoài Thanh ra Hà Nội, còn Xuân Sách vẫn ở

Vũng Tầu, không hề đến thăm. Theo Từ Sơn, chuyện thật chỉ là thế này: Hoài

Thanh nói với Từ Sơn: “Xuân Sách nó dùng Kiều để nói mình vì biết mình mê

Kiều. Nhưng câu thứ hai ác quá. Nên sửa như thế này cho đúng: “Nửa đời lại

phải vị người cấp trên” – thêm cho một chữ “phải”. Vậy là có thể hiểu,Hoài

Thanh quả có công nhận Xuân Sách nói đúng một phần về mình.

Khi Hoài Thanh mệt nặng, Từ Sơn có nói với Tố Hữu đến thăm.

Tố Hữu đến, Hoài Thanh quay mặt vào tường không tiếp. Tố Hữu về

rồi, ông mới quay ra. Ông nói với Từ Sơn: “Từ bài Chuyện thơ (Làm bí thư hoài

có bí ... thơ), coi như sự nghiệp của Tố Hữu đã kết thúc.

Tôi cho ông nói thế là đúng. Qua bài Chuyện thơ, Tố Hữu ngang nhiên

tuyên bố: “Ta là nhà thơ bí thư Đảng, nhà thơ lãnh tụ đây!”. Cụ Hồ làm thơ có

bao giờ tuyên bố thế đâu! Thậm chí còn coi những “bạn tù” nghiện ngập, bẩn

thỉu, ghẻ lở là tri âm tri kỷ nữa “Gẩy đàn trong ngục thấy tri âm” (Ghẻ)

Láng Hạ, 25 – 5 – 2007


Phần bốn - Tư liệu riêng về một số

nhà văn Việt nam hiện đại (Tiếp theo)


Chương XII: Nguyễn Công Hoan

Nguyễn Công Hoan là người cùng làng với vợ tôi và có họ với vợ tôi:

Làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, ngày xưa thuộc tỉnh Bắc Ninh, ngày nay

thuộc tỉnh Hưng Yên.

Tôi nhớ Nguyễn Công Hoan nói đùa: “Nếu nói chuyện nhãn, tôi nhận

quê ở Hưng Yên. Nếu nói chuyện văn chương thì tôi nhận quê ở Bắc Ninh”.

Nguyễn Công Hoan mất lâu rồi. Lúc ông còn sống tôi chỉ được gặp vài

lần, khoảng 1967, 1968.

Một lần tôi cùng họp với ông ở Viện Văn học. Ông tỏ ra rất ghét Vũ

Đức Phúc. Ông nói, anh Phúc chỉ viết để cho cấp trên xem thôi. Ông cho rằng

những người viết văn học sử chỉ thấy hiện tượng mà không giải thích đúng đắn

vì không hiểu hoàn cảnh lịch sử gì cả.

Thí dụ, nói nhà văn Vũ Trọng Phụng phức tạp. Hiện tượng thì đúng,

nhưng lí do vì sao. Vũ Trọng Phụng viết đủ các thứ báo: Nhật Tân, Tiểu thuyết

thứ bẩy, Hà Nội báo, Loa, Tiểu thuyết thứ năm, Sông Hương... Bấy giờ, mỗi tờ

báo ra đời đều phải tìm con đường hấp dẫn độc giả. Vũ Trọng Phụng bị lôi kéo

viết cho Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ năm, Sông Hương thì khiêu dâm (Giông

tố, Thị Mịch, Làm đĩ), nhưng khi viết Tiểu thuyết thứ bẩy thì không khiêu dâm

nữa (Người tù được tha). Vũ Trọng Phụng không phải mật thám. Mật thám, biết

ngay. Vũ Trọng Phụng mật thám sao lại nghèo! Mật thám còn viết văn làm gì!

Phân tích tác phẩm, phải hiểu tác phẩm viết năm nào, năm ấy như thế

nào mà có tác phẩm ấy. Thí dụ, năm 1935, trong Nam bộ nó bỏ kiểm duyệt. ở

Bắc thì đến 1937 mới bỏ. Từ 1937 đến 1939, viết tự do. Kiểm duyệt báo nếu

cần chỉ gọi chủ báo lên xạc thôi. Tác giả thì tha hồ. Vì thế tiểu thuyết lịch sử Đề

Thám, Hàm Nghi ra đời. Châtel sang Việt Nam, hướng thanh niên vào phong

trào thể thao thể dục. Tôi viết Tinh thần thể dục.

Nhân tiện gặp Nguyễn Công Hoan ở đấy, tôi tranh thủ hỏi mấy câu:

- Hồi Hải Triều và Hoài Thanh tranh luận với nhau chung quanh tác

phẩm Kép Tư Bền của bác, bác có đọc họ không?

- Họ viết trên báo địa phương (Huế), tôi đọc làm gì!

- Thế hồi ấy, bác tự thấy mình là vị nhân sinh hay vị nghệ thuật?

- Tôi chỉ cốt viết cho hay thôi. Các báo mời viết, gợi đề tài này khác,

thấy đề tài nào hay thì viết. Tôi không phục vụ chính trị, chỉ phục vụ nghệ thuật

thôi.

Ông nói tiếp: “Họ đấu tranh với nhau chỉ lấy mình làm một cái cớ

thôi. Hải Triều hồi ấy có mời tôi vào Huế để tiếp xúc với độc giả Kép Tư Bền và

ký tên vào sách cho những người đến mua. Ban ngày tôi ở chỗ Hải Triều, hiệu

sách Hương Giang, ban đêm tôi về ngủ với Hoài Thanh. Ban ngày ở với thằng

vị nhân sinh, ban đêm ở với thằng vị nghệ thuật.”

Nguyễn Công Hoan quan niệm chuyện đời, chuyện văn rất đơn giản,

cứ như trò đùa vậy thôi:

“Năm 1928, 1929, tôi bắt đầu viết truyện ngắn. Hồi ấy ở Lào Cai.

Thấy tôi hay đùa, Tương Huyền, anh Tam Lang, bảo tôi viết. Tôi từ chối. Hắn

nói mày không viết tao đánh. Tôi viết ba truyện đưa Tương Huyền xem. Tương

Huyền nói: “Thế này là xã hội tiểu thuyết chứ còn thế đéo nào nữa!”. Hồi ấy do

giáo dục gia đình và do tiềm thức mà viết thế thôi. Không ai nghĩ sau này thành

nhà văn. Cứ ấm ức, hậm hực viết ra cho thoải mái. Tôi tán thành nghệ thuật vị

nghệ thuật của Hoài Thanh. Các nhà nghiên cứu cứ quy ý thức này ý thức khác,

sai cả.”

Ông nói: “Ngày nay toà soạn báo là toà không soạn. Ngày xưa toà

soạn là phải soạn, cứ ngồi tán với nhau rồi thấy có gì hay là viết. Thí dụ: Hồi

Vũ Trọng Phụng viết Vỡ đê, Ngô Tất Tố nói: “Thằng Phụng viết thế khỉ nào

được nông thôn. Để tôi viết cho mà xem. Thế là Tắt đèn ra đời”.

“Về cuốn Bước đường cùng tôi được đề cao quá. Người ta giải thích

do tôi có ý thức thế nào đó mới viết ra thế. Tôi ngượng quá. Bước đường cùng

và Tắt đèn không có ý thức đả đế quốc phong kiến gì cả (tiềm thức có thể có).

Chúng tôi chỉ muốn viết tiểu thuyết phong tục (roman de moeurs). May làm sao

lại thành chống đế quốc phong kiến.

Tôi thích truyện ngắn hơn. Còn Bước đường cùng thì thường thôi.

Kháng chiến, mất bản thảo. Trong thành còn giữ được một cuốn. Có thằng nó

in ra. Năm 1954, ta vào thành in lại. Tác phẩm tồn tại đến ngày nay là do thế.

Tôi thành ra nổi tiếng. Lý do rất đơn giản!

“ Nhà văn Việt Nam phải học tiếng Việt Nam. Ta quen nói kiểu trí thức

mất rồi, quên tiếng nói nhân dân.

Người dân nói “Trăm nghìn người mới có một”. Mình lại nói “trường

hợp cá biệt”. Tiếng Việt rất trong sáng, dễ hiểu. Sao cứ bịa ra những tiếng khó

hiểu. Nhiều tiếng của nhân dân, bây giờ chắc nhiều người không biết nghĩa là

gì: tại sao gọi “bến ôtô”, “bến tàu điện”? Tại sao gọi là “bát đàn, bát sứ, bát

kiểu”. Tại sao gọi là “bít tất” “Mọi nhẽ” là gì? (mọi nhẽ nghĩa như vân vân...)

Nghe Nguyễn Công Hoan nói, thấy ông không suy nghĩ điều gì sâu

sắc. Ông hay nói, “đơn giản thế thôi”, hoặc do “gặp may” hay do “tiềm thức”.

Mọi sự đối với ông rất đơn giản. Và xem ra, ông chẳng coi cái gì là quan trọng

cả. Thích gì viết thế. Thấy gì hay thì viết. Cứ theo bản năng, theo thói quen mà

làm. Con đường nghệ thuật của ông ba, bốn mươi năm khi tiến khi lùi, khi tạt

ngang tạt ngửa, khi viết truyện ngắn khi viết truyện dài, khi viết truyện tình, khi

viết truyện xã hội, khi trào phúng, khi nghiêm trang, khi lãng mạn, khi hiện

thực... Rồi thấy cái gì bở ăn, cứ làm tới, đâm ra, nói như Hoài Thanh: “nói dài,

nói dai, nói dại”..., không biết cái hay cũng có giới hạn của nó, đâu phải cứ đào

mãi mà được. Cho nên lúc thành công, lúc thất bại. Mà thành công hay thất bại

hình như ông cũng chẳng biết tại sao...

Tôi gọi thế là con đường nghệ thuật không tự giác (l’ itinéraire

inconscient)

Tô Hoài cho tôi biết: “Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, cụ Hoan phụ

trách dạy văn hoá trong quân đội. ở chỗ sơ tán, cụ “nhẩy dù” khiếp lắm! Trong

cuộc chỉnh huấn 1952, tôi gợi ý cụ kiểm thảo chuyện ấy. Cụ đấu tranh tư tưởng

dữ dội, mồ hôi trán chảy ròng ròng...”

* *

*

Nguyễn Công Hoan có một cô con gái cũng viết văn, bút danh Lê

Minh (tên thật là Nguyễn Tài Hồng). Lê Minh rất đanh đá và có nhiều việc làm

rất vô lối. Chẳng hạn, chị tập hợp in lại những bài của nhiều người viết về

Nguyễn Công Hoan. Chỗ nào khen giữ lại, chỗ nào chê cắt đi.

Tôi có một lần, hướng dẫn một cô làm luận án thạc sĩ về tiểu thuyết

của Nguyễn Công Hoan (một cô khác làm về truyện ngắn). Cô này tên là Bùi

Thị Hoài. Tôi giới thiệu Hoài đến Lê Minh để mượn sách. Lê Minh bắt Hoài

làm luận án phải do chị hướng dẫn. Rất chướng và rất hách.

Thấy vậy, tôi bảo Hoài không đến Lê Minh nữa. Tiểu thuyết Nguyễn

Công Hoan thực ra tìm không khó lắm.

Nguyễn Công Hoan nếu còn sống, chắc cũng ớn cô con gái của mình

lắm.


Chương XIII: Nguyễn Tuân


Từ nhỏ tôi đã đọc Nguyễn Tuân trong kho sách của bà chị cả tôi. Tất

nhiên chẳng hiểu gì lắm! Nhưng cũng muốn bắt chước chủ nghĩa xê dịch của

Nguyễn Tuân: thích lang thang ngắm trời, ngắm đất.Thời kháng chiến chống

Pháp, một mình đi trên đường Việt Bắc, lội suối, leo đèo, rất khoái – thực sự

cảm thấy cái khoái “Đường vui” của Nguyễn Tuân quả là có thật. Hồi về Hà

Nội học Đại học Sư phạm (1957), tôi có lần dắt xe đạp thử đi suốt đêm ở Hà

Nội, từ phố này sang phố khác, bắt chước Nguyễn Tuân làm “Một người lữ

hành trong thành phố chúng ta”, xem Hà Nội sinh hoạt về đêm như thế nào,

thưởng thức những tiếng rao đêm có giọng điệu riêng của các hàng quà rong

xuất hiện rất đúng hẹn cho mỗi thời khắc.

Tôi chính thức được tiếp xúc với Nguyễn Tuân khi dạy ở Đại học Sư

phạm Vinh. Trường Vinh cử tôi ra đón Nguyễn Tuân vào nói chuyện về ký

chống Mỹ. ấy là vào năm 1965, 1966 gì đó.

Xe đi từ sáng sớm, nhưng đến cầu Khuất thì phải dừng lại rất lâu. Cầu

sắt bị phá. Người ta bắc cầu phao. Nhưng buổi sáng người ta phải dỡ phao cho

thuyền bè qua lại. Vì thế mãi đến trưa xe mới đến đồi Kim Tân. ở đây có một

hàng bán miến gà. Xe dừng lại để ăn trưa. Nguyễn Tuân không ăn, tuy tôi bảo

nhà hàng làm cho một bát miến gà đặc biệt (Hồi chiến tranh chỉ có loại miến

làm bằng bột đao, nhưng vào thời ấy, thế là đã sang lắm rồi). Ông lấy trong túi

ra gói cơm nắm, xắt ra mấy lát, ăn với ruốc. Sau đó lấy bi đông rượu rót ra cái

nắp uống.

Trong cuộc đi này, tôi thấy Nguyễn Tuân biết rất nhiều chuyện, nào là

các làng nghề chung quanh Hà Nội (làng này chuyên chữa kính, làng kia

chuyên cắt tóc, làng nọ chuyên làm thợ may...), nào là những nhân vật có tiếng

ở xã này, huyện nọ, nào là những chuyện vui thời kháng chiến chống Pháp trên

đường số 6 từ khu Ba lên Việt Bắc... Và ông hay đố chữ. Nhờ Nguyễn Tuân

hôm ấy tôi mới biết được, tiết canh đánh giỏi là “tiết canh xâu lạt”, người theo

đạo Thiên chúa mà bỏ đạo, gọi là “dở người”. Thí dụ “ông tôi đã dở người”,

“Nam Cao đã dở người”...

Trường Đại học Sư phạm Vinh lúc ấy sơ tán ở huyện Thạch Thành,

tỉnh Thanh Hoá. Khi xe chúng tôi về đến nơi, thấy Ban Giám hiệu đều có mặt ra

đón long trọng lắm, sau đó bầy tiệc lớn chiêu đãi. Tôi thấy Nguyễn Tuân không

có vẻ mặn mà gì, ông chỉ gắp vài miếng trứng tráng.

Từ hiệu bộ, tôi đưa Nguyễn Tuân về khoa văn ở một địa phương gọi là

Thạch Yến. Trần Văn Hối, phó chủ nhiệm phụ trách sinh hoạt, thủ sẵn một chai

vang ngoại đợi Nguyễn Tuân vào thì đưa ra. Trông thấy chai vang, Nguyễn

Tuân nói: “Rượu đàn bà, uống làm gì!”. Hối cụt hứng, buồn quá!

Hồi ấy Nguyễn Tuân rất nổi về những bài ký chống Mỹ viết về những

tên giặc lái tàu bay bị bắn cháy, bật dù xuống đất và bị nhốt ở các trại giam.

Chúng tôi mời ông vào để nói chuyện về những bài ký ấy. Giữa buổi nói

191

chuyện, sinh viên nhờ tôi đề nghị ông nói về Vang bóng một thời. Tôi lựa lời

nói với Nguyễn Tuân. Ông hình như không thích thay đổi bài nói đã chuẩn bị,

cứ tiếp tục nói về ký chống Mỹ. Tôi nài thêm lần nữa, ông mới thủng thẳng nói

mấy câu: “Tôi đọc lại Vang bóng một thời, tôi thấy phục tôi quá! Tôi nhớ ngày

trước tôi làm gì có quan điểm lao động, thế mà tôi lại ca ngợi những người thợ

mộc Tràng thôn lên sửa đền cho thánh Tản viên. Hồi ấy tôi cũng chưa lên núi

Tản Viên, Ba Vì, kháng chiến mới có dịp tới. Vậy mà sao tôi tả đúng thế”. Rồi

ông cười hóm hỉnh: “ấy nói thế người ta lại bảo nhà văn không cần đi thực tế

thì chết” (Nguyên Ngọc cho rằng, nếu Nguyễn Tuân lên núi Tản Viên trước khi

viết Trên đỉnh non Tản thì có khi lại viết hỏng)

Từ lúc bị Nguyễn Tuân từ chối chai vang, Trần Văn Hối bèn sục tìm

trong làng kiếm được một chai cuốc lủi, lặng lẽ đặt ở nơi nghỉ của ông. Lúc ông

rời Thạch Thành, chai rượu vẫn còn nguyên. Ông có rượu riêng đem đi, không

uống tạp như Nguyên Hồng, Hoàng Trung Thông hay Đoàn Phú Tứ...

Bữa tiệc cuối cùng khoa văn tiễn ông có nhiều rau tươi: xà lách xanh

non, cà chua, ớt màu đỏ. Nguyễn Tuân có vẻ thích. Ông khen bữa ăn rất đẹp.

Ông kể chuyện từng được một ông sư đãi một bữa thịt chó độc đáo. Thịt chó

ướp gia vị, đặt vào giữa bông sen, bó lại, đem đồ cho chín dừ. Món ăn vừa tục

vừa thanh, vừa có vị chát của nhựa sen vừa có hương thơm của hoa sen.

Tôi nghĩ bụng, thịt chó mà dám cho vào toà sen, lão sư nào mà hỗn thế.

Nhưng vừa ăn vừa nghĩ đến cái tục cái thanh của nó, chắc cũng thú.

Lần thứ hai, tôi được gặp Nguyễn Tuân là vào mùa thu năm 1967.

Cũng là tình cờ thôi. Tôi ra Hà Nội, có việc đến Nhà Xuất bản Văn học (49

Trần Hưng Đạo) và gặp Nguyễn Tuân ở đó. Hình như ông đến làm việc với Nhà

Xuất bản về việc in một tập ký chống Mỹ thì phải (Nghe nói NXB đề nghị loại

bỏ bài Tờ hoa, còn ông thì nhất định đòi giữ lại, không in thì thôi).

Dịp may hiếm có, tôi đề nghị được gặp ông. Ông đồng ý, không tỏ vẻ

khó khăn gì cả.

Tôi hỏi ông về những tác phẩm gần đây của ông, về quan niệm và cách

viết của ông.

Ông nói liền một mạch, rất sôi nổi:

- Người ta viết văn, giảng văn, nói đã nhiều về tư tưởng, về đạo đức.

Điều ấy không phải không cần. Nhưng tôi muốn giúp độc giả nâng cao trình độ

thẩm mỹ, đem đến cho họ cảm xúc về cái đẹp. Đó là điều băn khoăn của tôi. Tôi

cung cấp cho họ những gợi ý bằng những suy nghĩ của tôi. Còn họ phản ứng

thế nào, tuỳ.

- Về độc giả, tôi không quan niệm là công nông hay trí thức mà chỉ chú

ý phục vụ con người mới, có tư tưởng mới, có văn hoá, có trí thức. Bao giờ độc

giả được tất cả như thế, tôi không biết, nhưng nhất định sẽ như vậy, tôi rất tin

điều đó.

- Về kinh nghiệm viết văn?

Tôi cho tác phẩm văn học mà không tạo ra được cái atmosphère thì

không có giá trị gì. Cái atmosphère nó làm cho cùng một hiện tượng, cùng một

sự việc mà thành màu sắc xanh đỏ tím vàng khác nhau. Cái chi tiết nước sông

Hồng dâng cao trong bài “Hà Nội giải tù Mỹ qua phố Hà Nội” là cái chi tiết

tạo không khí như thế.

Kinh nghiệm tạo không khí là phải có quan điểm lịch sử, quan điểm

địa lý, quan điểm thiên nhiên, có óc tưởng tượng mới tạo ra được.

Bài Nguyễn Văn Trỗi, tôi viết ngay khi có tin ấy. Tôi muốn tạo ra cái

résonnance toàn thế giới. Lúc đó tài liệu gầy guộc nghèo nàn quá, tôi phải cố

tạo ra không khí bằng cách ngồi trước quả địa cầu và bản đồ thế giới mà tưởng

tượng.

Có người nhận xét tôi lan man, không phải không đúng. Nhưng bài văn

đâu phải bản báo cáo mà phải có các mục 1, 2, 3, hay như bài rédaction, bài

composition của học trò, cũng không phải bài thơ Đường luật có đề, thực, luận,

kết... Nó tuỳ theo nhà văn định nói gì và cách nói của anh ta. Lan man là hiện

tượng, nhưng nó có cái fil d’idée của nó. Nó không có hại gì về bố cục, về tư

tưởng là được.

Sông Đà bảo là lan man, thực ra là cái fil d’idée của nó là vấn đề giao

thông vận tải...

Có người lại bảo tôi là thiên nhiên chủ nghĩa không nói đến người. Thế

thì bài Xoè của tôi bỏ đi đâu? Người ta có định kiến sẵn khi phê bình nên không

nhìn toàn diện.

Tôi cho nội dung không thiếu. Cái quan trọng là cách nói cho nổi cái

nội dung đó lên, thế mới gọi là có đóng góp. Cách nói, nói thế nào là điều tôi

băn khoăn nhiều và thế mới có ích.

- Tôi không thích khẳng định nhiều quá... Có lối viết đưa ra kết luận rõ

ràng, dứt khoát, có cách viết không kết luận, để tự người đọc kết luận lấy, gọi là

lối nóng, lối lạnh. Tôi thích lối thứ hai này. Người nước ngoài thường than

phiền văn học ta trop d’ affirmatifs, trop de superlatifs, đáng lẽ nói tốt thì lại

nói “rất tốt”, “rất vĩ đại”...

Khi tôi và Nguyễn Tuân trò chuyện với nhau thì cuộc tranh luận về

thể ký còn đang tiếp tục sôi nổi trên các báo chí (1966, 1967). Tôi bèn hỏi quan

niệm của Nguyễn Tuân về thể văn này.

Ông nói: “- Đúng, người ta đang tranh luận về thể ký. Ký và cấu.

Nhiều người tham gia tranh luận nhưng có viết ký đâu. Tôi thì cứ viết. Có người

hỏi làm thế nào để viết ký cho hay, không nhạt. Tôi cho rằng phải có vốn văn

hoá, vốn kiến thức. Người viết có nhiều dụng cụ thì đồ chế tạo nhất định phải

tinh xảo hơn. Kiến thức lịch sử, địa lý, thiên nhiên..., rồi vận dụng các ngành

nghệ thuật. Mà nói chung thì nghệ thuật nào chẳng phải mượn các cách của

nghệ thuật khác để thể hiện. Khi anh không chỉ tả mặt mà còn tả cái gáy, cái

vai, tả người cúi xuống, cái mông bóng lên, là vô tình đã phải vay mượn điêu

khắc rồi”.

Nói ký là bước sơ bộ của truyện, không đúng. Các thể loại văn học đều

bình đẳng. Mỗi thể văn được chọn viết là do cái tài khác nhau. Một ký hoạ chì

than có thể giá trị hơn một bức sơn mài lớn. Cùng một matière có thể người này

193

viết truyện ngắn, làm thơ, người kia viết ký. Không có tài không viết ký được.

Ông A. France, nhà xuất bản bảo ông viết truyện ngắn. Ông ấy nói, tôi

làm gì có thời giờ viết truyện ngắn.

Viết truyện, phải có nhân vật. Nhân vật truyện không bị gò bó trong

không gian, thời gian hay ước lệ sân khấu. Nhân vật truyện muốn làm gì thì

làm, tự do.

Ký không bắt buộc có nhân vật, hay đúng ra chỉ có bóng dáng của

nhân vật. Nên nhân vật không cần có lí lịch, tính cách, số phận rõ ràng.

Ký ghi sự việc, thấy ẩn ẩn hiện hiện một nhân vật nào đó. Thoáng một

tý hình ảnh, ký là sự việc. Sự việc thì cũng phải có thằng người.

Bốn người viết bốn thể tài, cũng đi thực tế. Cùng nghe, thấy, hỏi, ghi

chép. Kịch hỏi khác. Truyện hỏi khác. Giác quan anh viết ký phải dựng lên hết.

Sách cũng là một thực tế. Thí dụ đọc sách về Lai Châu như cuốn La

mission de Pavy, đến một lúc nào đó, có khái niệm về Lai Châu, biết đích xác

lịch sử Lai Châu. Lai Châu thành một thực tế. Viết ký phải đọc nhiều. Thượng

vàng hạ cám, đọc hết. Nhưng đọc xong phải có cái ý của mình, ghi lại. Có chỗ

phải đánh dấu vì hay, để đọc lại.Đọc sách địa chất, tình yêu Tổ quốc càng cụ

thể.

Phản ánh thực tế phải xoáy vào một điểm, nhưng phải có diện rộng soi

vào đó. Đó là kinh nghiệm viết.

Văn khác toán. Toán chỉ có một đáp số. Văn học lắm đáp số. Anh phê

bình lại cứ đòi một đáp số.

Tôi viết Sông Đà. Thằng Tây nói sông Đà đen. Tôi viết Sông Đà đỏ lên,

sau bỏ chữ “lên” đi cho khoẻ.

Nói đến đấy, ông dừng lại nghỉ hơi một lúc. Rồi bỗng quay trở lại cái ý

về lối viết “nóng”, lối viết “lạnh” – chắc ông chợt nhớ đến có kẻ từng phê phán

truyện Chém treo ngành của ông trong Vang bóng một thời.

“Có người nói tôi thích nhấm nháp cái tài chém treo ngành trong

Vang bóng một thời, mà kẻ chém lại là tay sai đế quốc, phong kiến. Thực ra tôi

muốn nói tội ác của chúng nó là như thế đó, nó vừa nhắm rượu vừa xem chém

người – Khi đăng trên Tao đàn tôi lấy tên Bữa rượu đầu lâu (Thực ra, đọc Tao

đàn, tôi chỉ thấy cái tên Bữa rượu máu – NĐM). Người ta cứ muốn phải nói rõ

thái độ đả kích, phê phán. Tôi cho không cần, và đó là lối “lạnh” phải để độc

giả tự kết luận, cho họ tự do. Có phải giảng chính sách đâu mà cứ phải nói rõ

đúng sai và phải chỉ ra thực hiện thế này, thế khác. Văn học khác chứ!

Người ta còn nói tôi thích quay lại thời phong kiến.. Cái cổ không nhất

thiết là cái phong kiến, mà có cả dân gian nữa chứ!

- “Viết văn phải có tinh thần khoa học. Song có cái genre merveilleux,

genre fictif. Ai chả biết quả đất xoay quanh mặt trời. Thế mà bao đời nay vẫn

viết mặt trời mọc, mặt trời lặn mà cứ phải thừa nhận trong văn học. Thế đấy, có

cái rất phi lý mà vẫn tồn tại”.

Nguyễn Tuân nói liền một mạch như thế, rất say sưa. Trên kia tôi đã

nói đến cái lần, tôi được cử ra Hà Nội mời Nguyễn Tuân vào Đại học Sư phạm

Vinh để nói chuyện về ký chống Mỹ. Chính trong cái lần ấy tôi đã nung nấu

một bài viết về ký chống Mỹ của Nguyễn Tuân (Bài này do chị Thiếu Mai, lúc

đó ở Tạp chí văn học đặt)

Tháng 8 năm 1968, bài viết được đăng trên tạp chí với đầu đề: “Con

đường Nguyễn Tuân đi đến bút ký chống Mỹ”. Vì bài này mà ông Hoài Thanh

(Thư ký toà soạn Tạp chí Văn học lúc bấy giờ) bị ông Trường Chinh gọi lên

khiển trách. Hồi ấy bị ông Trường Chinh phê thì thành chuyện ầm ĩ lắm.

Nguyễn Tuân cũng biết.

Hôm ấy tôi gặp ông đang sắp hàng ở một quán bia hơi ở Phố Huế

(Nguyễn Tuân gọi là bia bơm), ông vẫy tôi lại gần, cười nói: “Họ lôi cả anh vào

với tôi rồi đấy!”.

Có lẽ vì thế chăng mà Nguyễn Tuân có cảm tình với tôi. Tuy vậy tôi từ

đấy cũng không có lần nào gặp Nguyễn Tuân nữa. Không phải ngại gì cả. Tính

tôi thế. Biết người ta có thích mình đến không mà đến. Nghe nói Nguyễn Tuân

rất khó tính, rất kiêu ngạo. Vả lại ông bằng tuổi cha chú của mình, bạn bè gì mà

đến chơi. Có khi ông ấy lại tưởng mình “thấy người sang bắt quàng làm họ”, cứ

đến quấy nhiễu ông.

Người ta đều nhận thấy Nguyễn Tuân là một cây bút rất tài hoa và

uyên bác. Đúng như thế. Nhân vật chính của tuỳ bút là bản thân cái tôi của tác

giả. Ký, tuỳ bút, hay hay dở là phụ thuộc vào cái tôi ấy có phong phú hay

không. Cho nên không uyên bác không trở thành nhà bút ký, tuỳ bút được. Vì

thế Nguyễn Tuân đọc rất nhiều, đọc đủ loại: côn trùng học, địa chất học, địa lý

học, sử học, giao thông vận tải...

Một lần tôi đến Nguyễn Tuân thấy ông đặt trên bàn một cuốn sách viết

về giao thông vận tải của Mỹ, trong dó có bức ảnh chụp buổi lễ khánh thành

đường xe lửa xuyên Mỹ: hai cái đầu tầu đi ngược chiều áp vào nhau nơi lắp cái

đinh bù- loong cuối cùng nối hai đường tầu với nhau. ở hai đầu tầu, có hai

người rót rượu chạm cốc. Cái đinh bù – loong này làm bằng vàng nguyên khối -

Nguyễn Tuân cười nói: “Nếu ở Việt Nam thì cái đinh bù – loong này đã bị đánh

cắp từ đêm trước”.

Sự uyên bác của Nguyễn Tuân cũng có chỗ độc đáo: ông muốn những

tư liệu của ông chỉ mình ông có, nghĩa là độc quyền tư liệu. Thí dụ, có bao

nhiêu tấm ván trên cầu Hiền Lương, hoặc Hà Nội có bao nhiêu cây tươi... Tìm

cho được nhưng tư liệu ấy cũng phiền phức, công phu lắm: phải đóng vai sỹ

quan quân đội đổi gác trên cầu Hiền Lương để đếm được các tấm ván ở cả đầu

Bắc lẫn đầu Nam, phải tìm đến công ty quản lý cây xanh Hà Nội để biết con số

cây tươi của thành phố. Những tư liệu ấy có ý nghĩa gì quan trọng đối với nội

dung và hình thức bài ký? Tôi ngờ rằng ý nghĩa không nhiều. Nhưng Nguyễn

Tuân có lẽ ít quan tâm đến điều ấy. Cái quan trọng đối với ông là: tư liệu ấy chỉ

mình ông có, “đếch” thằng nào biết.

Đầu năm 1980, bỗng nhiên Nhà xuất bản Văn học cho người đến mời

tôi làm Tuyển tập Nguyễn Tuân.

Tất nhiên là tôi rất mừng và cảm động.

Hồi ấy tôi ở một căn phòng thuộc tầng năm của một chung cư gọi là

nhà B2, khu tập thể cán bộ trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Anh Lê Khánh,

biên tập viên NXB Văn học đến thông báo cho tôi và cùng tôi làm Tuyển tập.

Lê Khánh nói, ngày mai ta đến gặp Nguyễn Tuân để bàn chuyện. Tôi

nhất trí ngay. Tôi cũng thấy cần gặp Nguyễn Tuân để hỏi nhiều điều cần thiết để

viết về ông.

Sáng hôm sau, 8 giờ, chúng tôi có mặt ở nhà Nguyễn Tuân. Ông chấp

nhận đề nghị của tôi, hẹn gặp làm việc 8 giờ sáng hôm sau. Ông dặn: “Anh cứ

chuẩn bị sẵn những câu hỏi, đến làm việc cho nhanh”. Hôm sau tôi và Lê

Khánh lại đến.

Tôi bắt đầu hỏi. Nguyễn Tuân gạt đi: “Thôi để lúc khác”. Rồi ông nói

đủ thứ chuyện nhưng không dính dáng gì đến việc viết tiểu sử và làm tuyển tập

cả. Tôi lấy làm lạ bèn hỏi: “Thế bao giờ ta làm việc?”. “Mai, 8 giờ sáng”, ông

lại hẹn đúng như hôm trước.

Tôi không hiểu, nhưng Lê Khánh biết ý. Khi ra về, anh nói với tôi:

“Ngày mai tôi không đến nữa, anh đến một mình thôi. Ông ấy không thích tôi”.

Ngày mai tôi đến một mình. Quả nhiên làm việc rất nhanh chóng trôi

chảy. Tôi hỏi, Nguyễn Tuân trả lời, rất gọn.

Mấy ngày sau, tôi đem chuyện này nói với Xuân Diệu. Xuân Diệu nói:

“Đúng quá còn gì nữa, cậu chẳng hiểu gì cả. Trai gái yêu nhau, nói chuyện tâm

tình với nhau, có người khác ngồi đấy, nói sao được!”. Cái gì Xuân Diệu cũng

liên hệ đến chuyện trai gái.

Khác với Xuân Diệu, Nguyễn Tuân không hề quan tâm gìn giữ những

tài liệu của mình. Làm tuyển tập Nguyễn Tuân, tôi không khai thác được tài liệu

gì quan trọng của ông hết, ngoài hai cuốn kiếm đâu cũng được: cuốn tuỳ bút

Tình chiến dịch và tiểu thuyết Quê hương (Sài Gòn in lại, vất đi nhiều chương

một cách rất tuỳ tiện). Ngoài ra có tập Tôi đọc, tập hợp những bài tiểu luận phê

bình viết sau cách mạng tháng Tám. Cuốn sách này vừa in ra đã bị cấm, phải

huỷ hết. May mà Nguyễn Tuân giữ lại được một bản. Thực ra những bài in

trong Tôi đọc cũng không khó tìm. Toàn những bài đã đăng trên sách báo sau

cách mạng.

Thành ra làm Tuyển tập Nguyễn Tuân, tôi phải tự xoay xoả lấy cả. May

mà tôi đã nghiên cứu Nguyễn Tuân từ hai mươi năm trước (1960) nên biết được

hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Tuân đã in thành sách hay đăng lên các loại

báo chí. Có những tờ báo không tên tuổi, chẳng ai để ý như tờ Tuần lễ. Tôi đã

tìm được ở đấy bài Răng người tình của Nguyễn Tuân, viết năm 1938.

Khi bắt đầu làm tuyển tập, Lê Khánh nói với tôi: “Tuyển văn Nguyễn

Tuân phải cẩn thận, thí dụ như bài Chém treo ngành thì không nên tuyển”.

Nhưng tôi rất thích truyện này, một truyện rất Nguyễn Tuân. Tôi đi tìm

nguyên bản tác phẩm này khi chưa bị kiểm duyệt, đăng trên Tao đàn thời Mặt

trận dân chủ Đông Dương. Mới thấy bọn kiểm duyệt thời Tây rất tinh. Nó cắt đi

ba chi tiết mà tác phẩm chuyển hẳn tư tưởng. Quả là chi tiết trong truyện ngắn

cực kỳ quan trọng: một là nó bỏ cái tên tác phẩm Bữa rượu máu, thay bằng

Chém treo ngành, hai là hình ảnh thằng công sứ Tây và thằng tổng đốc ta chuốc

cho nhau hai tuần rượu và cái chi tiết cơn lốc lớn chạy giữa hai hàng tử tù, đuổi

theo và lật cái mũ thằng công sứ quẳng xuống cho lăn lộn mấy vòng trên bãi cỏ

pháp trường.

Tôi đưa ngay tác phẩm này vào Tuyển tập một cách đắc ý. Nguyễn

Tuân rất khoái. Ông mời tôi uống rượu và chửi Hoàng Trung Thông: “Thế mà

Hoàng Trung Thông nó bảo nhấm nháp chém đầu người. Thằng cha cũng làm

văn mà sao nó ngu thế!”.

(Vậy mà mãi sau này, trong “Chân dung và đối thoại”, Trần Đăng

Khoa vẫn lặp lại ý kiến của Hoàng Trung Thông).

Tôi để ý thấy có hai trường hợp, Nguyễn Tuân không đồng ý cho vào

Tuyển tập. Một là bài ông viết về tranh lụa Nguyễn Phan Chánh, hai là bài ông

viết về Dostoievsky. Bài thứ nhất có lẽ do Nguyễn Phan Chánh là bố vợ Lê

Quang Đạo, khi chết được đặc cách đưa vào Mai Dịch. Ông ghét Lê Quang Đạo

chăng? Còn bài thứ hai là vì lý do khoa học. Ông tự thấy chưa đọc hết các công

trình về Đôxtôi, và đọc ai, mượn ý của ai, giờ ông không có điều kiện tra cứu để

chú thích cho sòng phẳng. Về mặt này, Nguyễn Tuân tỏ ra rất nghiêm khắc về

mặt khoa học (Sau , chúng tôi nài mãi ông mới chịu. Nhưng ông yêu cầu phải

cho ông viết mấy dòng gọi là “Tái bút” để thanh minh với độc giả).

Hồi năm 1929, ông học ở trường Thành Chung Nam Định, do tham gia

một cuộc bãi khoá để phản đối một giáo viên người Pháp nói xấu người Việt

Nam, ông bị đuổi học. Trường học ghi vào học bạ, phạt những người tham gia

bãi khoá năm năm không được học ở trường nào, không được làm ở công sở

nào. Ông về Thanh Hoá rủ một người bạn (theo Tô Hoài, là Lương Đức Thiệp)

đi chơi qua Lào, sang Thái Lan, đến Băng Cốc, thì mật thám bắt giải về nước

theo đường Cămpuchia về Sài Gòn, rồi đưa ra quản thúc ở Thanh Hoá, nơi cụ

thân sinh ra ông làm việc.

Khi làm Tuyển tập Nguyễn Tuân, tôi hỏi ông, sang Thái Lan làm gì?

Ông nói: “Người khác sẽ nói là đi tìm đường cứu nước. Nhưng tôi thì nói thật,

vì đi chơi không có giấy phép nên nó bắt, thế thôi”. (Theo Tô Hoài, Nguyễn

Tuân rủ Lương Đức Thiệp sang Xiêm để tìm ngọc ở Pâylinh).

Trong quá trình làm Tuyển tập Nguyễn Tuân, tôi có điều kiện tiếp xúc

luôn luôn với ông. Ông quả là người khó tính, không phải ai đến, ông cũng tiếp.

Có lần ông đuổi một anh thanh niên đường đột đến thăm ông: “Anh đến gặp con

gái tôi đấy à? Nó đi vắng rồi!”. Lại nghe nói có một cán bộ lãnh đạo ông không

ưa, đến chúc Tết ông, ông mở cửa sổ nhìn xuống nói: “Nguyễn Tuân đi vắng”,

rồi đóng sập cửa lại...Nguyễn Văn Hạnh muốn đến ông, nhưng cũng ngại... Vậy

mà đối với tôi, ông tỏ ra rất dễ dãi. Ông cho phép tôi đến ông lúc nào cũng

được, không cần báo trước, miễn là đến sau 10 giờ sáng. Trước giờ đó, ông có

thói quen đi dạo mấy vòng ngoài phố, 10 giờ thì về ăn cơm.

Có điều này, ông nói tôi mới biết: Anh Lý Hải Châu, giám đốc Nhà

xuất bản Văn học đề nghị hai người làm Tuyển tập Nguyễn Tuân, tuỳ nhà văn

quyết định. ấy là Vũ Ngọc Phan và tôi. Nguyễn Tuân đã chọn tôi. Tất nhiên tôi

rất cảm động, nhưng vinh dự này cũng đặt lên vai tôi một gánh nặng: phải chọn

lựa tác phẩm và nhất là phải viết bài giới thiệu sao cho xứng đáng với sự tín

nhiệm của ông.

Bài viết chỉ có hơn 60 trang (in chữ nhỏ), mà tôi đã phải viết trong hơn

sáu tháng. Rất may đã được Nguyễn Tuân cho là được. Ông chỉ nói vắn tắt “Tôi

không có ý kiến gì khác”.

Tuyển tập Nguyễn Tuân gồm hai cuốn, xuất bản năm 1981, 1982.

Ngày 29 – 5 – 1982, Nguyễn Văn Bổng, hồi đó làm tổng biên tập tuần

báo Văn nghệ, tổ chức một cuộc toạ đàm về Tuyển tập Nguyễn Tuân ở trụ sở

Văn nghệ. Hôm ấy có mặt Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Tế Hanh, Phạm Hổ, Lý

Hải Châu, Lê Khánh,Từ Sơn, Ngọc Trai, Nguyễn Bao, Thiếu Mai... và tôi.

Tôi nhớ hôm ấy, Xuân Diệu nói: “Nghe nói văn Chùa Đàn rất hay,

nhưng không có trong Tuyển tập. Phải trích vài trang Chùa Đàn cho người ta

biết mặt mũi tác phẩm này chứ. Tại sao không cho người ta có cái thú đọc văn

hay nhỉ! Qua Tuyển tập, tôi mới hiểu được anh Nguyễn Tuân. Tại sao lại cứ đòi

văn phải có ý nghĩa. Trai gái nó hôn nhau thì cần gì ý nghĩa. Sự sống có ý

nghĩa gì đâu. Tôi rất thích truyện “Một vụ bắt rượu lậu”. Dân mình thông

minh, hóm thật đấy. Xưa tôi đã từng làm đoan, tôi cũng đã từng đi bắt rượu lậu

mà không biết.”

Hôm ấy, Nguyễn Tuân rất vui. Ông phát biểu rất hào hứng: “Hiện nay

có một Tuyển tập Nguyễn Tuân ở California, một cuốn ở Paris, một cuốn ở Sài

Gòn, tôi tặng tướng Trần Văn Trà do bài hồi ký của ông ta.”

Hôm ấy, ông cũng nói công khai về việc chọn tôi làm Tuyển tập: “Vũ

Ngọc Phan hồi xưa làm báo Revue Franco – Annamite, đi xe nhà, làm cái “Nhà

văn hiện đại" chữ nghĩa chằn chẵn ra, chẳng có trouvaille gì, gọi là cái

catalogue St étienne littéraire. Có vẻ accadémique. Giữa hai người, chọn

Nguyễn Đăng Mạnh còn đỡ hơn”.

Ông phê bình việc cắt xén truyện Rượu bệnh tôi trích và đổi tên là Bố

Ô: “Trích như thế làm cho không còn có tính chất yêu ngôn nữa, đó là

fantaisiste và fantastique kia mà, lão Bố Ô còn huýt sáo, còn có chuyện cháy

nhà...

Tôi còn có truyện Thạch tinh, không nhớ đăng báo nào: một anh ăn

chơi, bị sỏi thận. Đêm, hai viên sỏi thận (thành tinh) nói chuyện với nhau,

người đó nghe được”.

Ông nói tiếp: “Còn Như Phong, còn Mao, thì không thể có Tuyển tập

Nguyễn Tuân. Ông Như Phong có lần nói, văn Nguyễn Tuân để cho người hút

thuốc phiện và hát ả đào đọc. Tôi giận lắm. Tôi bảo Như Phong: “Tôi giận anh

lắm, thế trước cách mạng, tôi hút, anh cũng hút. Thế có phải lúc đó vì đọc sách

của tôi mà anh hút không?”

Ông Vũ Đức Phúc rất ghét văn tôi, vậy mà gần đây ông ấy phải viết

khen văn tôi. Nhưng mà sau khi khen ông ấy lại sợ người ta hiểu sai, đề cao tôi

quá, lại nói Nguyễn Tuân không phải là nhà văn lớn. Nào tôi có muốn là nhà

văn lớn đâu, tôi chỉ mong làm một nhà văn trung bình, viết về cái gì mình thích,

thế thôi.

Hồi Tạp chí Văn hoá – Nghệ thuật có phân ra các ban về văn hoá: ăn,

mặc, ở. Hà Huy Giáp bảo tôi: Anh hay chú ý về cái ăn, vậy anh suy nghĩ xem có

cái gì viết, tìm ra lý luận gì về ăn uống. Tôi viết về giò chả. Ông Vũ Đức Phúc

phê phán là phục vụ bọn phe phẩy mặc áo phin nõn, áo nilông. Sau có chuyện

mậu dịch ta bán phở, thế là phục vụ phe phẩy à?

ở Hàng Buồm có quán Bạch Ngọc cơm tám giò chả rất ngon, mở từ

thời xưa, có thanh toán hết nợ cũ (tháng trước) thì mới bán tiếp. Bà chủ quán

bảo tôi: “Ông ăn uống mãi mà ông dại. Người ta ăn gấp mấy ông nhưng không

nói. Ông ăn, ông nói, nên ông chết”.

Lúc ấy có một anh nhiếp ảnh của báo Nhân dân đến chụp. Nguyễn

Tuân lại chuyển sang nói về chụp ảnh: “Camus nói, le photographe, c’est

l’histoire de l’instant. Có người lại ví quay phim là lia một băng liên thanh, còn

chụp ảnh là lẩy phát một. Chụp ảnh là làm một việc rất thiện ý mà người ta khó

chịu”.

Cuối cùng ông lại quay về chuyện Tuyển tập. Ông nói: “Cái người đàn

bà không đẻ được nữa, người ta gọi là tắt kinh, còn nhà văn không viết nữa,

già, hết thời, tôi gọi là đến thời kỳ “tuyển hồi” (viết hồi ký và làm tuyển tập). In

tuyển tập tập I là un pieds dans la tombe rồi, in tập II thì là đưa cả hai chân...”

Từ sau chuyện Tuyển tập, thấy Nguyễn Tuân dễ dãi với mình, tôi thỉnh

thoảng lại đến ông. Tuy vậy lần nào đến cũng phải kiếm một cớ gì đấy, gọi là có

việc, chứ không phải đến chơi suông.

Hôm ấy, nhân nghe nói, ông có những nhận xét rất ác về giới phê bình

văn học, tôi đến ông để dò hỏi về điều này. Quả là ông không mấy lạc quan về

tình hình phê bình văn học.

Ông nói: “Nước mình không qua tư bản chủ nghĩa, người ta thấy có

trở ngại về kinh tế, song chưa thấy trở ngại về tư tưởng. Lão Khổng Tử ghê

gớm lắm!

Phê bình hiện nay cứ có lối aurait écrire, lối conditionnel. Vào hàng

phở lại đòi ăn cơm và phê bình không nấu cơm, lẽ ra nấu cơm thì sẽ ... hay hơn.

Thành ra để tránh conditionnel, người viết phải dùng toàn inpératif hay

infinitif.

Tây phương nó đòi dân chủ, bàn đã khá triệt để, đòi được tự do, được

quyền phạm sai lầm, revendiquer le droit de l’ erreur. Không phải để làm bậy

đâu mà đòi một cái marge cho tự do tìm tòi. Nếu bắt phải đúng thì ai dám tìm

tòi. Mà sao phạm sai lầm lại là độc quyền của một số người!

Trong lịch sử ta đã có lúc giương lá cờ độc lập tự do để tập hợp nhân

dân, nhưng không mấy khi dám giương riêng lá cờ dân chủ.

On trouve quand on cherche. Quand on cherche, on trouve quelque

chose. Khi người ta tìm có thể không tìm ra cái định tìm, nhưng nhất định tìm

ra cái gì đó, một cái khác với dự định.

Hiện nay đang hình thành một thứ provincialisme, một thứ chủ nghĩa

tỉnh xép trong quan niệm, trong tình thần lãnh đạo.

Người ta phê bình Tình rừng của tôi cũng theo lối aurait écrire.

Còn cuộc tranh luận chung quanh thể ký thì cứ cãi nhau ký với cấu, ký

không cấu, đúng là trò cười.

Về Vũ Trọng Phụng thì tôi biết, chả có trốt – kít gì cả đâu. Hồi ấy viết

lách lung tung lắm.

Hiện nay người ta ách nhiều thứ quá. ách truyện ngắn Gogol, ách Le

Rouge et leNoir, ách Guy de Maupassant, Le Boule de suif, định dịch Le steppe

sau lại thôi. ách cả La peau de chagrin... Phê bình thì theo kiểu aurait écrire.

C’ est une gratuité. Tôi ghét nhất loại chính thống orthodoxe mà lại giả vờ thắc

mắc, để do thám, aux écoutes người khác. ách Miếng da lừa vì cho là chủ nghĩa

sống gấp. ách Le Rouge it le Noir vì cho rằng ông cha ta, vợ chồng ngủ với

nhau cũng khăn áo chỉnh tề, nay nó lại dám cởi quần áo ra thì láo quá!

ở ta, một mặt khuyến khích réalisme, mặt khác lại tránh cái réel. Tạo

ra một thứ littérature abstraite, hình như không đúng phương pháp nghệ thuật.

Chỉ nói ý, không có hình tượng thật. Theo tôi cần làm một essai có hệ thống về

vấn đề này.

Tôi thấy cần chuyển câu chuyện sang hướng khác, và muốn tìm hiểu

xem khuynh hướng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân như thế nào khi đọc các sách vở

ngoài nước (từ 1945 đến 1975, sách vở nước ngoài vào nước ta chủ yếu là sách

Liên Xô, Trung Quốc)

Nguyễn Tuân tỏ ra có tình cảm với văn học Nga hơn. Ông nói, thích

Gogol, Tchékhov, thích Le Manteau. Thích Paoutovsky. Cuốn Histoire d’ une

vie, sáu tập của Paoutovsky có đoạn văn rất tuyệt: trên tàu điện, người ta phân

phát cho mỗi người một bông hoa. Một đoạn văn có cái lyrisme rất hay.

Nguyễn Tuân rất ghét lối phê bình văn học kiểu Mao-it của Tầu lúc

bấy giờ. “Cuốn Ballade d’un soldat nói về một anh lính lúc đầu nhát, sau có

thành tích. Họ phê phán: “Sao lại đưa ra một anh lính nhát”. Tra từ điển

Larousse, tôi thấy nó định nghĩa: le courage, c’ est triompher la peur. Không

phải can đảm sinh ra đã có, phải có quá trình chứ. Người ta không thích quá

trình, cứ phải sinh ra đã can đảm rồi.

Chung quy là do thiếu văn hoá. Thiếu văn hoá thì sinh ra hẹp hòi. Đó

cũng là tư tưởng của phong kiến và của nông dân”.

Một lần khác, vào đầu tháng 11 năm 1986, tôi lại đến thăm Nguyễn

Tuân. Nhân đang làm tuyển tập Vũ Trọng Phụng, tôi muốn hỏi ông một vài chi

tiết cụ thể về nhà văn này mà tôi biết ông rất quý. Ngoài ra muốn ông viết cho

một bài về Vũ Trọng Phụng để in vào Tuyển tập.

Lúc tôi đến, ông đang nằm xem sách. Ông ngồi dậy, có vẻ mệt mỏi.

Trên bàn thấy có một mâm cơm rất đạm bạc. Một bát cơm ăn dở. Vài miếng

dứa trên một cái đĩa.

Tôi hỏi ông về ngôi nhà của Vũ Trọng Phụng ở Cống Mọc, Vũ Trọng

Phụng chết ở đó. Tôi nói anh Vũ Đình Liên cho tôi biết đó là một ngôi nhà lá.

Nguyễn Tuân cau mặt:

- Tôi ghét cái anh Vũ Đình Liên. Nhà ở Chợ Đuổi, chả biết vợ con xích

mích thế nào, không ở được với nhau, cứ đến ở nhà Vũ Trọng Phụng. Đúng là

một anh thần kinh!

- Tôi ghét anh Vũ Đình Liên. Tôi biết hồi trước anh ta có chơi bời gì

đâu. Thế mà cứ nói dối là ngày xưa tôi cũng chơi bời cô đầu, cô đít, ra vào tiệm

ăn, tiệm hút... Giống như cái anh Vũ Ngọc Phan. Hay gì, đẹp đẽ gì cái đó mà

cũng phải nói dối, cứ “hư cấu” ra làm cái gì.

Ông lắc đầu, để tay lên ngực; “mùa rét, mệt”. Ông lấy một miếng dứa

ăn tự nhiên, uống một hớp rượu trong cái ly uống sâm banh – ly tròn có chân.

- Tôi đã viết trong bài đăng ở Tao đàn: Vũ Trọng Phụng chết ở ngôi

nhà ngay ngoài phố, gần Cầu Mới, chỗ Ngã Tư Sở, đường Hà Nội – Hà Đông.

- Tôi hỏi: Vũ Trọng Phụng có hút thuốc phiện?

- Có, Vũ Trọng Phụng có hút thuốc phiện, để kéo dài cuộc sống, vì anh

ta bị ho lao. Có đem bàn đèn về nhà.

- Bác quen Vũ Trọng Phụng từ hồi nào?

- Không nhớ.

- Từ hồi còn ở Hàng Bạc?

- ờ.

- Bác có đến chỗ ở cuối cùng của Vũ Trọng Phụng và có đưa ma Vũ

Trọng Phụng?

- Có. Tôi không thể nào nhầm, nhầm thế nào được! Tôi ghét cái anh

Vũ Đình Liên...

Tôi tranh thủ chuyển sang hỏi ông cái điều mà tôi luôn trăn trở:

“Người ta hay nói về phong cách Nguyễn Tuân. Nhưng bác lại ít nói về phong

cách. Quan niệm của bác về phong cách là thế nào?

Nguyễn Tuân ngồi im lặng, vẻ mặt như sắp nói một điều gì đã có quan

niệm rất rõ, Nghĩa là sắp phát biểu một tuyên ngôn rành mạch. Một lát, rồi ông

chỉ tay ra trước mặt, nói chậm rãi:

- “Những người viết mà được chế độ này chấp nhận, hay hay dở chưa

biết, nhưng được chế độ này chấp nhận về thế giới quan, nhân sinh quan. Trên

cơ sở cái nhân sinh quan, thế giới quan chung ấy, mỗi người lại có một cái

nhỡn quan riêng, tiếng Pháp gọi là vision. Đó là cái đẻ ra phong cách. Vì cái

đó mà anh thì thích tả gió, tả nắng, anh thì thích tả mây, tả mưa, người có sở

trường này, người có sở trường nọ. Rồi cách đưa vấn đề cũng khác nhau... Nó

đẻ ra tất cả.

Văn học có cái rất vui là phong cách, cách nói, cách quan niệm về

nghệ thuật khác nhau. Anh giảng dạy lại không đi vào đấy, chỉ nói về nội dung,

về tư tưởng nên trở thành nhạt nhẽo vô duyên. Tại anh thôi, cái chỗ phong phú

nhất, vui nhất, “xôm” nhất anh lại đếch đi vào nên người ta chán”.

Như đã nói, lúc này tôi đang làm Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (1986).

Vì thế tôi thử dò ý xem Nguyễn Tuân có muốn viết gì cho tuyển tập này không.

Ông lắc đầu nói, giờ không viết gì được nữa.

Tôi nói có ý định làm một cuốn sách gọi là “Việt Nam, đất nước,

phong tục, con người qua các trang văn của Nguyễn Tuân”. Ông tán thành và

nói cứ làm đi.

Tôi lại hỏi ông, vì sao Tờ hoa bị phê phán? Ông Hoài Thanh, anh Chế

Lan Viên cho là ông ám chỉ sai lầm của cải cách ruộng đất?

Nguyễn Tuân nói:

- Vì ông Trường Chinh không thích nên tất nhiên là họ cũng không

thích.

Tôi gợi ý:

- Tờ hoa chỉ có cái chi tiết con ong bị đập, nó đốt lại thế thôi.

Nguyễn Tuân nói:

- ờ. Còn cái này nữa: con bướm – Con bướm cánh phấn sặc sỡ, đẹp

như những khẩu hiệu. Nhưng mà chả ai nói đến mật bướm cả. Còn con ong nó

rất hiền, nhưng đập nó, trêu ghẹo nó thì nó mới đốt cho.

Ông Trường Chinh không thích. Ông ấy nói với tôi như thế ở một cuộc

hội nghị văn nghệ gì đó trước giờ khai mạc. Ông ấy và tôi cùng ngồi chủ tịch

đoàn. Ông ấy nói: “Đả thằng phi công Mỹ thì anh viết mới được, nhưng tôi

không thích bài Tờ hoa của anh”.

Tiếp xúc nhiều với Nguyễn Tuân, tôi thấy ông không nói yêu ai, mến

ai bao giờ. Điều này trái hẳn với Xuân Diệu. Qua các bài viết của ông, tôi biết

ông rất quý Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Hoàng Phủ Ngọc

Tường, Nguyễn Văn Bổng, Lý Hải Châu... Quý nhưng không thích nói ra

miệng. Theo anh Lý Hải Châu, ông cũng rất quý bác sĩ Trần Hữu Tước. Khi

Trần Hữu Tước mất, ông nói: “Sao những người tử tế thì chết, mà mấy thằng

đểu giả mất dạy thì cứ sống mãi!”.

Nguyễn Tuân đặc biệt rất quý Nguyên Hồng. Hôm làm lễ truy điệu

Nguyên Hồng ở Hà Nội (ngày 11 – 8 – 1982, tại 51 Trần Hưng Đạo), tôi được

chứng kiến tận mắt Nguyễn Tuân thương tiếc Nguyên Hồng như thế nào. Từ

hàng ghế quãng giữa hội trường, ông chống gậy lọm khọm đi lên phía sân khấu.

Ông khóc mãi không nói được.

Một lúc sau mới chậm rãi thuật lại một số kỉ niệm của ông với Nguyên

Hồng. Ông kể lại cái lần gặp Nguyên Hồng trên một chuyến tàu Hà Nội – Nam

Định. Nguyên Hồng được phóng thích từ Căng Bắc-Mê ra, còn ông thì bị đưa ra

đối chất với một số người bị bắt rồi cũng sẽ bị đưa đi tù. Một người ra tù, một

người vào tù. Ông nói với Nguyên Hồng: “Anh là người chuyên tô tượng đúc

chuông, còn tôi thì chuyên phá đình phá chùa”.

Cả hai cùng đi tù. Chi tiết này mấy anh ở Liên Xô không hiểu: sao

khác quan điểm mà đều bị tù? Tôi có đưa chi tiết này vào bài tựa viết cho tập

truyện ngắn của Nguyên Hồng in ở Liên Xô. Chính cái chuyện viết bài tựa này

cũng là một kỉ niệm khó quên. Ông nói: “Hôm ấy tôi hứa viết xong bài, nhưng

rồi lỡ hẹn. Bẩy giờ sáng, anh con trai Simonov dựng tôi dậy, bắt ra xe đến chỗ

làm việc. Anh ta nói: “Chúng ta chỉ đi ăn trưa khi nào viết xong bài tựa”. Cách

làm việc như sau: Tôi nói, một người dịch, một người đánh máy. Vì Nguyên

Hồng mà lần đầu tiên tôi phải làm việc như thế đấy.”

Ông nói tiếp về Nguyên Hồng:

202

“Người ta có bốn cái khổ: sinh, lão, bệnh, tử. Nguyên Hồng bỏ qua hai

khâu lão, bệnh, đi thẳng từ sinh đến tử. Ai dám bảo Nguyên Hồng là lão. Văn

còn trẻ lắm!

Trước khi giác ngộ cộng sản, Nguyên Hồng theo đạo. Anh tin thiên

đường ở trên trời, dưới đất chỉ có khổ não và tội lỗi. Sau này giác ngộ cách

mạng, anh biết thiên đường có thể có trên mặt đất này. Nói đến đấy, ông dừng

lại và bỗng hô to: “Hồng ơi! Hãy yên nghỉ! Hồng ơi! Hãy yên nghỉ”. Ông vừa

nói vừa khóc.

Nguyễn Tuân cũng rất quý Ngô Tất Tố. Ông đã viết một bài ca ngợi

hết lời tiểu thuyết Tắt đèn và nhận đóng vai Chánh tổng trong phim Chị Dậu.

Theo Nguyên Ngọc, Nguyễn Tuân đóng phim Chị Dậu chẳng qua vì có tình với

Ngô Tất Tố. Lúc ấy ông yếu lắm. Tuy chỉ đóng một thoáng thôi, nhưng phải đi

ngựa (phim quay ở đình Đồng Kỵ). Đêm trước ông bị sốt. May, sáng hôm sau

khỏi, ông lại uống rượu rất vui.

Nguyễn Tuân cũng rất quý Lý Hải Châu. Hồi làm giám đốc Nhà Xuất

bản Văn học, Lý Hải Châu đã đấu tranh cho việc làm Tuyển tập Nguyễn Tuân,

Xuân Diệu... Anh Châu làm tình báo cách mạng từ trước 1945, đã từng bị thực

dân kết án tử hình. Anh là một trí thức rất có bản lĩnh. Tôi nhớ khi Tuyển tập

Nguyễn Tuân được xuất bản, Nguyễn Tuân nói: “Không có Lý Hải Châu thì

không thể có Tuyển tập Nguyễn Tuân”.

Nguyễn Tuân cũng có cảm tình với Nguyễn Văn Bổng và Hoàng Phủ

Ngọc Tường. Ông khen Hoàng Phủ Ngọc Tường viết được, có văn hoá.

Nguyễn Tuân cũng rất quý ĐTM. Nhưng ông không đánh giá cao

ĐTM về tư cách nhà văn. Hồi ông vào Đại học Sư phạm Vinh sơ tán ở Thạch

Thành, Thanh Hoá, ông nói với tôi: “Anh ĐTM là người tôi rất quý. Nhưng nếu

có ai hỏi, ĐTM có những tác phẩm gì, thì tôi lúng túng quá!”. Tôi để ý thấy

Nguyễn Tuân tỏ ra rất thích thú câu tâm sự rất riêng này của ĐTM vì ông nhắc

lại với tôi hai lần: “Tôi là thằng đàn ông biết độc có một cái l”. (ĐTM nói tiếng

Pháp: je suis un homme d’ un seul vagin). Nguyễn Tuân nói xong cười thích

thú, cuống mũi nhăn lại, cái mũi đã to, càng to hơn trên bộ ria Hoa Kỳ rất

Nguyễn Tuân.

Đối với Tố Hữu, một mặt ông không quên cái việc nhà thơ đã đánh giá

cao uy tín của ông đối với giới văn nghệ. Sau cách mạng tháng Tám, được Đảng

gọi ra Hà Nội lãnh đạo văn nghệ, người đầu tiên Tố Hữu thấy cần phải gặp là

Nguyễn Tuân và đến năm 1948 thì đưa ông lên làm tổng thư ký Hội Văn nghệ

Việt Nam. Ngoài ra Tố Hữu cũng là người giới thiệu ông vào Đảng. Dù sao ông

cũng không quên thiện ý ấy. Vì có lần tôi hỏi ông về Tố Hữu, ông nói: “Tố Hữu

là người đỡ đầu cho tôi về tư tưởng” (ông nói tiếng Pháp: parrain idéologique).

Và trong liền mấy năm, cứ vào dịp đầu xuân, ông lại gửi cho Tố Hữu một cái

thiếp chúc tết (bonne année) có in nghiêng một cành hoa tím (Tố Hữu có làm

một bài thơ gọi là Hoa tím tặng Nguyễn Tuân in trong tập Gió lộng). Nhưng về

sau, bẵng đi, Nguyễn Tuân không gửi nữa. Tố Hữu buồn lắm, nhờ Hà Xuân

Trường hỏi xem. Hà Xuân Trường nhờ Hoàng Ngọc Hiến. Nhưng Hiến ít có

quan hệ với Nguyễn Tuân nên lại nhờ tôi. Rất tiếc là tôi quên mất.

Đầu năm 1987 (1.1.1987), trong một cuộc liên hoan nhẹ ở Nhà xuất

bản Tác phẩm mới (65 Nguyễn Du), tôi có được dự, Nguyễn Tuân kể chuyện

vừa đến thăm Tố Hữu (lúc này Tố Hữu đã mất hết mọi chức vụ). Ông nói: “Văn

bây giờ chỉ viết về tương lai hay quá khứ thôi. Hiện tại không viết. Chỉ viết cái

lẽ ra nên như thế. Vì thế không thấy cái xấu, chỉ thấy cái tốt. Chỉ viết toàn cái

tốt là không tốt. Tôi nói thế với anh Lành, anh ấy cũng tán thành.

Ông Tố Hữu phải có một phen bị quật hẳn xuống như thế ông ấy mới

tỉnh ra, ông ấy phải rơi xuống như bọn mình thì mới thấy khác. Hôm tôi đến

thăm, ông ấy mừng lắm, vui lắm, tiễn tôi mãi ra xa. Tôi xua tay bảo ông về và

hỏi: “Cây táo của anh còn không? Cây táo ông Lành còn không? Cho tôi xin

mấy quả. Người ta nói cây táo có ma nên không có quả?”.

Tố Hữu cười một cách đau khổ - Nguyễn Tuân nhận xét một cách hóm

hỉnh.

Nguyễn Tuân yêu ai, quý ai thì không thích nói ra, nhưng ghét ai thì

nói thẳng, nói công khai, không chút dè dặt. Mà đã ghét thì thường phát ra

những câu rất ác.

Những người ông ghét khá nhiều. Theo tôi được biết, ấy là : Như

Phong, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Phùng Bảo Thạch, Hoài Thanh, Vũ

Đình Liên, Vũ Ngọc Phan, Bùi Huy Phồn, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Phan Cự

Đệ, Anh Thơ, Huy Cận, Hoàng Văn Hoan, Trường Chinh...

Nhưng theo tôi, chỉ kể trong số người viết văn, ông ghét nhất ba người:

Như Phong, Hoàng Trung Thông và Chế Lan Viên.

Như Phong chết rồi, ông còn gọi là thằng mặt lợn.

Ông ghét Hoàng Trung Thông kể ra cũng dễ hiểu. Thông có thời gian

làm Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật và từng quy chụp chính trị nhiều tác phẩm của

Nguyễn Tuân .

Tôi đã chứng kiến Nguyễn Tuân nổi nóng và đã chửi Hoàng Trung

Thông như thế nào khi tôi tìm được nguyên bản Bữa rượu máu để đưa vào

Tuyển tập Nguyễn Tuân.

Vào năm 1973, tôi từng được nghe Hoàng Trung Thông và Lưu Quý

Kỳ nói chuyện về một hiện tượng mà các anh gọi là luồng gió đen hay luồng

gió độc gì đó thổi vào nền văn học miền Bắc nước ta, trong đó có những bài

Tình rừng, Giò lụa... của Nguyễn Tuân.

Nhưng Hoàng Trung Thông vẫn phục tài Nguyễn Tuân. Và khi về già,

cũng muốn có mối quan hệ tốt với ông. Năm 1986, Thông đăng trên Văn nghệ

bài “Anh Nguyễn Tuân”, một bài thuộc loại chân dung văn học. Thông lấy làm

đắc ý lắm. Anh nói với tôi: “Anh là nhà nghiên cứu, anh viết khác. Tôi là người

sáng tác, tôi viết khác”.

Tôi chắc Hoàng Trung Thông nghĩ rằng bài ấy Nguyễn Tuân có xem

và không ghét mình nữa, nên Tết năm ấy (1987) anh bảo con đèo đến chúc Tết

Nguyễn Tuân. Chẳng ngờ Nguyễn Tuân không tiếp.

Nghe nói Hoàng Trung Thông đã khóc.

204

Biết chuyện này, tôi bèn tìm đọc bài viết của Hoàng Trung Thông xem

thế nào. Tôi thấy viết như thế Nguyễn Tuân ghét là phải. Đại khái bài viết có

những câu như thế này: Anh nói Thiếu quê hương,”song chúng ta làm gì mà

phải đến nỗi thiếu quê hương”, “có những lúc tưởng như anh xa rời Đảng, rồi

anh lại gắn chặt với Đảng. Vì anh biết rằng anh không thể xa rời Đảng được”,

“Anh đã viết Tình rừng, dẫu rằng những bài văn đó có đôi chỗ sai sót, nhưng

trong đó vẫn đầy rẫy những tâm tình về sông nước, con người”, “Tôi biết có

lúc Nguyễn loạng choạng, nghiêng ngả. Nhưng khi anh vịn vào từng câu, từng

trang văn, anh đứng thẳng dậy, rồi anh đi, đi đàng hoàng và có lúc đi nghênh

ngang nữa để cùng với những bạn văn của mình đi đến đỉnh cao của văn

chương Việt Nam”...

Đúng là có giọng tuyên huấn! Vẫn viết theo giọng tuyên huấn!

Ngoài ra, Nguyễn Tuân còn ghét điều này nữa ở bài viết ấy: nguyên là

ngày xưa, có một lần Nguyễn Tuân, Hoàng Trung Thông về Đông Anh cùng

với vợ chồng Nguyễn Hồng Phong – Ngọc Trai. Phong quê ở Đông Anh. Đêm

ấy họ đi xem một đoàn cải lương Nam Bộ biểu diễn vở gì đó ở bên cạnh thành

Cổ Loa.

Nguyễn Tuân nhớ gần đó có làng Quậy – rượu Quậy rất ngon – quê

một đào hát ông đã quen rất lâu. Họ bèn đến hỏi thăm thì được biết cô đào ấy đã

thắt cổ tự tử rồi vì bị quy là phản động gì đó trong cải cách ruộng đất. Buồn

quá! Họ uống rượu, rượu rất ngon, đúng là rượu Quậy. Nguyễn Tuân vừa uống

vừa khóc, vừa hát đi hát lại bài hát rất buồn của Đặng Thế Phong: “Ngoài hiên

giọt mưa thu thánh thót rơi...”

Trong bài viết của mình, Hoàng Trung Thông có đưa chuyện này vào.

Nhưng Nguyễn Tuân cho là anh đã diễn đạt không đúng tâm sự của mình lúc ấy

nên càng ghét: “Mình buồn cho những kiếp người chịu oan khuất, buồn cho

đời. Nó lại viết như mình khóc nhân tình vậy” – Chị Ngọc Trai nói lại với tôi

như thế.

Nguyễn Tuân cũng rất ghét Chế Lan Viên.

Một lần tôi đến Xuân Diệu. Xuân Diệu bảo tôi: “Mình nghe nói

Nguyễn Tuân vừa phát biểu một câu rất hay về Chế Lan Viên”. Và anh nhắc lại

cho tôi nghe cái câu rất ác ấy. Nhưng tôi muốn biết đích xác câu nói ấy từ chính

miệng Nguyễn Tuân kia, nên tìm đến ông. Tôi gạ chuyện: “Vừa rồi anh Xuân

Diệu cho tôi biết bác có nói một câu gì đó rất hay về Chế Lan Viên”.

Nguyễn Tuân ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Cái anh Xuân Diệu từ ngày

vợ bỏ đến giờ có khá hơn” (Cho đến nay tôi vẫn không hiểu ý nghĩa của câu nói

đó. Khá hơn là thế nào? Tại sao vợ bỏ lại khá hơn?

Nguyễn Tuân nói tiếp: “Có hai chữ thi nhân và thi sĩ. Tôi thích chữ thi

nhân hơn. Thi sĩ là chỉ anh có nghề làm thơ. Còn thi nhân thì sang và đẹp từ

bản chất con người. Chế Lan Viên không đáng gọi là thi nhân. Thi sĩ thì có thể

được bao nhiêu phần trăm đấy”. Như thế nghĩa là, theo Nguyễn Tuân, Chế Lan

Viên cũng chưa được coi là thi sĩ trăm phần trăm.

Ông tiếp tục: “Một hôm tôi đi vào phòng văn thư của Hội nhà văn. Tôi

đi vào đúng lúc Chế Lan Viên đi ra. Hình như anh ta đến để lấy vé máy bay đi

vào Sài Gòn. Anh giơ tay bắt tay tôi. Tôi không bắt. Chế Lan Viên ra rồi, các cô

văn thư hỏi tôi: “Sao bác không bắt tay anh ấy? Tôi hỏi lại: “Thế các vị có biết

vì sao có tục bắt tay không? Các cô không biết. Tôi nói: Ngày xưa ở phương

Tây, hai người tin cậy nhau, không mang theo vũ khí, họ bắt tay nhau. Tôi

không bắt tay anh Chế Lan Viên vì anh ấy trong người có hàng bồ dao găm”.

Ông lại nói tiếp một chuyện khác: “Anh Chế Lan Viên ở trong Nam

bắn tin ra ngoài này cho tôi, không hiểu sao, anh Nguyễn Tuân cứ thấy tôi là

lảng tránh không muốn gặp. Hôm ấy họp chi bộ, tôi nói với cô Lê Minh là bí

thư: “Cô ghi lại rồi bắn tin cho anh Chế Lan Viên hộ tôi: “Đúng là tôi tránh

mặt anh ấy thật. Lý do là tôi đã già rồi. Người già tính khí bất thường. Tôi sợ

gặp anh ấy, lỡ tôi nổi nóng lên, tát cho anh ấy một cái thì làm thế nào. Đồng

chí với nhau mà tát nhau thì phải kiểm điểm thôi”.

Nguyễn Tuân ghét Vũ Ngọc Phan vì, cũng giống như Vũ Đình Liên,

vốn xưa sống khuôn phép như một anh viên chức, thế mà bây giờ cứ nói là hồi

Pháp thuộc mình cũng chơi bời dữ lắm (Tô Hoài cho là Vũ Ngọc Phan không

dám chơi bời vì sợ Hằng Phương). Tô Hoài còn cho biết một lý do khác: ngày

trước túng tiền, Nguyễn Tuân thường đến vay Vũ Ngọc Phan nhưng từ khi đi tù

về (khoảng 1941, 1942, Nguyễn Tuân bị bắt giam ở Căng Nho Quan), Phan

không cho vay nữa. Nguyễn Tuân sai con trai là Toản đến vay, Vũ Ngọc Phan

từ chối. “Nó sợ liên quan đến thằng tù dây đây mà!” - Nguyễn Tuân nói thế.

Ông cũng rất ghét Phùng Bảo Thạch. Thạch chết, Nguyễn Tuân không

đến viếng. Thạch là tay thân Nhật, Nguyễn Tuân cho ẩn náu ở nhà riêng tại Ngã

tư Sở (ông gọi là Am Sông Tô). Vậy mà Thạch đã làm cho ông bị tù. Vì chứa

Thạch nên cũng bị coi là thân Nhật. Thạch bị bắt, bị tra hỏi, đã khai là Nguyễn

Tuân đang nằm ở xóm hát Khâm Thiên và đưa mật thám đến bắt. Nguyễn Tuân

vừa buông màn ngủ thì bị gọi dậy, còng tay luôn.

Ông cũng không ưa Phan Cự Đệ. Có lần ông nói với tôi: “Nghe nói

anh Phan Cự Đệ làm Tuyển tập Nguyên Hồng, tôi buồn quá!”.

Hoài Thanh cũng bị nhiều nhà văn không ưa. Nguyễn Tuân cũng vậy.

Ông gọi Hoài Thanh là thằng nịnh. Hồi Hoài Thanh ốm nặng, Nguyễn Tuân nói,

tôi định đến thăm Hoài Thanh để nhắc lại lời ông ta nói khi đi Trung Quốc về:

Mao Trạch Đông có một cái nốt ruồi rất lớn ở cằm, đúng là tướng đế vương.

Còn Anh Thơ thì Tô Hoài kể chuyện này. Một lần Nguyễn Tuân và

Anh Thơ cùng đi công tác ở Lai Châu. Hồi ấy không sẵn khách sạn như sau

này, còn hoang vu lắm. Lại vào lúc mưa to gió lớn. Người ta kiếm được một cái

phòng đưa hai người vào nghỉ. Tất nhiên mỗi người một giường. Nhưng Anh

Thơ nhất định không chịu, vì sợ... Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân rất bực và chắc

cũng ngượng nữa. Khi về Hà Nội, gặp lại trong một cuộc họp, Nguyễn Tuân nói

vào mặt Anh Thơ: “Bà làm như tôi chực hiếp bà hay sao!”.

Còn Nam Mộc? Nam Mộc từng viết một bài về tập Tuỳ bút Sông Đà

của Nguyễn Tuân. Tay này có vết về chính trị nên lên gân lên cốt ghê lắm. Nam

Mộc phê Nguyễn Tuân trong Sông Đà là “ngựa quen đường cũ”, chưa dứt bỏ

được những căn bệnh cũ như chủ nghĩa xê dịch, tư tưởng hoài cổ, rồi nào là

buồn rớt, nhắm nháp thiên nhiên... Tôi chắc Nguyễn Tuân ghét Nam Mộc lắm

nên có lần nói với tôi: “Thằng cha Nam Mộc, vợ nó bỏ là phải lắm!”. Ngoài ra

có chuyện này nữa, nhiều người biết: một lần kia, Nguyễn Tuân bệnh nặng phải

cấp cứu ở bệnh viện Việt Xô. Người ta đưa ông vào một phòng bệnh, đã có

Nam Mộc ở đó. Nguyễn Tuân không chịu ở chung với Nam Mộc, nhất quyết từ

chối không vào: “Hoặc tôi đi chỗ khác, hoặc Nam Mộc phải đi”.

Bệnh viện đành phải giải quyết theo nguyện vọng của ông.

Có một điều này, cho đến nay, tôi vẫn chưa hiểu được: gia đình

Nguyễn Tuân ngày xưa ở Thanh Hoá rất lâu. Cụ Tú Lan làm việc ở Toà sứ

Thanh Hoá rồi nghỉ hưu luôn ở đó. Nguyễn Tuân có thời gian bị giam giữ, quản

thúc ở Thanh Hoá. Có lúc làm thư ký ở nhà máy đèn, đồng thời làm thông tín

viên cho báo Trung Bắc Tân Văn thường trú ở Thanh Hoá. Viết văn, ông

thường ghi nơi viết là Thang Mộc ấp, tức Thanh Hoá gọi theo địa danh thời

phong kiến.

ấy thế mà có lần tôi thấy ông xử quá tệ với Thanh Hoá.

Một hôm có mấy anh ở Nhà xuất bản Thanh Hoá đánh xe ra Hà Nội

thăm Nguyễn Tuân. Họ đến Hoàng Ngọc Hiến nhờ đưa đi. Hiến chưa đến

Nguyễn Tuân bao giờ, giới thiệu tôi thay anh.

Tôi đi cùng với họ đến trước nhà Nguyễn Tuân ở 90 Trần Hưng Đạo.

Tôi bảo xe đỗ ngoài đường đợi tôi vào xem ông có nhà không. Tôi thấy ông

đang ngồi một mình ở phòng riêng. Tôi nói: “Có mấy anh ở Nhà xuất bản

Thanh Hoá muốn đến thăm bác. Họ đang đợi dưới kia. Ông xua tay: “Thôi anh

bảo họ về, tôi cám ơn”. Tôi nài thêm: “Họ có rượu ngon muốn biếu bác”. Ông

nói: “Tôi có rượu rồi, cám ơn”. Tôi lại nài thêm một lần nữa: “Họ nói muốn xin

bác cho in lại những bài bác viết về Thanh Hoá”. Ông vẫn một mực từ chối

“Được, anh cứ bảo họ, tôi đồng ý. Thôi bảo họ về đi”.

Người ta đánh xe từ Thanh Hoá ra thăm mà nhất định không tiếp. Rất

lạ!

Sau này Tô Hoài cho tôi biết , ông rất ghét Thanh Hoá. Ngày xưa ông

viết truyện Đôi tri kỷ gượng, giễu cợt lối văn bằng phẳng, thiếu cá tính của một

nhân vật tên là Mợi. Mợi là Thanh Châu, người Thanh Hoá. Nhưng Thanh Châu

thì có liên quan gì đến Nhà Xuất bản Thanh Hoá?

Nhân dịp tác phẩm Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng được tái bản, vợ chồng

Sơn – Hằng (Hằng là con gái, Sơn là con rể Vũ Trọng Phụng), tổ chức một cuộc

liên hoan ăn mừng tại nhà riêng ở Mọc Giáp Nhất (ngày 23.01.1983). Rất nhiều

nhà văn được mời tới dự: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bùi Huy Phồn, Lưu Trọng Lư

và vợ con (vợ lạc đường không đến được), Như Phong, Hoàng Trung Thông,

Ông Lưu, nhà nhiếp ảnh từng quen biết Vũ Trọng Phụng. Bà Tuệ, vợ Nguyễn

Tuân, hàng năm đều có đi viếng mộ cụ Tú Lan, nhân tiện cũng viếng mộ Vũ

Trọng Phụng ở gần đấy. Vì thế cũng đến dự liên hoan.

Trong khi chờ đợi dọn tiệc, người ngồi trong nhà, người ở ngoài sân

trò chuyện với nhau.

Nguyễn Tuân nói chuyện với tôi và Bùi Huy Phồn ở ngoài sân. Ông

nói, lẽ ra kỷ niệm Vũ Trọng Phụng 70 tuổi tổ chức năm 1982, mọi người đã

đồng ý cả, nhưng Hoàng Trung Thông, Hoàng Trinh, Phong Lê, Vũ Đức Phúc

phản đối.

Nguyễn Tuân hỏi: “Phong Lê là thằng nào, tên thật là gì, tướng gian

ác có lộ ra mặt không, có phải dân Nghệ không? Vũ Đức Phúc, Phong Lê, Như

Phong đúng là cùng một băng đảng với nhau.”

Tôi ngỏ ý mời Nguyễn Tuân đến nói chuyện với học viên sau đại học.

Ông nói, ngại đăng đàn diễn thuyết lắm, sẽ trả lời sau, nhưng không hứa hẹn gì.

Ông nói với Đồ Phồn, lát nữa chỉ dự ăn một lát rồi xin về sớm, vì còn mấy đám

cưới phải đi. Vả lại sợ rượu vào nói cà khịa, phiền : “Không phải sợ nói sai mà

sợ nói đúng mới gay go. Mình là loại quý tôc lọt lưới mà!”.

Nguyễn Tuân nhìn bao quát ngôi nhà của vợ chồng Sơn – Hằng, chê

kiến trúc không ra gì. Ông cười nói: “Đã lâu không đánh nhau với ai đâm ngứa

ngáy, lại cà khịa với cái nhà này”.

Tôi hỏi thăm Nguyễn Tuân về sức khoẻ. Ông nói, chả biết trả lời ra

sao. Già rồi, khoẻ yếu không biết thế nào. Hỏi thế cứ như là nhạo, là chế giễu.

Phải hỏi như hỏi những ông thủ trưởng chứ: “Anh có khoẻ không ạ!”.

Bùi Huy Phồn hỏi về chuyện bà Chu Thị Năm (Chủ cô đầu ngày xưa,

bồ của Nguyễn Tuân). Nguyễn Tuân nói: “ấy có bà ấy kia (bà Tuệ, vợ Nguyễn

Tuân), ông hỏi thế phiền lắm. Bà Tuệ nói: “Không, ngày xưa bà Năm đến chơi,

tôi vẫn tiếp bình thường”. Nguyễn Tuân chỉ bà Tuệ: “Những cái cách mạng

cho tôi được hưởng không nhiều lắm. Được hưởng nhiều là bà này này!”.

Tô Hoài đến góp chuyện. Tôi hỏi anh đang viết gì. Anh nói, sắp in một

tiểu thuyết feuilletion cho Thiếu niên tiền phong về loài chim. Viết để cho thiếu

nhi biết về loài chim, nó sinh hoạt, làm tổ, đẻ con, nuôi con như thế nào. Mình

có một cái vốn như thế, không viết, phí.

Tô Hoài nói riêng với tôi, vì có mặt Lưu Trọng Lư: “Người ta viết có

thời, tài có thời, hồn thơ có thời, có một lúc nào đó thôi. Như ông Lư ngày xưa

làm thơ mới thì chân thật, có hồn thơ, sau này tôi cho chẳng còn nữa. Nhiều

người như thế.

Còn viết văn học sử thì không phải cứ có tài liệu nhiều mà đủ. Phải

viết có hồn. Có tài liệu và có hồn. Anh Đệ, anh Đức có tài liệu mà viết không có

hồn. Anh (Mạnh) viết vừa có tài liệu vừa có hồn. Còn bọn mới thì chả có tài liệu

gì, cứ phóng ý ra thôi”.

Nguyễn Tuân bỗng xoay ra nói về Hoàng Văn Hoan: “Hoàng Văn

Hoan có viết một bài tiểu luận về Vũ Trọng Phụng, hình như gửi cho báo Nhân

dân. Tôi có đọc rồi để đâu, tìm mãi chưa thấy. Đúng là lưới trời lồng lộng thật.

Nó chửi Kiều là ăn cắp của Tầu và cho đề cao Kiều là đề cao con đĩ. Đấy là

một tội. Tội thứ hai là nói Vũ Trọng Phụng cũng viết về đĩ. Bây giờ ai là đĩ?

Chính nó là con đĩ. Nhưng nó chết thì lại có thằng Hoàng Văn Hoan khác. Có

những thằng Hoàng Văn Hoan ở Hà Nội này, khối ra đấy, lại có chức có quyền

nữa cơ chứ!”.

Như Phong đến góp chuyện, nói năm 1937, hai mươi tuổi, có đến nhà

Nguyễn Tuân ở Thanh Hoá. Rồi ông nhắc đến bài thơ của Nguyễn Vỹ ví nhà

văn Annam khổ như chó. Nguyễn Tuân cười nói: “Bây giờ nên sửa lại là nhà

văn Việt Nam khổ như sư tử, sư tử bị bẻ hết vuốt, hết móng”. Rồi ông chuyển

luôn sang giọng tâm tình: “Ngày xưa, nhà văn có tình với nhau lắm, hơn bây

giờ. Cái đêm trước ngày đưa ma Phụng, không ai ngủ được. Cánh ở Gia Quất,

cánh ở nhà chú Trô Mã Mây... không ai ngủ được”.

Tôi nói với Nguyễn Tuân: “Bài Một đêm họp đưa ma Phụng bác viết

rất hay”. Ông nói: “Bây giờ không viết được như thế nữa”.

Các mâm cơm dọn ra. Như Phong, Nguyễn Tuân, Hoàng Trung Thông,

Lưu Trọng Lư ngồi một mâm, vừa nói chuyện vui, vừa khích bác lẫn nhau.

Hoàng Trung Thông nói không tán thành lời bình của Nguyễn Tuân về câu thơ

Kiều: “Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần”. Nguyễn Tuân nói: “Cái đó tuỳ ý mọi

người chứ, tôi không theo ai cả”.

Bỗng nhiên thấy Lưu Trọng Lư đùng đùng bỏ ra về. Hình như là do

Như Phong khen Nguyễn Vỹ thế nào đó. Lưu Trọng Lư chạnh lòng, vì do

Nguyễn Vỹ mà Lưu Trọng Lư bị mang tiếng là ăn cắp thơ của Nhật (Bài Tiếng

thu).

Lưu Trọng Lư nhất quyết bỏ về, bắt con không ăn nữa, đưa bố về ngay.

Hôm ấy chụp rất nhiều ảnh kỷ niệm.

Nguyễn Tuân rất vui tính. Bốc lên cũng hò cũng hát rất nhộn.

Theo Tô Hoài, những lúc ấy ông thường hò chèo đò hoặc hát đường

trường. Ông cũng hay diễn trò nhại giọng điệu người này người khác để giễu

cợt. (cũng chính trong buổi liên hoan ở nhà con gái Vũ Trọng Phụng ăn mừng

tái bản Vỡ đê, tôi đã được nghe Nguyễn Tuân nhại giọng Huế của một viên

chức thời Tây (Bố Hoàng Xuân Tuỳ, phán đầu toà, cùng làm việc ở toà sứ

Thanh Hoá với cụ Tú Lan, bố Nguyễn Tuân). Ông này thường nói với lớp trẻ

ngày nay: “Cạc anh giừ sưởng lẳm, cách mạng rồi cạc anh sưởng lẳm! Tui

trước làm việc với thằng Tây, khổ lẳm. Đêm nỏ còn gọi lên hỏi, có chi không? –

Dạ bẩm quan lớn, không thấy sở liêm phóng báo sang có việc chi. Thế mà nỏ

cũng xà lù mẹc. Tui bực quả, chào rồi ra về, đóng cửa đánh sầm một cải. Đấy,

thời trước làm với thằng Tây, khổ rửa!”.

Nguyễn Tuân nói xong, cười thích thú. Ông nhại giọng Huế rất đạt và

có duyên.

Lúc ấy, tôi chợt nhớ ra Nguyễn Tuân vốn là một diễn viên kịch nói có

tài từng đóng vai chính trong các vở Kim tiền của Vi Huyền Đắc và Ngã ba của

Đoàn Phú Tứ. Và đã từng được tuyển vào đoàn tài tử đi sang Hồng Kông đóng

phim Cánh đồng ma.

Nguyễn Tuân rất thích truyện tiếu lâm, tiếu lâm ta, tiếu lâm Tây. Tôi

nhớ có một hồi, ở trong nhân dân ta, phát triển rất mạnh một loại truyện vui gọi

là tiếu lâm hiện đại nhằm giễu cợt những sự việc, những nhân vật đương thời.

Nguyễn Tuân có vẻ rất thích những truyện ấy. Có lần ông kể tôi nghe một

truyện về Phạm Tuân: “Cái hôm người ta phóng con tầu đưa Phạm Tuân lên vũ

trụ, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt có tới dự. Một điều lạ là khi nhiên liệu

đã nổ rầm rầm mà con tầu không thấy bay lên. Các công trình sư Liên Xô chạy

đôn chạy đáo kiểm tra kỹ thuật mọi mặt đều chẳng có gì trục trặc cả. Võ

Nguyễn Giáp ngẫm nghĩ một lát rồi đề nghị cho mình đến gặp Phạm Tuân. Tuy

biết Võ Nguyên Giáp không hiểu gì về kỹ thuật, nhưng vì nể một vị đại tướng lại

là uỷ viên Bộ Chính trị Việt Nam nên họ đồng ý.

Võ Nguyên Giáp vào gặp Phạm Tuân một lát , vừa quay ra thì con tầu

đã vọt thẳng lên trời. Các vị có mặt hôm ấy hỏi tướng Giáp đã làm thế nào.

Giáp không nói, chỉ tủm tỉm cười.

Khi về nước, Lê Duẩn lập tức triệu ngay Giáp đến để hỏi. Giáp vẫn

không chịu nói. Duẩn nghiêm mặt: “Anh giữ bí mật quốc gia là đúng. Nhưng

tôi là tổng bí thư mà anh cũng giữ bí mật sao? Võ Nguyên Giáp đành phải nói

thật: “Có gì đâu, tôi thọc tay ngay vào túi quần nó. Quả nhiên thấy có mấy cái

đinh ốc nó vừa xoáy ở con tàu. Tôi quát: “Muốn sống lắp trở lại ngay!” Thế là

con tàu bay vọt lên trời”.

ông còn kể tôi nghe một truyện nữa – một truyện tiếu lâm Tây. Đó là

lần cuối cùng tôi gặp Nguyễn Tuân. Buổi sáng hôm ấy, như mọi ngày, ông có

thói quen đi dạo quanh phố xá mấy vòng rồi tạt vào Hội Nhà văn một lúc. Lúc

đó tôi nhớ đang có mặt Nguyễn Khải, Bùi Bình Thi, Xuân Quỳnh, Hà Minh

Đức và tôi. Ông đến sau, thấy tôi, ông nói, đã lâu lắm không gặp. Chính hôm ấy

ông lại nhắc lại với tôi một cách thích thú cái tâm sự rất riêng của Đặng Thai

Mai đã nói trên kia. Rồi ông kể tôi nghe một truyện tiếu lâm của Pháp: “Có một

lão giám mục kia, vào lúc hấp hối, phát biểu một nguyện vọng cuối cùng là

muốn được xem “cái ấy” của đàn bà ngoại đạo nó như thế nào. Người ta thông

cảm, đáp ứng yêu cầu của ông. Xem xong, ông ta nói: “Tưởng thế nào, hoá ra

cũng chẳng khác gì của các nữ tu sĩ”.

Nói dứt câu, Nguyễn Tuân cười khoái chí.

Nghe nói ở kỳ Đại hội văn hoá toàn quốc tại Việt Bắc năm 1948,

Nguyễn Tuân, ngay trên diễn đàn, dám kể chuyện “cái rắm thơm, cái rắm thôi”.

Hồi ấy sinh hoạt văn nghệ còn thoải mái lắm mới có thể có chuyện tếu như thế

được. Từ năm 1951 trở đi, đừng hòng được như vậy: Đảng ra công khai, biên

giới phía Bắc thông với phe xã hội chủ nghĩa, sự đổ bộ của tư tưởng Xtaline và

Mao Trạch Đông, chỉnh huấn về lập trường giai cấp chuẩn bị cải cách ruộng

đất... Rồi yêu cầu của chiến tranh giải phóng dân tộc phải tập trung cổ vũ chiến

đấu: Ta là chính nghĩa, là anh hùng, không được giễu cợt! Tiếng cười hầu như

mất hẳn trong đời sống văn học.

Tôi cho rằng, ở Nguyễn Tuân, luôn tiềm tàng một cái gọi là chất trẻ

trung tinh nghịch, thể hiện ở người và ở văn.

Trong cuốn 40 năm nói láo, Vũ Bằng tỏ ra biết khá nhiều về cá tính

độc đáo của Nguyễn Tuân. Đọc tập hồi ký này, thấy Nguyễn Tuân bày ra lắm

trò tinh nghịch rất oái oăm, kỳ quái. Chẳng hạn, ngủ lại xóm hát, bỗng dưng leo

lên mái nhà ả đào chơi. Rồi bắt ả đào giả vờ chết để diễn trò khóc lóc ầm ĩ khiến

hàng xóm láng giềng tưởng thật chạy sang chia buồn... Cụ Nguyễn Lương Ngọc

còn kể tôi nghe chuyện này về Nguyễn Tuân: đang ngồi ở nhà ả đào, tự nhiên

phóng tay đấm mạnh vào cửa kính cho vỡ toang ra. Chả để làm gì cả. Y như

người dư thừa sinh lực vậy. Hay là đang nửa đêm, dạy cặm cụi đánh giầy cho

tất cả quan viên... Nguyễn Tuân hay có những ý nghĩ nghịch ngợm: chẳng hạn,

tuyên bố, khi chết, muốn người ta đốt xuống cho mình vài hình nhân nhà phê

bình. ở dưới ấy rỗi rãi, trò chuyện với mấy tay phê bình chắc cũng vui. Hoặc

đến các vị trong Ban chấp hành Hội nhà văn, đề nghị cho biết khi mình chết thì

sẽ thuê mấy ô tô đi đưa. Hỏi thế để bây giờ xin trước vài cái đi uống rượu, sau

này xin cứ trừ đi... Trong văn cũng thế. Như trong Một chuyến đi chẳng hạn,

ông nẩy ra ý nghĩ đem giam chung với nhau mấy thằng nghiện thuốc lá nặng,

rồi theo dõi xem chúng ứng xử với nhau như thế nào khi cạn bao thuốc. Còn

trong Sông Đà thì lại tưởng tượng tượng ra cái cảnh ở một bến nước kia, đàn

ông, đàn bà đang tắm táp, tự nhiên nước sông đột ngột rút sạch, mọi người thấy

mình bỗng tênh hênh tô hô cả ra (chi tiết này trong những lần in lại, không thấy

nữa)...

Các vị Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Như Phong, Phan Cự Đệ... chắc cho

thế là nhảm nhí, là vớ vẩn. Tôi thì cho đấy chính là cái chất trẻ trung hồn nhiên

rất có duyên của Nguyễn Tuân.

* *

*

Nguyễn Khải nhiều lần nói, Nguyễn Tuân là người sướng nhất: ngông

nghênh, khinh bạc, chẳng trọng ai, chỉ trọng mình, vậy mà đi đâu cũng được

chiều chuộng, đón rước, nể trọng. Lại có người tự nguyện điếu đóm, phục vụ

tận tình.

Nguyên Ngọc có lần cùng sang Liên Xô với Nguyễn Tuân. Họ ở

Lêningrát vào đúng dịp tuyết đầu mùa. Người ta biết Nguyễn Tuân rất thích

xem tuyết rơi, nên dành cho ông một căn phòng rất thuận tiện để ngắm tuyết (về

nước, ông có viết một bài đăng trên Văn nghệ gọi là Lêningrat, tuyết đầu mùa).

Nam sau Nguyễn Tuân lại sang Liên Xô. Đến Mạc Tư Khoa đúng vào dịp tuyết

đầu mùa. Người ta lại đưa ông về đúng cái căn phòng năm trước ở Lêningrát để

xem tuyết rơi. Theo Nguyên Ngọc, ở Liên Xô, Nguyễn Tuân được coi như một

thượng khách. Lại có một anh tên là Marian, chuyên dịch Nguyễn Tuân sang

tiếng Nga. Trong nhà mình, Marian chỉ treo độc một bức chân dung Nguyễn

Tuân.

Nguyễn Khải kể với tôi chuyện này: Sau 1975, có lần Nguyễn Tuân

vào Sài Gòn. Ông bị khớp nặng, nằm liệt trên lầu. Trịnh Công Sơn ngày nào

cũng tự nguyện lo chuyện ăn uống theo khẩu vị Nguyễn Tuân: nấu cơm niêu đất

ăn với cá bống kho tiêu là món Nguyễn Tuân thích.

ở tầng dưới thì Nguyễn Khải và Nguyễn Thành Long đóng vai tiếp

khách cho Nguyễn Tuân. Ai đến thăm thì lên báo cáo xem ông có tiếp không.

Nhiều người ông không tiếp, phải để quà đấy đi về. Có một lần Marian lúc ấy

đang ở Sài Gòn, đến thăm. Nguyễn Khải và Nguyễn Thành Long nghĩ là trường

hợp này không phải báo cáo, cứ cho lên luôn. Marian hôm ấy lại dắt theo một

tay Liên Xô nữa. Nguyễn Khải cứ thấy ông mắng Marian xơi xơi: “Sao mày lại

đưa thằng ấy lên!”. Khải nói: “Lần đầu thấy một thằng “tiểu quốc” mắng một

thằng “đại quốc”, nghĩ cũng mát ruột”.

Nguyễn Minh Châu cũng cho Nguyễn Tuân là sướng. Sau 1975, Hội

An có tổ chức một cuộc kỷ niệm gì đó, mời Nguyễn Tuân vào viết cho một bài.

Lúc ấy Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu đang ở Đà Nẵng, muốn có xe vào

Hội An chơi, bèn bịa chuyện cần một ôtô vào trước để sửa soạn đón Nguyễn

Tuân hôm sau vào. Thế là được cấp luôn một chuyến xe. Thực ra bịa thế thôi

chứ có sửa soạn gì đâu! Nguyễn Tuân vào đã có xe riêng, một mình một xe. Hồi

ấy chuyện xe cộ không sẵn như bây giờ.

Nghe nói, ngày xưa, Nguyễn Tuân chơi cô đầu cũng rất sang. Thường

bồ bịch với đào hát nổi tiếng hoặc bà chủ nhà hát. Không phải bao gái mà lại

được gái bao. Hồi kháng chiến chống Pháp, ở chiến khu Việt Bắc, ông được cô

đào hát nhân tình nào đó gửi vàng từ Hà Nội ra cho ông tiêu.

Riêng tôi được chứng kiến một chuyện cũng lạ.

ấy là ngày làm lễ bế giảng trường Nguyễn Du khoá một long trọng

lắm. Quan khách đến dự rất đông. Có đủ bộ trưởng, thứ trưởng, trung ương uỷ

viên và các nhà văn có tên tuổi ở Hà Nội. Anh điều khiển buổi lễ, giới thiệu lần

lượt các đại biểu. Giới thiệu ai thì người ta cũng chỉ ngồi vỗ tay tại chỗ thôi.

Nguyễn Tuân đến muộn. Không hiểu sao, cả hội trường không ai bảo

ai, cùng đứng dậy vỗ tay dài.

Vì thiên hạ vốn trọng người tài chăng? Nguyễn Tuân đúng là một cái

tài. Nhưng người tài đâu chỉ có Nguyễn Tuân? Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan

Viên, Nguyễn Đình Thi... không tài à?

Tôi cho Nguyễn Tuân được trọng vì vừa có tài vừa có nhân cách.

Nhưng giữ được nhân cách đâu có dễ. Cái nghèo, cái đói, cái sợ (sợ cấp trên)

khiến người ta khó giữ được nhân cách, tuy biết thế là hèn. Vì thế người có

nhân cách càng hiếm, càng quý. Cho nên có một người như Nguyễn Tuân là rất

sang cho giới nhà văn.

Trong nhiều tác phẩm của mình, nhất là trong Chiếu lư đồng mắt cua,

Nguyễn Tuân thường vẽ mình như một kẻ bê tha, trác táng, bẩn thỉu, nhếch

nhác, rượu chè be bét, suốt ngày chui rúc vào cái màn hôi hám của ông Thông

Phu, một con nghiện bị bệnh bại liệt bán thân bất toại. Uống rượu thì say đến

mức úp mặt vào mâm bát mà gào, mà hò hét như thằng điên...

Thực ra trong đời thực, ông có phải như thế đâu. Hồi ở Việt Bắc bà

Trần Minh Tước cùng làm việc với tôi ở Sở Giáo dục Liên khu Việt Bắc vốn

quen thân với Nguyễn Tuân, nói với tôi: “Ông ấy đến cái maillot, cái quần lót

cũng giặt là cẩn thận”.

Còn uống rượu thì không bao giờ quá chén. Tô Hoài gọi là uống rượu

ngữ, nghĩa là có chừng mực chứ không say bét như Hoàng Trung Thông...Ông

Hoài Thanh chê Nguyễn Tuân có lắm lệch lạc về tư tưởng, từng bị cánh nhân

văn lợi dụng, nhưng ông vẫn thấy Nguyễn Tuân không bê tha truỵ lạc như nhiều

tay trong nhóm Nhân văn, nghĩa là Hoài Thanh cũng rất nể Nguyễn Tuân về

nhân cách.

Tôi lại nghe nói, sau 1975, một số nhà xuất bản ở Sài Gòn tự nguyện

trả tiền nhuận bút cho những nhà văn “tiền chiến” sống ở miền Bắc, mà trước

1975, họ có in lại sách này sách khác để bán. Các vị đều nhận cả, riêng Nguyễn

Tuân từ chối.

Trở lại câu chuyện Nguyễn Tuân và Nguyên Ngọc ở Liên Xô. Trong

thời gian Nguyễn Tuân ở Liên Xô, người ta cử một cô gái Nga làm phiên dịch

cho ông. Cô gái rất đẹp - đẹp như tượng – Nguyên Ngọc nói thế (Chắc là đẹp

như tượng thần Vệ nữ ở Milô chăng?). Nguyễn Tuân nhờ cô gái mua cho mình

mười bông hồng tươi. ở Nga, giữa mùa rét, hoa hồng rất đắt: 12 rúp (trong khi

một cái bàn là điện hay một cái áo bay có 7 rúp). Hỏi mua để làm gì, ông không

nói. Mua về, ông tặng luôn cho cô gái phục vụ mình. Cô gái Nga lấy làm lạ, vì

cô biết Việt Nam còn nghèo lắm, lại đang có chiến tranh, sao ông nhà văn này

lại chơi sang thế, không dành tiền mua quà cáp gì về nhà. Cô ta áy náy, bèn tự

mình đi mua một ít hàng rồi gói ghém, bắt Nguyễn Tuân mang về. Cô hỏi, các

nhà văn nước ông có như thế cả không? Nguyễn Tuân nói, tôi chỉ là một nhà

văn xoàng ở Việt Nam thôi. Ông nói thế, chắc là để làm sang cho giới văn nghệ

Việt Nam vốn rất nhếch nhác mỗi khi ra nước ngoài.

Hoạ sĩ Đào Đức còn kể chuyện này: Một lần Nguyễn Tuân cùng Kim

Lân sang Liên Xô. Mấy ngày đầu người ta chưa cấp tiền. Nhà văn Simônốp ngỏ

ý biếu mỗi người 50 rúp tiêu tạm. Nguyễn Tuân từ chối, Kim Lân chả lẽ lại

nhận, nhưng tiếc quá, nói với Đào Đức: mình cảm thấy cứ y như là bị móc ví

mất 50 rúp.

Mọi người đều biết, Nguyễn Tuân là người ham chơi, ham “xê dịch”.

Nhưng không vì thế mà vất bỏ nhân cách. Vào lúc đã cao tuổi, ông có được mời

sang Pháp, nhưng ông từ chối. Ông nói với tôi: “Già rồi sang đấy mà chết ở

đấy thì nhục quá!”.

Đấy, Nguyễn Tuân sở dĩ được trọng là vì thế. Mình không giữ được

nhân cách thì ông ấy giữ hộ - đại diện giới nhà văn giữ hộ.

Nguyễn Tuân nổi tiếng là ngông. Đúng thế. Nhưng chơi ngông không

dễ đâu. Không có tài, không có đức, chơi ngông làm sao được! Ngông có cả

một cơ sở đạo lý của nó đấy. Cho nên những bậc chơi ngông xưa nay đều là

những tấm gương đạo đức cả - Tản Đà gọi là “thiên lương”:

“Hai chữ thiên hương thằng Hiếu nhớ”

Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà, Nguyễn Tuân

đều thế cả. Sau Nguyễn Tuân, hình như trong giới văn học, không còn ai dám

chơi ngông nữa thì phải.

ở Nguyễn Tuân tôi thấy có một cái gì rất cổ điển, không phải chỉ trong

văn đâu mà trong lối sống, tác phong sống. Ông không chỉ viết văn cho hay, cho

đẹp mà còn muốn sống đẹp nữa.

Chất cổ điển chính là ở chỗ đó. Các cây bút hiện đại chỉ lo sản xuất văn

chương cho nhiều, cho tốt, còn sống thế nào cũng được, cốt sao cho khoẻ, cho

sướng. Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi... là

như thế.

Người xưa tư duy nguyên hợp (syncrétique), óc phân tích chưa phát

triển nên thường không phân biệt thực và hư, chân và ảo, con người và thiên

nhiên, cuộc sống và nghệ thuật. Cho nên người quân tử nói năng cũng có văn

vẻ, ăn uống cũng có phép tắc, chào hỏi cũng có điệu bộ, ngôn ngữ tình yêu cũng

kiểu cách, khóc than cũng lên bổng xuống trầm (văn tế), thậm chí đánh nhau mà

như vũ đạo... Cho nên Trần Hưng Đạo truyền hịch mà thành văn chương,

Nguyễn Trãi viết cáo mà hình tượng tầng tầng lớp lớp... Từ đó, không phân biệt

sự sống và nghệ thuật, cuộc đời hay sân khấu...

Nguyễn Tuân là một trí thức Tây học, một cây bút hiện đại. Những tác

giả phương Tây mà ông chịu ảnh hưởng sâu sắc là những nhà văn vào loại hiện

đại nhất như Marcel Proust, André Gide... Tuy nhiên ở ông vẫn có một cái gì

giống như Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà... Không phải chỉ làm nghệ

thuật mà trước hết sống cho đẹp, cho nghệ thuật. Và về nhân cách vẫn phảng

phất cái cốt cách trượng phu quân tử.

Nguyễn Tuân là cây bút có phong cách nghệ thuật rất sâu. Nhưng trong

cung cách sống nhiều khi ông cũng cố tình tạo cho mình một phong dạng

(manière) riêng khá kiểu cách: từ cách để ria mép, cách cầm cái can, ngậm cái

píp, cách đi đứng... không phải ông không có ý tạo dáng cho đẹp. Ông sành sỏi

hát ả đào, đấy cũng là một cái thú chơi cổ điển. Trước cách mạng tháng Tám,

hồi còn ở Thanh Hoá, ông mở một hiệu sách đặt tên là Thư Trang, về Hà Nội,

làm cái nhà ở Cống Mọc, ông gọi là Am Sông Tô...nghĩa là cũng thích văn vẻ

Ngay sau cách mạng tháng Tám, đến dự Hội nghị Văn hoá cứu quốc

giữa Hà Nội, ông vẫn mặc áo gấm, đội khăn xếp... tôi cho cũng là một cách

“diễn” đấy thôi – diễn trò ngông nghênh nghệ sĩ trước bàn dân thiên hạ...

Một con người như thế, tất không thích ai đến thăm khi ốm đau. Ông

có bệnh thấp khớp mãn tính nặng, mỗi lần phát bệnh, chân tay sưng tấy, co

quắp, phải vệ sinh tại chỗ, trông chẳng “mĩ thuật”, chẳng “nghệ sĩ” tí nào.

Một lần tôi đến ông, đúng lúc ông ốm. Ông đang ngồi ở mép phản,

thõng chân xuống. Có một người nữa quay lưng lại hình như một người nhà

đang làm gì để giúp ông. ông nheo mắt nhìn tôi từ xa, lúc đầu ngờ ngợ, sau

nhận ra, ông có vẻ bối rối, luống cuống:

- Sao, có việc gì thế?

- Không có gì. Đến thăm bác thôi.

- Thế thì cám ơn, cám ơn. Thôi để lúc khác nhé.

Sợ tôi chưa hiểu, ông chỉ xuống cái bô ở gậm phản...

Tôi ngượng quá, vội bỏ ra.

Một lần khác, tôi đến thăm ông cũng đúng vào lúc ông ốm. Nhưng lần

này cửa đóng. Ngoài cửa tôi thấy có dán một tờ giấy lớn ghi mấy dòng chữ:

“Bệnh nhân Nguyễn Tuân không tiếp khách, bao giờ khỏi sẽ xin đến tạ. Ai đến,

xin gọi và xướng tên hai lần. Không có tiếng trả lời thì xin vui lòng lui cho.

Cám ơn”.

Đến thăm mà phải xướng tên, ai còn đến làm gì!

Như đã nói, tôi gặp Nguyễn Tuân lần cuối cùng vào buổi sáng ngày

thứ bẩy 25 – 7 – 1987 ở trụ sở Hội nhà văn, 65 Nguyễn Du.

Trông ông rất đẹp lão. Nguyễn Khải nhận xét và nói một câu rất gở:

“Đẹp lão thế là sắp sửa đấy!” Nguyễn Tuân nói, ông không sợ chết, chỉ sợ ốm

kéo dài thôi. Hôm ấy, ông nói rất nhiều chuyện vui. Tôi đã từng nghe câu nói

của ông về các nhà phê bình: khi chết đi, muốn người ta đốt xuống cho mình vài

anh phê bình... Hôm ấy ông lại cho ra thêm một câu nữa: “Vừa rồi có mấy anh

nhà văn nước ngoài đến hỏi tôi: “Ông thường có thói quen viết vào lúc nào?”.

Tôi nói, thường vào ban đêm. Họ hỏi lý do. Tôi nói: “Vì lúc ấy các nhà phê

bình họ đi ngủ cả rồi!”.

Tôi thấy ông cầm trên tay một điếu thuốc lá nhưng không hút, lại còn

xin thêm Nguyễn Khải điếu nữa. Ông nói: bác sĩ nói phải hạn chế hút. Mỗi ngày

một điếu thôi, tránh hít sâu vào. Còn rượu thì cấm hẳn. Và phải tránh có xúc

động mạnh. Rồi ông cười: “Làm nghề viết văn mà phải tránh xúc động thì còn

viết gì được nữa!”.

ấy thế mà đúng 3 ngày sau ông qua đời.

Bửu Chỉ ở Huế ra Hà Nội. Chị Ngọc Trai tổ chức một bữa nhậu.

Nguyễn Tuân uống rượu. Hôm sau vào bệnh viện và tịch luôn.

Anh Đình Quang nói, lẽ ra ông chưa chết. Ông tự tử đấy. Ông nằm

cùng với một bệnh nhân nào đó. Ông khó ngủ, dậy bật đèn lên. Ông kia tắt đi.

Người bật lên, người tắt đi, cứ thế mấy lần. Bực quá, ông uống một liều thuốc gì

đó và đi luôn.

Chuyện chả biết có thật thế không. Nhưng anh Nguyễn Xuân Đào, con

trai Nguyễn Tuân lại bảo không phải. Ông chết là vì đêm ấy ông uống đến nửa

chai rượu. Thế thì có trời cứu!.

Nhưng như thế thì cũng là một cách tự sát chứ sao! Vì chính ông đã

biết phải kiêng rượu kia mà! Thuốc lá còn được hút mỗi ngày một điếu. Còn

rượu thì cấm hẳn.

Như vậy thì điều anh Đình Quang nói không hẳn đã sai.

Chung quanh những người nổi tiếng và độc đáo, thiên hạ thường thêu

dệt ra lắm giai thoại. Chung quanh Nguyễn Tuân xưa nay cũng lắm giai thoại.

Thí dụ, nhiều người, tôi cũng thế, nghe nói và tin ở câu chuyện này: Võ

Hồng Cương, bí thư đảng đoàn Bộ Văn hoá đến thăm Nguyễn Tuân. Đứng dưới

sân, Cương gọi vọng lên lầu (Nguyễn Tuân ở trên tầng 3, nhà số 90 Trần Hưng

Đạo): “Anh Nguyễn Tuân có nhà không?”. Nguyễn Tuân mở cửa sổ nói chõ

xuống: “Nguyễn Tuân có nhà nhưng không tiếp khách” (Có “dị bản” khác:

Nguyễn Tuân mở cửa sổ trả lời Võ Hồng Cương: “Nguyễn Tuân đi vắng”).

Nghe có vẻ rất Nguyễn Tuân đấy chứ!. Nhưng sự thật có chuyện ấy không? Tô

Hoài nói, Nguyễn Thành Long nó bịa ra thế thôi. Tôi hỏi Nguyễn Tuân rồi.

Chuyện bịa, không có đâu.

Một thí dụ khác: Tạ Tỵ trong Nam, hồi trước 1975, có viết một cuốn

sách về chân dung một số nhà văn. Anh ta dựng đứng lên một chuyện về

Nguyễn Tuân: Nguyễn Tuân ốm nằm ở bệnh viện Phủ Doãn. Ông thèm rượu

quá mà bị cấm, đang đêm bèn leo tường chốn ra bờ hồ Hoàn Kiếm uống rượu

và chết luôn trên ghế đá. Cũng có vẻ rất Nguyễn Tuân đấy chứ!

Tôi đọc bài viết này của Tạ Tỵ đúng vào thời gian luôn tiếp xúc với

Nguyễn Tuân để làm Tuyển tập.

Giờ lại nghe chuyện anh Đình Quang. Chả biết thực hư thế nào!.

Quan Hoa, cuối thu năm 2006.


Chương XIV: Nguyên Hồng

Bài nghiên cứu văn học đầu tiên của tôi là bài viết về Nguyễn Hồng. ấy

là một chương trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1930 –

1945, viết chung giữa Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Vinh, xuất

bản năm 1963.

Thỉnh thoảng tôi có gặp Nguyễn Hồng, thường ở trụ sở Hội nhà văn

(65 – Nguyễn Du), đôi khi ở báo Văn Nghệ (17 Trần Quốc Toản).

Nguyễn Hồng cũng đến tôi mấy lần, khi ở nhà K2, khi ở nhà B2 khu tập

thể cán bộ Đại học Sư phạm Hà Nội. Có lần ông ở cả ngày, ăn với gia đình tôi

hai bữa cơm.

Trông bộ dạng Nguyễn Hồng, không ai nghĩ là một nhà văn. Mặt đen

sạm, để râu dài. áo cánh màu xanh chàm, bốn túi, mũ lá, dép lốp xỏ cả hai quai

hậu, đi xe đạp thiếu nhi Liên Xô, mất cả chắn xích lẫn chẵn bùn, đèo đằng sau

một bị cói vừa đựng tài liệu, vừa đựng một chai rượu cuốc lủi, kèm theo mấy

thanh giang chẻ lạt.

Lần thứ nhất, ông đến tìm tôi khi tôi ở khu nhà lá thuộc dãy nhà K2,

chung quanh toàn là cán bộ giảng dạy văn học mà không ai biết dó là nhà văn

Nguyên Hồng. Họ cứ nghĩ là một ông phụ huynh học sinh ở quê ra xin xỏ gì đó

cho con đang học vợ tôi. Ông dắt xe vào khu nhà tập thể, hỏi thăm đúng vào

thằng con tôi đang đá bóng ở đầu dãy nhà. Nó không thèm dẫn ông về nhà, mà

cứ đứng từ xa chỉ chỏ.

Nhưng nghe chị Ngọc Trai nói về Nguyên Hồng mới thật thương.

Ngọc Trai từng ở với Nguyên Hồng trong một lớp bồi dưỡng nhà văn tại Quảng

Bá. ấy là lớp học của một số cây bút trẻ chuẩn bị đi B. Ngọc Trai phụ trách

quản trị. Nguyên Hồng phụ trách chuyên môn. Học viên đi B được hưởng tiêu

chuẩn ăn cao hơn. Ngọc Trai và Nguyên Hồng không đi B nên không được

hưởng tiêu chuẩn ấy. Vì thế ăn chung một chế độ, Ngọc Trai và Nguyên Hồng

phải góp thêm tiền. Nguyên Hồng quyết định ăn nửa suất cơm. Ngọc Trai

khuyên thế nào cũng không nghe.

Bữa ăn, học trò thương thày cứ chia cho Nguyên Hồng cả suất như mọi

người. Nguyên Hồng không bằng lòng: “Lại có đứa nào ăn gian đây! Tao có

nửa suất mà sao lại như mọi người?” Ngọc Trai bàn hai người ăn chung,

Nguyên Hồng không nghe. Nguyên Hồng rất đạo đức và gương mẫu. Sáng dạy

ông tập thể dục. Cũng đeo gạch vào balô chạy, rồi tập đi. Ngọc Trai khuyên

không nghe.

Nguyên Hồng đi liên hệ công tác với Vụ Tổ chức Trung ương. Ngọc

Trai đề nghị liên hệ ôtô. Nguyên Hồng cũng không nghe, cứ đi xe đạp, vì cho là

gần, ngay Bách Thảo thôi mà. Còn người ta coi thường vì có vẻ lúi xùi thì

không lo. Ông nói: “Khinh trọng là do nhân cách của mình chứ!

Nguyên Hồng đi xe đạp cùng Ngọc Trai. Buồn cười lắm. Xe không có

chuông. ông vừa đi vừa hô bọn trẻ con trên đường: các cháu cho bác đi nhờ nào,

xe đạp đây!... cứ thế suốt dọc đường.

Nguyễn Tuân rất bực với Nguyên Hồng: “Này sao anh lại tự làm khổ

mình như vậy, anh có đến nỗi nào!”. Nguyên Hồng nói: “Anh khác, tôi khác,

tôi làm sao giống như anh được! Người ta có số cả. Số tôi nó thế!”

Có lẽ số Nguyên Hồng thế thật. Sống cũng khổ, chết cũng khổ.

Khi Nguyên Hồng chết, nhà còn có năm bơ gạo, một con gà nhỏ.

Trong túi còn đúng 20 đồng. Hàng xóm cho vay cỗ quan tài. Nguyên Ngọc báo

anh em lên đưa ma, nói, Nguyên Hồng nghèo lắm đấy, không có gì thết đãi đâu.

Chưa làm điếu văn vội, Nguyên Ngọc trước hết lo chạy lên tỉnh, lên huyện, lên

đảng uỷ xã bàn với họ cho tiền, cho lợn, cho gạo để làm ma. Hôm đưa ma

Nguyên Hồng, tôi không lên được. Ngô Thảo có tả quang cảnh đám ma thật là

tội nghiệp: xe tang từ trên đồi đi xuống dốc, phải hò nhau đẩy trở lại làm phanh.

Phường kèn toàn là thương binh cụt tay cụt chân (phải là thương binh mới được

vào hội kèn, ăn công điểm của hợp tác xã).

Nguyên Hồng có người con cả là Hồng Hà (Nguyên Hồng sinh Hồng

Hà khi gia đình ông ở bãi Phúc Xá, bờ sông Hồng) dạy tiếng Anh ở Đại học Sư

phạm Ngoại ngữ Hà Nội, cũng ở gần khu nhà ở của cán bộ khoa Văn Đại học

sư phạm chúng tôi. Một lần biết ông đang ở chỗ Hồng Hà, tôi đến thăm. Không

thể tưởng tượng được nhà ở của một cán bộ giảng dạy đại học mà lại khốn khổ

đến thế. Như một cái lều vịt, dựng trên một bãi rác, sau lưng là một dãy nhà xí,

cái nào cũng mất cửa.

Nguyên Hồng đang ngồi uống rượu. ông nhắm rượu với một đĩa rau củ

cải luộc (ngọn rau, lá rau chứ không phải củ cải). Vậy mà ông cũng nhắm nháp

ra vẻ đắc ý lắm. Nguyễn Đình Thi còn nói với tôi, có lần còn bắt gặp ông nhắm

rượu với cơm nguội. ấy là cái hồi ông phụ trách trại bồi dưỡng nhà văn trẻ ở

Quảng Bá - người ta thường gọi đùa là ông Đốc Hồng. Ông dặn mọi người, sau

10 giờ tối, ông đóng cửa phòng, làm việc riêng, không tiếp khách. Hôm ấy,

Nguyễn Đình Thi có việc gì đó khẩn cấp cần gặp ông. Anh đẩy cửa phòng

Nguyên Hồng sau 10 giờ tối, thấy ông đang nhắm rượu với cơm nguội. Nguyễn

Đình Thi cười: “Đấy, nhà văn Việt Nam ăn chơi như thế đấy!”

Trở lại chuyện tôi đến thăm Nguyên Hồng ở nhà Hồng Hà.

Ông nói: “Chỗ này giống hệt như nơi ngày xưa tôi viết Bỉ vỏ. Chỗ viết

Bỉ vỏ như thế nào? - Đây, ông viết trong lời Tựa cuốn tiểu thuyết: “Bỉ vỏ đã viết

xong trên một cái bàn kê bên khung cửa trông ra vũng nước đen ngầu bọt của

một bãi đất lấp dở dang và một chuồng lợn ngập ngụa phân tro. Bỉ vỏ đã viết

xong trong một căn nhà cứ đến chập tối là ran lên tiếng muỗi và tiếng trẻ con

khóc...”

Trò chuyện với Nguyên Hồng, tôi mới biết ông bị tù từ tuổi thiếu niên.

Ông có một người chú dượng thường ức hiếp, hành hạ vợ, tức là một bà cô của

ông. Ông tức quá, rút dao đâm ông này và bị đưa đi trại cải tạo trẻ con hư (đâu

như ở Bắc Giang).

Lần thứ hai ông bị tù vì tham gia phong trào thanh niên dân chủ của

Đảng cộng sản cuối thời kỳ mặt trận dân chủ Đông Dương (1936 – 1939) ông bị

bắt về tội tàng trữ tài liệu cộng sản, giam ở Căng Bắc Mê, Hà Giang.

Không phải ngẫu nhiên mà ông hay viết về nhà tù: Bà Vỷ, Khói ken

nếp và xà lim, phóng sự Tù trẻ con, Tù đàn bà, Tiểu thuyết Bỉ vỏ, Cơn bão đã

đến...

Thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, Nguyên Hồng rất hăng hái

hoạt động. Ông cùng Như Phong tích cực viết cho các báo chí tiến bộ như Thế

giới, Mới, Người mới. Rất phục những chiến sĩ cộng sản trong nhóm Tin tức,

muốn sáng tác theo khuynh hướng tả thực xã hội chủ nghĩa. Sau khi viết Bỉ vỏ,

Những ngày thơ ấu, ông có vị trí khá nổi nên có quan hệ với Mười Cúc, Nguyễn

Thiện Chân. Lê Quang Hoà, Bùi Vũ Trụ... Ông say mê đọc Le Travail,

Rasssemblement, Bạn dân, Thời thế. Đọc Gorki, L.Tolstoi, La Resurrection,

Voyage à Moscou của Henri Barbusse, sách của Hải Triều viết về ba nhà văn

cách mạng. Đọc Ngục Kontum của Lê Văn Hiến, Một ngày ngàn thu của Tôn

Quang Phiệt... Rất mê Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (b) Liên Xô. Ngày

1.5.1938, ông đi nghe Trần Huy Liệu diễn thuyết ở Đấu Xảo. Phan Bôi có mở

một lớp Mác xit, ông có dự cùng với Trần Quang Huy, Đào Duy Kỳ, Nguyễn

Hữu Dụng, Thành Ngọc Quảng, Nguyễn Thường Khanh, Như Phong, Đào Văn

Trường, Trần Đình Chi. Lớp mở ở Phạm Phú Thứ. ông nói, nghe giảng chán bỏ

mẹ, đọc sách thú hơn. Ông nhớ có đọc một cuốn sách vẽ Gorki như con gà ủ

các nhà văn trẻ...

Lúc ấy ông tự coi mình đích thực là cộng sản rồi. Ông quyết chuyển đề

tài viết về giai cấp vô sản. Ông viết về công nhân, về thợ mỏ, về phu đồn điển:

Một quả đấm, Đến cây số 13, Người đàn bà Tầu, Đẹp, Những giọt sữa...Ông đi

vào mỏ Vàng Danh và viết Thanh niên trong bụi đen... Tinh thần lúc ấy hết sức

lạc quan tin tưởng. Ông viết Nắng mới (Đăng trên báo Người mới) với tinh thần

ấy.

Năm 1939, thực dân bắt đầu khủng bố.

Tháng 9 – 1939, ông bị bắt. Lý do: tàng trữ tài liệu cộng sản. Đó là

cuốn Tự chỉ trích của Nguyễn Văn Cừ. Lúc bị bắt, ông đọc câu thơ Tố Hữu và

rất lấy làm tự hào:

Tôi sẽ cười như kẻ sẵn lòng tin

Giữ trinh bặch linh hồn trong bụi bẩn.

ở Căng Bắc Mê, Tô Hiệu mở lớp huấn luyện về lý luận. Dự lớp có Tô

Quang Đẩu, Ngô Minh Loan, Hồ đen, Trần Các, Tô Dĩ, Phan Bôi, Xuân Thuỷ,

Nguyên Hồng. Ông nói, chúng tôi hát rất hồn nhiên, rất say sưa, say lý tưởng,

sống cứ như trong mơ...

Trong tù có những hình ảnh rất đẹp. Ông nhớ hình ảnh chị Bùi Đình

Đổng bụng chửa, ung dung vào xà lim với chồng, dắt theo đứa con lên ba. Đẹp

nhất là hình ảnh Tô Hiệu, áo cổ lọ, mũ nồi, ngực dẹt, tiếng khàn khàn vì bị tra

tấn, làm việc say mê chuẩn bị cho lớp huấn luyện. Ai dự lớp huấn luyện coi như

không được tha.

Trong tù, có tin Liên Xô ký hiệp ước với Đức. Lúc ấy, vấn đề đặt ra là:

Lý tưởng và lòng tin? Không có lòng tin thì làm sao chống lại được sức mạnh

của đế quốc hết sức ghê gớm lúc bấy giờ.

Nhưng nghe Tô Hiệu giảng bài, sức thuyết phục còn hơn cả sách vở.

Cái feu, cái ánh sáng ở con người Tô Hiệu rất thuyết phục! Lớp học mỗi ngày

giảng ba buổi. Giờ khác thì soạn bài, ghi trên giấy cuốn thuốc lá, thuốc lào, giấy

gói bánh khảo. Tô Hiệu viết từ 9 giờ tối đến 2 giờ đêm... Sáng đi làm cỏ vê thì

chuyển tài liệu cho các trại.

Vợ chồng Bùi Đình Đổng và Tô Hiệu, sau này được Nguyên Hồng

dùng làm nguyên mẫu cho mấy nhân vật cách mạng của ông trong bộ tiểu

thuyết Cửa biển.

ở tù ra, Nguyên Hồng lấy vợ. Chả quen biết gì nhau đâu, chỉ nhờ mối

lái mà lấy nhau. Đám cưới không có chú rể. Người ta đưa dâu về nhà chồng ở

xóm Cấm, Hải Phòng, nhưng chú rể, tuy đã ra tù, vẫn phải chịu chế độ quản

thúc ở Nam Định.

* *

*

Nguyên Hồng rất giầu tình cảm, rất dễ xúc động, hay khóc. Các con

hay cười bố về chuyện này. Mẹ ông chết năm 1973, ông thương khóc như mưa

như gió, dữ dội quá, làm cho vợ ông sợ quá, phát ốm. Lúc sống, mẹ con hay gắt

nhau, thế mà lúc chết thì khóc như thế. Hôm tôi lên Nhã Nam ăn một trăm ngày

Nguyên Hồng, bà Nguyên Hồng nói với tôi như vậy.

Ông Hoài Thanh cho biết, Nguyên Hồng có lúc đang nói trên diễn đàn

hội nghị, bỗng dừng lại: “Các đồng chí cho tôi khóc một lúc đã”.

Hoài Thanh có vẻ nghi ngờ sự chân thật của Nguyên Hồng, vì thấy có

một cái gì không bình thường trong cách biểu hiện cảm xúc của ông. Thực ra

chính vì ông có một trái tim khác thường – một trái tim lớn. Cho nên trong suốt

cuộc kháng chién 9 năm, đi đâu ông cũng cõng balô tập bản thảo tiểu thuyết

Sống mòn dày cộp của Nam Cao. Mùa hè ông có thể ngồi quạt cho các bạn bè

ngồi viết văn. Trước cái chết oan ức và vô cùng thảm khốc của Lan Khai, ông

gửi cho vợ Lan Khai những dòng chữ như viết bằng máu:

Sống lầm than, chết cũng lầm than

Viết mọi rợ, chết vì mọi rợ.

Một ngọn đèn xanh, hai dòng lệ đỏ...

Kim Lân còn chứng kiến Nguyên Hồng vừa viết văn vừa khóc. Khóc

nức nở. Vừa đấm lưng vừa khóc. Thương cả nhân vật do mình hư cấu ra. Trong

Cửa biển, có nhân vật tên là Gái Đen, phu bến tầu Hải Phòng. Người rất tốt, gia

đình có truyền thống yêu nước, nhưng lấy nhầm phải một thằng phản bội cách

mạng, có mang với nó. Đau khổ quá, lúc trở dạ đẻ, cô quằn quại, vật vã, đẻ

xong thì chết. Ngồi viết ở Đồi Cháy, Nhã nam, đến chỗ Gái Đen chết, ông vừa

khóc vừa chạy xuống bếp, nói với cô con gái đang nấu cơm: “Con ơi, Gái Đen

chết rồi!”. Hôm ở trụ sở báo Văn nghệ, thuật lại chuyện này, ông cũng khóc.

Nói chuyện với ông, tôi rất ngại. Vì ông khóc mà mình chẳng thấy xúc

động gì cả, y như thằng không có tình cảm. Mà nhìn người đàn ông râu ria ngồi

khóc, trông rất tội.

Giầu lòng thương người nên Nguyên Hồng quan niệm chủ nghĩa hiện

thực không tách rời tình cảm đối với nhân dân lao động. Cho nên ông không

thoả mãn với chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng.

Ông không thích Mạnh Phú Tư, Tô Hoài, cho là nhạt, không có tâm

huyết, thiếu tình người. Ông thích Hồ DZếnh, đánh giá cao Am cu li xe của

Thanh Tịnh là vì thế. Nguyên Hồng cho tả thực xã hội (hồi ấy người ta không

nói hiện thực mà nói tả thực) phải gắn bó với người lao động nghèo khổ, yêu

thương và có trách nhiệm với người cùng khổ. Vì thế, ông cho Nguyễn Công

Hoan không phải là tả thực. Cũng vì thế mà trong thời kỳ Mặt trận dân chủ

Đông Dương, chịu ảnh hưởng của phong trào cộng sản, ông bắt ngay lấy học

thuyết giai cấp. Ông tự thấy không phải không có tinh thần yêu nước và lòng tự

hào dân tộc, nhưng say giai cấp hơn. Đây là chỗ khác với phần lớn các cây bút

tiểu tư sản đương thời. Họ nhậy cảm với vấn đề dân tộc, còn chuyện giai cấp thì

rất khó “vào”.

Nguyên Hồng thì say giai cấp. Ông viết Người đàn bà Tầu (1939), ca

ngợi tinh thần quốc tế của giai cấp vô sản.

Người đàn bà Tầu, ông coi đấy là một bước rẽ của mình về tư tưởng và

nghệ thuật.

Nhưng cũng là bước rẽ vào nhà tù - ông nói với tôi như vậy.


* *

*

Lần thứ hai, Nguyên Hồng tìm đến tôi, khi gia đình tôi đã chuyển lên ở

nhà B2, tầng năm. Lần này ông ở lại với gia đình tôi cả ngày

Thông thường người uống rượu, thích thuốc lá, trà tầu. Nguyên Hồng

đi đâu cũng xách theo chai rượu, nhưng không hút thuốc lá, uống trà tầu. Trời

nóng ông chỉ xin một cốc nước lạnh.

Hôm ấy đứa con gái tôi mới học lớp một. Nó đi học về, phàn nàn là cô

giáo bắt làm một bài tập kể tên các loài chim có ích. Nguyên Hồng đã gợi ý

giúp nó làm bài tập ấy.

Tôi nhớ lần gặp ấy, Nguyên Hồng có nói một câu mới nghe có vẻ vô

lý, nhưng nghiệm ra thấy rất đúng: “Thày giáo Mạnh này, bọn văn xuôi chúng

tôi rất dại, chỉ có bọn làm thơ là khôn”.

Sự thật quả có thế. Mấy ông văn xuôi thường hay bị đánh: Nguyễn

Tuân (Phở, Tình rừng, Tờ hoa...), Nguyên Hồng (Con hổ ở Suối Cát), Nguyễn

Huy Tưởng (Một ngày chủ nhật), Tô Hoài (Mười năm, Dế mèn phiêu lưu ký),

Nguyễn Thành Long (Cái gốc), Nguyễn Khải (Đối mặt), rồi Phùng Quán, Trần

Dần, Nguyên Ngọc, Nguyễn Dậu, Hà Minh Tuân... Còn bọn làm thơ, phần lớn

là quan chức cao cấp, được Đảng tín nhiệm: Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên,

Xuân Diệu, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi. Thế hệ sau là Bằng Việt, Hữu Thỉnh,

Vũ Quần Phương, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Đăng Khoa... Tất nhiên có ngoại

lệ, nhưng không nhiều. Phần lớn đúng như Nguyên Hồng nói.

Trong hoàn cảnh của chính thể ta, tôi cho Nguyên Hồng là người cứng

cỏi hơn cả, bản lĩnh hơn cả. Hồi anh Nguyễn Đình Nghi đến thăm tôi, tôi có

221

tặng anh cuốn Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, trong đó có

bài Nguyễn Đình Thi như tôi biết. ở bài này, tôi có ý chê Nguyễn Đình Thi thiếu

dũng khí. Nguyễn Đình Nghi đọc sách và phôn cho tôi, ý nói nên thông cảm với

giới văn nghệ dưới chính thể này. Anh nói, anh là con ông Thế Lữ, nên được

tiếp xúc nhiều với giới nhà văn. Anh biết, chẳng ai có dũng khí được đâu, kể cả

Phan Khôi, Nguyễn Tuân.

Đúng thế thật. Nguyễn Tuân vẫn được tiếng là ngang bướng, vậy mà

tôi nghe nói, có lần ông vừa uống rượu vừa khóc: “Tôi được như thế này là vì

biết sợ”.

Nguyên Hồng không sợ. Hồi ông phụ trách thư ký toà soạn tuần báo

Văn, tờ báo bị quy là Nhân Văn ngóc đầu dậy, ông không chịu, không cho mình

là sai. Ông từ chối kiểm thảo, từ chối đi thực tế cải tạo tư tưởng, trong khi hầu

hết đều tự kiểm thảo và đi thực tế: Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn

Khải, Tô Hoài đi Tây Bắc, Điện Biên, Huy Cận đi vùng mỏ, Đào Vũ đi nông

thôn...v.v

Nguyên Hồng không đi. Ông khinh tuốt, cho tất cả chúng nó đều hèn.

“Tao đéo chơi với chúng mày nữa” - ông tuyên bố thế và bỏ ra ngoài biên chế,

đưa cả gia đình lên Nhã Nam, trở lại Đồi Cháy, nơi ông sơ tán thời khángchiến

chống Pháp. Ông đã phải trả giá rất đắt cho thái độ cứng cỏi này. Đang có nhà

cửa, việc làm ở Hà Nội mà lại bỏ đi như thế, ở thời bao cấp, là một hành vi hết

sức dũng cảm, thậm chí liều lĩnh. Lên Nhã Nam, một phiếu gạo của ông (13 cân

rưỡi) nuôi 9 người: một vợ và 7 con bé lắt nhắt. Lại còn mẹ ông nữa lúc ấy còn

sống. Đói theo nghĩa đen! Vợ đi chăn bò cho hợp tác xã, mùa đông phải gặm

một con cá mắm khô cho đỡ rét. Các con thì mò cua bắt ốc. Ăn ngô ăn khoai

thay cơm.

Hôm cúng 100 ngày Nguyên Hồng (Nguyên Hồng mất ngày 2.5.1982,

một trăm ngày là 10.8.1982), tôi có lên dự cùng với Nguyễn Xuân Sanh và

Vương Trí Nhàn.

Này đây là Đồi Cháy, ấp Cầu Đen đây. Nơi từng hội tụ một số gia đình

văn nghệ sĩ thời kháng chiến chống Pháp: Ngô Tất Tố, Kim Lân, Nguyên Hồng,

Tạ Thúc Bình, Trần Văn Cẩn. Ngày xưa không biết quang cảnh thế nào, còn giờ

đây chỉ có căn nhà của Nguyên Hồng. Nhà lợp ngói, tường đất (gọi là tường

trình). Một cái bếp. Trên chái nhà thấy còn treo một cái bàn thấp, nhỏ, gỗ tạp,

giống như một cái kỷ nhưng rất thô sơ. Nguyên Hồng thường đặt bàn lên

giường ngồi viết, hoặc đem ra gốc cây khế góc sân, giải chiếu ngồi làm việc.

Khoảng 9, 10 giờ sáng ngày 2.5.1982 – bà Hồng kể - Nguyên Hồng

đang làm việc ở gốc khế, xoay ra vác đất đắp vào chân tường nhà bếp. Tường xi

măng mà không có móng, sợ chuột đào đổ, nên phải đắp đất cho vững. Bà Hồng

bảo thuê thợ, ông không nghe. Trời mưa lất phất. Ông thấy mệt, giải chiếu nằm

nghỉ ở bờ tre. Bà Hồng dìu về nhà ngang, sau lên nhà trên. Ông tắt thở khoảng 2

giờ chiều. Trước khi chết chỉ đập đập tay xuống giường có vẻ bực bội, nói với

vợ, gọi cho Hội nhà văn. Bà Hồng thở dài “Ông ấy cả đời chả bao giờ được

sướng. Uống rượu chả có gì nhắm cũng khề khà. Trông dáng dấp như anh cụ li

xe ngồi nhắm rượu ở vỉa hè. Túng thiếu thế, nhưng có tiền (tiền sách) là cúng

ngay cho xã để xây dựng trường học (300 đồng)”.

Tôi thấy trong nhà có một cái tủ ọp ẹp, không có khoá, mở ra thấy chất

đầy bản thảo của Nguyên Hồng. Tôi tìm thấy một cuốn nhật ký. Đọc mấy trang,

thấy hoàn cảnh gia đình Nguyên Hồng hồi ấy thật bi đát. Tôi có ghi được mấy

đoạn:

21.4.1968. Nhà tôi đi lĩnh ngô về thì bị hen. Tôi lại phải làm cơm...

24.4.1968. Sáng tôi đi chợ Nhã Nam mua dây khoai cho lợn ăn bữa

cuối cùng. Khoai lang bán 11 đồng một gánh, tôi không dám mưa. Mua thêm

chục mớ rau muống để về cấy. Tôi đến hàng chị Lương xem ra làm sao, nhưng

không mua được gì cả. Tôi đã bắt đầu viết bản thảo ba “Đôi chim tan lạc và

anh bộ đội”.

26.4.1968. Tôi sang huyện. Mua đôi dép cho Thư 5đ5 và bé Diệu cái

bàn chải đánh răng. Xin mua được 3 thếp giấy và 2 cân dầu.

28.4.1968. Nhà tôi trả trâu. Cái Nhã cắt cỏ, cái Thế đi chăn lần cuối

cùng: “Trâu ơi! Tao giả mày, tao nhớ mày lắm!”. Nó tần ngần mãi khi đưa trạc

cho cái Hạnh.

Mẹ tôi đi xin cơm cho con mèo mướp. Vợ tôi nhá ngô cho các gà con.

Tôi giằm ngô, những hột nở mềm nhất cho mèo ăn.

Chủ nhật trống rỗng. Bầu Hội đồng nhân dân tỉnh. Nhã bắt được 40

con cua. Nhã nấu canh cua với rau khoai lang. Tôi nhắm rượu với mấy con cua

con xào tỏi... Thư, Nhã làm đất trồng rau dền. Bãi rau muống đã hái được.

29.4.1968. Cái Diệu khoe “Nhà cái Quỳnh sắp nhịn đói, nhà ta nhịn

đói đã từ lâu rồi!”. Hôm nhà tôi ốm, nó cũng khoe với các bạn Quỳnh, Các

:”Bu tao sắp chết rồi!”

Nhà tôi rên lên: “Phải, tao sắp chết rồi đây”

Tình cảnh Nguyên Hồng như thế mà không ai dám cứu. Hội nhà văn,

Tỉnh uỷ Bắc Giang, Hội Văn nghệ Hải Phòng đều sợ, không dám hỏi han gì

đến.

Nhưng hoàn cảnh như thế mà Nguyên Hồng vẫn viết, hết Cửa biển (4

tập, mỗi tập 500 trang) lại Núi rừng Yên Thế. Lao động như thế, ăn uống như

thế, ông sống được đến ngoài 60 tuổi kể cũng giỏi!.

Bản lĩnh Nguyên Hồng như thế nên Nguyễn Tuân rất phục. Khi

Nguyên Hồng mất, người ta làm lễ viếng ở 51 Trần Hưng Đạo. Nguyễn Tuân

phát biểu, vừa nói vừa khóc. Ông còn nói với chị Ngọc Trai: “Người ta cứ bảo

tôi bướng, chứ tôi bướng sao bằng Nguyên Hồng!”

Chính trong lễ viếng Nguyên Hồng hôm ấy, chị Lê Minh, phụ trách

mục Văn nghệ trên báo Nhân dân, đặt tôi viết một bài về Nguyên Hồng. Tôi

viết một hơi bài Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng, lấy chuyện mau nước mắt

của ông làm lời kết: “Bây giờ nằm dưới ba thước đất, nguồn nước mắt ấy liệu

có bao giờ khô cạn được chăng?”.

* *

*


Nguyên Hồng, trong sinh hoạt, có nhiều cái hết sức nhếch nhác. Xem

Cát bui chân ai của Tô Hoài thì đủ rõ. Nhưng có lẽ chưa bao giờ ông lâm vào

tình trạng nhục nhã, ê chề như trường hợp kể sau đây.

Tôi có một anh bạn thân tên là Trần Văn Lộc. Lâu ngày quá, giờ tôi

không còn nhớ đã quen Lộc trong trường hợp nào và từ bao giờ.

Hồi xưa anh học Sư phạm trung cấp ở Khu học xá Việt Nam tại Nam

Ninh (Trung Quốc). Sau lại về học tiếp ở Đại học Sư phạm Hà Nội. Có một hồi

không hiểu sao anh lại tự sát nhưng cứu được. Tôi đến thăm anh ở bệnh viện,

anh ôm lấy tôi khóc ồ ồ, rất tội.

Trần Văn Lộc là em ruột Trần Văn Nhung. Hồi Nhật đảo chính Pháp ở

Hà Nội (9.3.1945), Trần Văn Nhung theo Nhật đánh Pháp và bị tử thương.

Thời gian học ở khu học xá Nam Ninh, Lộc bị bệnh sa ruột (gọi là sa

đì) phải vào chữa ở bệnh viện Nam Ninh. Đúng lúc ấy, Nguyên Hồng cũng sang

điều trị tại đấy, và cũng bị bệnh ấy. Bị bệnh này thì phải giải phẫu. Giải phẫu thì

phải làm vệ sinh cẩn thận, trước hết phải cạo hết lông ở quanh dương vật rồi bôi

thuốc sát trùng.

Nguyên Hồng lên bàn mổ trước. Mấy cô y tá Trung Quốc trẻ trung,

hồng hào, trắng trẻo, làm công việc này một cách rất tỉ mỉ, cẩn thận, nên kéo dài

rất lâu. Nguyên Hồng hoảng quá. Phải làm sao át đi những ý nghĩ bậy bạ. Ông

bèn nghĩ đến đất nước đang có chiến tranh, khói lửa mịt mù, nhân dân cực khổ.

Nhưng không sao át được. Cái ấy dần dần cương lên. Nhưng cô y tá cứ tiếp tục

công việc một cách tỉ mỉ kỹ lưỡng. Cuối cùng một việc “quốc sỉ” đã xẩy ra, nó

vọt vào áo của cô y tá. Cô gái cứ coi như không có chuyện gì, thản nhiên lau

chùi đi và tiếp tục công việc của mình.

Giải phẫu xong, Nguyên Hồng về phòng, kể nỗi nhục nhã này với Trần

Văn Lộc.

Lộc sợ quá, vội buông màn, tự làm vệ sinh trước.

Con người này quá giầu xúc cảm, lại giầu tưởng tượng. Xuân Diệu nói

Nguyên Hồng có năng khiếu của một nhà văn lớn là thế.

Nhưng lý trí yếu, không làm chủ được. Nguyên Hồng có 7 con. Vợ cứ

đẻ sòn sòn. Xuân Diệu thì rất ghét người đẻ nhiều, vô kế hoạch. Đi đâu ông

cũng tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch. Ông bực với Nguyên Hồng: “Sao đẻ

nhiều thế?”. Nguyên Hồng có câu trả lời rất lạ: “Vì vợ tôi nó xấu”.

Xuân Diệu kể với tôi chuyện này, và nói anh không hiểu được ý nó

muốn nói gì.

Tôi nghĩ chắc là không làm chủ được cảm xúc, không làm chủ được

bản năng thế thôi.

* *

*

Nhưng Nguyên Hồng có mấy ông con thật không ra gì. Luôn oán bố.

Bố chết rồi vẫn thù oán. Tô Hoài nói với tôi như vậy. Đang yên đang lành ở Hà

Nội, đùng đùng đưa cả nhà lên cái quả đồi sỏi đá heo hút, khiến vợ con đói

khát, phải mò cua bắt ốc, ăn khoai ăn sắn. Nhưng bố chết rồi vẫn còn thù oán thì

224

quá tệ. Mà cái lý do ông bỏ biên chế, bỏ Hà Nội, phải nói là rất đáng phục chứ!

Hồi Hải Phòng tổ chức một cuộc hội thảo về Nguyên Hồng nhân ngày

giỗ đầu của ông (Nguyên Hồng vốn là chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng),

người ta cho xe đón Hồng Hà (anh con cả của Nguyên Hồng) đi dự. Anh ta

không đi.

Vào khoảng 1986, 1987, tôi có biên soạn cuốn Nguyên Hồng, con

người và sự nghiệp. Tôi nói với Hồng Hà về bảo mẹ kể lại những kỉ niệm về bố

rồi viết lại cho tôi một bài để đưa vào tập sách. Anh ta không làm.

Thế mà sinh thời, Nguyên Hồng từng làm một bài thơ dài rất thống

thiết: “Hồng Hà, con ơi!”

Tôi lo lắng cho cái tủ không khoá ở Nhã Nam dựng các bản thảo, nhật

kí của Nguyên Hồng, nay có còn không?

Nguyên Hồng còn có một người con trai khác tên là Giang vẫn ở Nhã

Nam. Hôm tôi lên thăm mộ Nguyên Hồng, có gặp Giang. Anh ta không nói gì

về sự nghiệp của bố mà cứ khuyên tôi nghiên cứu Tản Đà. Mà cứ nói đi nói lại

mấy lần. Trong khi đó, chưa có ai sưu tầm tài liệu để làm Toàn tập Nguyên

Hồng.

Đúng là Nguyên Hồng chết rồi vẫn khổ!



Chương XV: Nam Cao

Năm 1963, tôi có về làng Đại Hoàng, quê Nam Cao, cùng với Nguyễn

Hoành Khung. Lúc ấy ông bà thân sinh Nam Cao hãy còn sống. Tôi đã được

uống rượu với ông cụ, được ăn cam Đại Hoàng. Tôi còn được gặp cô Hồng con

Nam Cao và một ông em của Nam Cao. Một nông dân tên là Đạt.

Tôi về Đại Hoàng để tìm hiểu những nguyên mẫu nhân vật của tác

phẩm Nam Cao, vì biết ông hay dùng nguyên mẫu. Hồi ấy tôi có hướng dẫn một

sinh viên tên là Bạch Văn Hợp làm luận văn sau đại học (tức luận văn thạc sĩ

sau này) , đề tài là: “Từ nguyên mẫu đến nhân vật truyện của Nam Cao”.

Chí Phèo không phải là người cùng thời với Nam Cao. Đó là một nhân

vật truyền thuyết của làng. Ngày xưa có một anh Chí Phèo, làm nghề mổ lợn,

giỏi bắt phèo nên người ta gọi là Chí Phèo. Anh ta thường uống rượu say, đi

trên đường làng, chửi trời chửi đất lung tung, trẻ con chạy theo hàng đàn. Chí

Phèo không đâm chém ai cả. Còn Bá Kiến thì có nguyên mẫu tên là Bá Bính,

gần giống như Bá Kiến: bóc lột dân, dâm ô, cướp cả vợ bố, ngủ với con dâu.

Cũng có bốn vợ. Tôi có ghi lại mấy câu vè về Bá Bính của dân Đại Hoàng (dân

Đại Hoàng hay làm vè, Nam Cao gọi là trần ngôn):

Nam Sang nhất tổng Cao Đà

Có thằng Bá Nghị tên là sọc nhăng

Ông mà lại hoá ra thằng

Khôn ngoan nhất mực, nói năng ai tày

Bốn đời lý trưởng trong tay

Bao chiếm điền thổ xưa nay đã nhiều

Thuế tháng năm nhà nghèo cùng khổ

Mày lại còn lạm bổ lạm thu

Mang về xây dựng cơ đồ

Lắng tai ta sẽ bảo cho ân cần

(Theo ông Trần Doãn Chấn)

Nghe nói vợ ba Bá Bính bị ta thủ tiêu vì hay ra vào đồn giặc, người ta

cho là Việt gian. Còn vợ tư Bá Bính thì lúc chúng tôi về Đại Hoàng, vẫn còn

sống.

Chí Phèo và Bá Bính chẳng liên quan gì đến nhau cả. Bá Bính chẳng bị

ai đâm chém, còn sống mãi sau cách mạng tháng Tám, và có chân trong Hội

Liên Việt.

Như vậy là truyện Chí Phèo hư cấu nhiều, nhất là nhân vật Chí Phèo.

Nam Cao đã bịa ra vụ án mạng Chí Phèo giết Bá Kiến và tự sát. Ông đã sáng

tạo ra một tính cách độc đáo.

Nhưng truyện Nam Cao đã trở thành sự thật đối với thế hệ trẻ làng Đại

Hoàng. Tôi có đến xem bài viết về lịch sử làng Đại Hoàng trình bầy trên một tờ

giấy lớn đặt ở trụ sở uỷ ban xã, do một học sinh lớp 7 soạn. Anh ta ghi luôn

nhân vật truyện của Nam Cao vào lịch sử: “Xưa có một địa chủ cường hào tên

là Bá Kiến...”

Trong truyện Chí Phèo, Nam Cao nói làng Vũ Đại lắm bè phái do kiểu

đất “Quần ngư tranh thực”. Điều này có thật.

Người làng còn nhớ năm cánh:

1. Cánh Bá Bính (Tên thật là Trần Duy Bính)

2. Cánh Nhất Hợp.

3. Cánh Bát Ngọ (tên là Trần Thế Ngọ). Còn có một người thật thuộc

cánh này tên là Năm Ngọ.

4. Cánh Lý Bật.

5. Cánh Bát Tụ.

Còn Thị Nở có người nói có, có người nói không. Cô Hồng, con Nam

Cao, thì nói dứt khoát: “ông ấy bịa”.

Hôm ấy tôi thử hỏi một ông người làng gặp giữa đường có biết Nam

Cao là ai không? Ông nói: “Biết chứ! Nam Cao là một cán bộ trung ương” –

Nghĩa là một ông quan cách mạng to. Ông nông dân này nghĩ thế, chắc vì thấy

nhiều người về thăm, trong đó có cả ông Tây bà đầm đi xe tu bin. Mới biết

người dân Việt nam chỉ trọng quan lại, chứ nhà văn thì là cái quái gì! Ngay ở

nhà Nam Cao, tôi thấy có mấy bức ảnh Nam Cao chụp với gia đình, bị để mốc

và hoen ố hết. Những di vật ấy thì có giá trị gì mà giữ!

Xem cảnh làng Đại Hoàng thì thấy hệt như cảnh làng Vũ Đại trong

truyện Nam Cao: Làng Đại Hoàng nhất thôn nhất xã (xã chỉ có một thôn). Đất

vườn nhiều hơn ruộng lúa. Lúa của làng chỉ đủ để nấu cháo hồ vải. Đàn ông

không biết đi cày. Đàn bà không biết đi cấy. Dân làng làm vườn là chính (gọi là

“bòn vườn”): trồng trầu, trồng cam, trồng chuối, trồng dâu:

Cây trồng cau chuối rườm rà

Cam cam, bưởi bưởi, na na, hồng hồng...

(...)Đất thơm là đất trồng trầu

Bãi bồi là đất trồng dâu cứu bần...

Đại Hoàng có nghề dệt vải. Vào làng cứ nghe ran ran tiếng lách cách

dệt cửi. Truyện Nam Cao cũng hay nói đến nghề dệt, thợ dệt (Dì Hảo, Một bữa

no...)

Người nhiều khôn khéo cũng nhiều

Dệt thoi thoi múa, thi diều diều lên

(Vè Đại Hoàng)

Đại Hoàng cũng như làng Vũ Đại, nằm bên bờ một con sông gọi là

sông Châu Giang (Gió sông thổi lên vườn chuối nhà Chí Phèo, Thị Nở gọi là

“mát như quạt hầu”)

Tìm hiểu Nam Cao nhất thiết phải gặp Tô Hoài. Ông là một nhà văn

hiếm hoi gần gũi và am hiểu Nam Cao rất sâu. (Tô Hoài có một bà dì tên là

Phượng (nguyên mẫu nhân vật Oanh trong Sống mòn của Nam Cao) lấy chồng

làng Đại Hoàng (ông giáo Bao, nguyên mẫu của nhân vật Đích trong Sống

mòn). Bà Phượng phụ trách trường Tiểu học tư thục Công Thành ở Bưởi. Nam

Cao dạy ở đó. Bà Phượng giới thiệu Nam Cao dạy tiếng Pháp cho Tô Hoài.

227

Nam Cao ở nhà Tô Hoài, cùng ngủ chung một giường, đắp chung một cái chăn.

Tô Hoài chưa vợ. Nam Cao có vợ rồi nhưng vợ ở quê. Đêm đêm họ tâm sự với

nhau đủ chuyện.

Theo Tô Hoài, Nam Cao cũng có đủ mọi thói xấu trên đời. Nhưng giầu

lòng thương người và rất ngây thơ, cả tin.

Có một lần hai người đi chơi gái. Họ tìm đến một nhà trọ. Phòng hết.

Có một gái điếm nói nhường cho họ phòng ngủ. Nhưng khi họ vào ngủ thì cô

gái điếm kia vào nằm chen ngay vào giữa. ả than thở về số phận như thế nào đó,

Nam Cao rất xúc động, trong khi đó, ả vẫn sờ soạng và cắn tai Tô Hoài.

Nhưng Nam Cao có một điều đặc biệt là hay xấu hổ về những thói xấu

của mình, về những chỗ tầm thường phàm tục của mình. Chỗ hơn đời, hơn

người của ông chính là chỗ đấy.

Tô Hoài kể cho tôi nghe một chuyện này, tôi cho là rất có ý nghĩa.

Trước 1950, biên giới phía Bắc nước ta còn bị tụi Pháp chiếm giữ. Con đường

số 4 từ Cao Bằng đi Lạng Sơn, Tây kiểm soát. Nó đóng nhiều đồn bốt dọc

đường, thường cho xe cơ giới có vũ trang đi lại để kiểm soát và đặt lính phục

kích ở những lối tắt qua đường. Vì thế cán bộ ta đi công tác qua đường số 4 rất

nguy hiểm. Những đoàn cán bộ muốn qua con đường này phải tập trung ở một

khu rừng gần đó (chỗ Thất Khê), chờ một trinh sát viên đi thăm dò, nếu không

có phục kích, anh ta về báo, các đoàn mới được lệnh vượt nhanh qua đường. Tô

Hoài nói, khi có lệnh xuất phát, tâm lý chung của mọi người là không ai muốn

đi đầu. Vì đã chắc gì không có phục kích. Trinh sát làm sao nắm chắc được tình

hình một trăm phần trăm! Nếu có phục kích thì anh đi đầu hẳn là toi.

Một lần Tô Hoài và Nam Cao phải đi công tác qua đường số 4. Nam

Cao cũng nhát như ai. Khi có lệnh vượt đường, Tô Hoài để ý thấy Nam Cao mặt

tái, người run. Nhưng ông nhất quyết đi đầu. Vừa run vừa đi đầu.

Tôi kết luận, Nam Cao bề ngoài lạnh lùng, ít nói, nhưng bên trong thì

sôi sục, luôn đấu tranh tư tưởng để tự vượt lên bản thân mình. Xét ra ý nghĩa tư

tưởng của truyện Nam Cao là thế: dạy cho người ta biết xấu hổ, hay nói cách

khác, muốn lay tỉnh ở con người ý thức về nhân phẩm, nhân tính. Không phải

chỉ nhân vật trí thức, ngay thằng Chí Phèo cũng đấu tranh tư tưởng để trở lại

làm người lương thiện. Chí Phèo chết như một người khao khát trở lại làm

người.

Nguyên Hồng, Kim Lân đều rất phục Nam Cao.

Lần đầu Kim Lân gặp Nam Cao ở nhà Nguyễn Huy Tưởng, phố Lò

Đúc. Ông thấy Nam Cao rất khiêm tốn, tự thấy minh tầm thường. Lắm mặc

cảm. Có vẻ lạnh nhạt. Không thích vồ vập ai.

Đến kháng chiến chống Pháp thì có thời gian họ ở với nhau. Nam Cao

tỏ ra kính trọng mọi người, phục mọi người, chỉ thấy mình là xoàng. Nhưng có

một lần, uống rượu với thịt châu chết. Kim Lân bốc lên hát tuồng. Như Phong

rút súng lục đùa dí vào cổ người khác. Còn Nam Cao thì lớn tiếng: “Tao đéo

phục thằng Goocki”. Té ra con người này cũng không hẳn chỉ có khiêm tốn

đâu! Nam Cao chỉ phục Sêkhốp, cho Goocki ồn ào quá.

Bản thảo của Nam Cao viết rất sạch sẽ. Nhưng không quý bản thảo của

mình. Bản thảo Sống mòn nhờ có Nguyên Hồng giữ mới còn, giữ trong suốt

cuộc kháng chiến, đến khi hoà bình lập lại mới giao cho Hội văn nghệ. Tên

truyện vốn là Chết mòn. Khi in, Xuân Thuỷ đề nghị sửa là Sống mòn.

Nam Cao nhát. Rất sợ máy bay. Kim Lân cho biết như thế. Mỗi lần có

máy bay, ông chạy vội xuống hầm, chui chui, nấp nấp, rất tội. Thế mà ông đã bị

giặc bắt và đem ra bắn.

Hồi ấy Nam Cao vào Thanh hoá dự một hội nghị về văn nghệ. Hội

nghị kết thúc, lẽ ra ông trở về Việt Bắc theo đường số 6. Nhưng ông lại muốn đi

vào vùng địch, tạt về thăm làng mình nghe nói đã thành làng du kích. Ông có

nguyện vọng viết về làng Vũ Đại đứng lên đánh giặc. Đã viết được mấy chục

trang nhưng tự thấy không ra gì nên vất đi. Ông cho là vì thiếu thực tế, nên nhân

dịp này về làng để tìm thực tế. Ông đi theo một đoàn cán bộ tuyên truyền thuế

nông nghiệp, đóng vai một anh y tá hay cán bộ Bình dân học vụ gì đó. Họ đi

bẩy cái thuyền nan, vì lúc đó vùng chiêm trũng Ninh Bình, Hà Nam nước trắng

băng. Nam Cao cùng mấy cán bộ lãnh đạo ngồi chiếc thuyền đầu. Vừa ghé đến

làng Vũ Đại thì sa lưới bọn Commandos. Đoàn đã được thông báo đêm ấy

chúng đã rút đi rồi, hoá ra có một toán đóng ở lại. Thật không may cho Nam

Cao!

Không biết lúc viết Chí Phèo, Chết mòn (tức Sống mòn), Nam Cao đã

tới hay đã nghe nói có một cái làng thật tên là Vũ Đại hay chưa. Làng này thuộc

tỉnh Ninh Bình, giáp với Hà Nam, kề ngay đường số 1 (nay thuộc xã Gia Xuân,

huyện Gia Viễn). Chẳng lẽ lại có một sự trùng hợp ngẫu nhiên một cách kì lạ

thế sao giữa một cái tên làng trong truyện hư cấu với một cái tên làng có thật –

cũng không xa làng Đại Hoàng của Nam Cao bao nhiêu. Một sự kì lạ nữa là

Nam Cao lại bị bắt ở đúng cái làng mang cái tên ấy và bị bắn chết ở đó. Mà sao

ông lại đi trên cái thuyền đầu? Các thuyền sau họ đều chạy thoát cả. Số mệnh

xui nên thế, hay là lại do cái tính cách “vừa run vừa đi đầu” như cái hồi vượt

đường số 4 với Tô Hoài năm nào?

Mà lẽ ra Nam Cao có thể chưa bị thủ tiêu, nếu như đêm ấy không có

chuyện một người trong đoàn cán bộ bị bắt bỏ trốn mà không thoát. Bắt được

mấy cán bộ ViệtMinh ở làng Vũ Đại, bọn Commandos đưa tất cả qua đường số

1 sang giam ở nhà thờ Mưỡu Giáp cách làng chừng vài ba trăm mét. Do cuộc

trốn chạy thất bại của anh cán bộ kia, chúng đem tất cả ra bắn ngay tại cánh

đồng Mưỡu Giáp trước cửa nhà thờ. Đó là vào một đêm tháng 11 – 1951, Nam

Cao mới 36 tuổi.

Như đã nói, viết truyện, Nam Cao hay dùng nguyên mẫu.

Hầu như toàn bộ nhân vật trong Sống mòn đều có nguyên mẫu cả, và

hầu hết đều là người làng Đại Hoàng: nhân vật Oanh, nguyên mẫu là Phượng,

một bà dì của Tô Hoài. Chồng của Oanh là Đích, nguyên mẫu của Đích là giáo

Bao, người Đại Hoàng. San nguyên mẫu là Trần Đức Phấn, hồi Pháp thuộc từng

đăng lính sang Tây, sau 1945 xung phong theo đoàn quân Nam tiến. 1954, tập

kết ra Bắc, đóng lon trung tá, có thời gian phụ trách điện ảnh quân đội. Mô (anh

lao công đánh trống trường), nguyên mẫu là Trần Văn Đa, sau cách mạng xung

phong đi phát triển kinh tế miền núi ở Phú Thọ. Bá Kiến, nguyên mẫu là Trần

Duy Bính. Liên vợ giáo Thứ, nguyên mẫu là Trần Thị Sen vợ Nam Cao. Còn

giáo Thứ, nguyên mẫu là tác giả - Trần Hữu Tri, tức Nam Cao.

Sách viết xong năm 1944. Nhưng mãi đến 1956 mới in được.

Trong một bài viết về Nam Cao, Nguyễn Đình Thi cho rằng do tác

phẩm phê phán hiện thực như thế nào đấy nên kiểm duyệt thời Pháp không cho

xuất bản. Thực ra không phải. Có hai lý do: một là khoảng năm 1940 – 1945, do

chiến tranh, giấy khan hiếm. Cuốn tiểu thuyết của Nam Cao lại khá dầy mà tác

giả chưa phải là một tên tuổi ăn khách lắm. In ra, các nhà xuất bản sợ bán không

được. Hai là tác phẩm viết quá sát sự thật về toàn những người quen biết trong

làng mình. Vì thế sách in ra cũng ngại. Ông nói với Tô Hoài, đại ý là phải đợi

cho các nguyên mẫu kia “tịch” hết cả đi rồi mới in được.

Năm 1956, khi sách được xuất bản, hầu hết các nguyên mẫu đều còn

sống cả, chỉ duy có nguyên mẫu của nhân vật giáo Thứ, tức Nam Cao, thì không

còn nữa.

Nam Cao có một tập nhật ký. Tô Hoài giao cho HMĐ. Trong cuốn

sách HMĐ viết về Nam Cao, in năm 1960, 1961 gì đó (Nam Cao, nhà văn hiện

thực xuất sắc), anh có trích vài đoạn trong cuốn nhật kí này.

Cuốn nhật ký ấy nay ở đâu? chắc vẫn trong tay HMĐ. Có của quý, cứ

giữ độc quyền, mà không biết dùng, thật phí. Giống như có gươm báu mà

không biết dùng. Giữ làm gì!



Chương XVI: Tô Hoài


Tôi tiếp xúc với Tô Hoài rất sớm. Từ những năm 60 của thế kỉ trước.

Nhưng mãi đến năm 2000, tôi mới viết được một bài về ông.

Tôi trước sau vẫn thế, khi viết về một nhà văn nào đó mà chưa hiểu tư

tưởng chi phối một cách có hệ thống sự nghiệp sáng tác của ông ta, thì tôi

không thể viết được. Về Tô Hoài, tôi cứ nghĩ mãi không biết tư tưởng của ông

là gì. Nhiều tác phẩm của ông tôi thích, nhưng không tìm ra một tư tưởng

chung. Tư tưởng Nguyên Tuân là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc gắn với

những giá trị văn hoá cổ truyền của đân tộc; Nam Cao là nỗi đau đớn trước tình

trạng con người không giữ nổi nhân tính, nhân phẩm vì miếng cơm manh áo và

cái chất hèn, chất nô lệ đã thấm vào trong máu không biết từ kiếp nào. Xuân

Diệu là niềm khát khao giao cảm hết mình với cuộc đời trần thế này... Còn tư

tưởng Tô Hoài là gì? Tôi lúng túng quá! Trong khi đó, Xuân Diệu có lần nói với

tôi: “Tô Hoài nó chẳng có có tư tưởng gì cả. Nguyễn Đình Thi còn có tư tưởng,

chứ Tô Hoài chẳng tư tưởng gì”. Tôi lại càng hoang mang. Một nhà văn cỡ

như Tô Hoài mà không có tư tưởng! Vô lý quá!.

Hồi tôi biên soạn cuốn Tổng tập văn học Việt Nam tập 30A, 30B (1979,

1980), tôi có đến Tô Hoài mấy lần (ở Đoàn Nhữ Hài). Tôi có một anh bạn tên là

Phan Ngọc Thu, phụ trách trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

của Đại học Đà Nằng. Anh đứng ra tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn cho

các giáo viên PTTH chuyên văn ở miền Trung, miền Nam. Anh thường mời tôi

và Tô Hoài vào giúp. Vì thế, tôi có dịp gặp Tô Hoài nhiều lần, khi ở Đà Nẵng,

khi ở Bến Tre hay Long Xuyên...

Tôi để ý thấy Tô Hoài, ở đâu cũng thế, mua hết các báo chí hàng ngày

để đọc.Cả báo trung ương và báo địa phương. Đọc cả những tin vặt vãnh linh

tinh. Ông rất chăm đọc báo, nhưng không thích xem ti vi và phim ảnh, dù là

phim Vợ chồng A Phủ do ông soạn kịch bản.

ở khách sạn Long Xuyên có một cái núi non bộ lớn, người ta nuôi cá,

nuôi khỉ, nuôi bồ nông, cò, vạc... Cứ xích chân, xích cổ vào hòn giả sơn. Tôi

thấy Tô Hoài cứ đứng hàng giờ quan sát các con vật và thỉnh thoảng lại phát

hiện ra một điều gì lạ ở chúng, như chân con vạc nó thế nào đấy, hay con khỉ lại

biết chơi trò thủ dâm...

Thì ra Tô Hoài thích quan sát tỉ mỉ, phát hiện những cái lạ ở người hay

những con vật tầm thường quen thuộc quanh ta. Cho nên ông viết nhiều về

phong tục của người dân Nghĩa Đô, quê ông. Và trong thời kháng chiến chống

Pháp, công tác ở Viêt Bắc, ông thích viết về phong tục độc đáo của những dân

tộc H' Mông, Mán... Phong tục, theo tôi, chính là những chuyện lạ đời thường

của các dân tộc. Ông phát hiện người H’mông sinh hoạt có nhiều cái rất Tây:

Váy áo như đầm. Gọt khoai, gọt củ, quay ngược lưỡi dao vào trong. Ăn bánh

bột ngô để nguội hàng tuần như người Tây ăn bánh mì, dùng thìa gỗ hoặc bốc,

không dùng đũa. Theo đạo tin lành. Ông đọc sách của Sabina nói người

H’mông đi từ phương Tây, qua Đông Âu, Bắc á rồi bị dồn xuống phương Nam.

Thuyết của Tầu thì cho người H’mông vốn ở vùng sông Dương Tử di cư xuống.

Tô Hoài cho thuyết của Tây đúng hơn. Người Mèo rất khái tính, bị xúc phạm là

tự tử (bằng lá ngón). Nhà có con gái đẹp, thanh niên kéo đến quấy nhiễu đông

quá, có khi ông bố đem súng ra bắn để giải tán. Thời Tây, công sứ Châtel thi

hoa hậu chỉ thi con gái dân tộc thiểu số như gái Hmông, gái Mường, gái Mán...

Tô Hoài, ở Hà Giang, đã gặp hai người đàn bà từng thi hoa hậu ở Hà Nội thời

Pháp thuộc. Người Mán khi ăn xong, cả nhà tắm nước nóng rồi lại mặc quần áo

cũ và đi đất. Về chuyện chợ tình Sa Pa, Tô Hoài cho biết, sự thực, đối với người

Mèo, người Mán, chợ là nơi ăn chơi, nơi gặp gỡ người quen, trong đó có

chuyện trai gái. Nay ta biến thành chợ tình. Rất nhảm!

Tô Hoài hay tả kỹ loài vật và cũng thấy ở chúng có lắm “phong tục” lạ

như người vậy thôi. Sở trường tả loài vật, ở Tô Hoài, xét ra cũng nằm trong cảm

hứng phong tục. Mà hình như về phương diện này, ông cũng chẳng phân biệt

người hay vật. Trong tập truyện O chuột, ông viết về toàn loài vật quanh ta,

nhưng lại xen vào đó một truyện về người (Cu Lặc). Truyện này Nguyễn Minh

Châu rất thích. Ông kể chuyện Cu Lặc không khác gì con vật. Vợ chồng gặp

nhau, lấy nhau do bản năng tình dục.Và họ bỏ nhau vì cả hai đều ăn khoẻ quá,

không sống nổi với nhau được.

Tô Hoài khác với phần lớn văn nghệ sĩ, không ngại làm những công

việc sự vụ hành chính, những công việc vặt vãnh chẳng “văn chương” chút nào.

Ông nhận đủ việc, từ đại biểu quốc hội, chấp hành Hội nhà văn trung ương, chủ

tịch Hội văn nghệ Hà Nội, đến tổ trưởng khu phố. Việc gì cũng làm. Cũng đi

tuần tra ban đêm, cũng đôn đốc “triệt để chó”, cũng đến từng gia đình kiểm tra

hố xí hai ngăn... Về hưu, ông không sinh hoạt chi bộ ở cơ quan Hội nhà văn như

hầu hết các nhà văn cao tuổi khác, mà sinh hoạt với chi bộ địa phương. Và ông

không muốn người ta biết mình là nhà văn. Vì ông thích nói chuyện với mọi

người như một người thường nói chuyện với người thường về những chuyện

thường.

Tôi để ý đến cặp mắt của ông: nhỏ, dài và hẹp. Gọi là mắt ti hí. Mắt

như thế là tinh quái lắm. Cái gì cũng biết, không gì qua mắt được. Mà toàn phát

hiện những điều ngộ nghĩnh, buồn cười ở người ta và diễn đạt bằng một vài từ

rất gọn và đích đáng. Người nào bị phát hiện ở khía cạnh ấy lập tức trở thành

tầm thường. Ngay – danh nhân, vĩ nhân cũng vậy. Thí dụ, ông cho Nhật kí

trong tù của Hồ Chí Minh chỉ là một tập thơ kêu oan. Kể ra cũng đúng:

Ta người ngay thẳng lòng trong trắng

Lại bị tình nghi là Hán gian

(Đường đời hiểm trở)

Hôm nay xiềng sắt thay giây trói

Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung

Tuy bị tình nghi là gián điệp

Mà như khanh tướng vẻ ung dung

(Đi Nam Ninh)


Những bài thơ như thế thì đúng là thơ kêu oan. Nhưng coi Nhật kí

trong tù chỉ là tập thơ kêu oan thì quả là đã tầm thường hoá tập thơ của cụ Hồ.

Phạm Tiến Duật khi nói thì đúng là khua môi múa mép, ông gọi là

thằng lái trâu. Còn Chế Lan Viên thì ông gọi là thằng “nặc nô” của Đảng. Ông

phát hiện Huy Cận ngày nào cũng ra trụ sở Hội Liên hiệp văn nghệ (51 Trần

Hưng Đạo), tuy chả có việc gì cả, chỉ cốt được ăn một bát phở miễn phí. Huy

Cận rất tham, đi đâu cũng vơ vét, càm cắp. Tô Hoài kể chuyện, một lần ông và

Nguyên Ngọc tình cờ gặp Huy Cận ở sân bay quốc tế Mạc Tư Khoa. Tự nhiên

Cận lân la đến vỗ vai nói chuyện thân mật với Nguyên Ngọc. Tô Hoài vội bấm

Nguyên Ngọc lảng đi: “Này nó sắp gạ ông xách đồ cho nó đấy!”. Quả nhiên,

sau đấy Huy Cận hai tay xách hai cái cặp nặng, lại buộc giây kéo một cái thùng

giấy lệt xệt đằng sau. Buồn cười nhất là ông phát hiện Nguyễn Xuân Sanh sở dĩ

bị Tố Hữu ghét, vì chỉnh huấn, chuyển biến nhanh quá, không đúng quy luật -

đấu tranh tư tưởng thì phải lâu dài gian khổ chứ! Còn Hoàng Cầm thì hồi bị tù,

hết hạn người ta cho ra, lại xin ở lại thêm để viết nốt bản kiểm thảo. Ông cho

biết Thợ Rèn sở dĩ nổi tiếng là vì lúc đầu người ta tưởng là Cụ Hồ, là bút danh

của Cụ Hồ. Thanh Tịnh thì ai đến chơi cũng đem đồ cổ ra khoe. Nhưng theo Tô

Hoài, ông ta cứ tán ra thế thôi, chứ nhiều cái ông ta bê ở Bát Tràng về. Bùi

Giáng thì rất mê Kim Cương, chỉ ước khi chết, được Kim Cương đái lên mồ...

Trương Tửu là tay huênh hoang thế thôi, thực chất chỉ là trôtkit mồm... Mấy

ông Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Đồ Phồn, Huyền Kiêu thì tự thấy trước cách

mạng có tội nên ra sức nịnh đảng...

Có những chuyện có lẽ chỉ có Tô Hoài mới đi kể với người khác. Vì là

chuyện rất nhếch nhác, rất bẩn. Mà là chuyện của bản thân ông. Tôi nhớ hồi ở

khách sạn Traphaco, Đà Nẵng, tự nhiên ông kể với tôi chuyện ấy. Chứ tôi có

hỏi đâu, có biết đâu mà hỏi: “Hồi hoạt động Văn hoá cứu quốc ở Hà Nội, bị lộ,

nó bắt bốn người: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Hữu Đang, Như Phong

và đưa về Nam Định xử. Vì Vũ Quốc Uy bị bắt ở Nam Định khai ra. Nguyễn

Đình Thi, Như Phong, gia đình có tiền chạy án nên được tha. Tôi và Nguyễn

Hữu Đang nhờ thế cũng được tha. Trước khi thả ra, nó giam chúng tôi ở nhà

lao Nam Định, bốn thằng giam chung một phòng. Ngồi buồn tình, bốn thằng tụt

quần ra thi cái ấy xem cái của thằng nào to. Của Thi dài đuỗn ra như quả chuối

tiêu, được nhất, Nguyễn Hữu Đang nhì, nhưng Đang không chịu vì Đang cho

của mình ngắn hơn nhưng to hơn. Tô Hoài và Như Phong bét.

Đấy, gặp Tô Hoài một hai buổi là biết đủ mọi thứ chuyện linh tinh như

thế. Và nghe ông nói một chập, thấy con người ta, nói chung đều tầm thường cả

thôi, đều là người thường vậy thôi. Mà cuộc đời không có ai là thần thánh thì

cũng vui, thì càng vui chứ sao! Tôi chắc Tô Hoài nghĩ như thế. Vì khi kể những

chuyện ấy, ông có vẻ lấy làm thú vị.

Nhận xét văn của người khác, Tô Hoài cũng thường phát hiện rất tinh

những nhược điểm. Thí dụ, văn Anh Đức là thứ văn cải lương, có lúc viết anh

hùng là “hùng anh”. Nguyễn Khải xây dựng nhân vật theo lối ghi chép rất sáng

tạo, nhưng văn Nguyễn Khải vậy mà chưa thoát được lối biền ngẫu. Nguyễn

Đình Thi là anh sinh viên, rất xa đời sống, nên mắt không chọc thủng được tờ

giấy để nhìn vào hiện thực. Thi tả cảnh chùa có cây bạch đàn. Xưa làm gì có

bạch đàn ở chùa! Thơ Bùi Giáng, theo ông cũng là một thứ thơ Bút Tre. Thơ

Hoàng Cầm thì là thứ vàng mã trang kim. Một thứ thơ trang sức hoa lá cành,

sơn son, giát vàng, thực chất không có gì. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức viết văn

học sử, tuy có tài liệu đấy, nhưng không có hồn. Lưu Trọng Lư giờ hết thời rồi.

Tài năng cũng chỉ có một thời thôi. Thơ Huy Cận và thơ Tố Hữu giờ chỉ còn là

thơ thù tạc. Vậy mà Huy Cận cứ tuyên bố: “Chưa bao giờ tôi sáng tác dồi dào

như bây giờ”... Tô Hoài biết rõ cả lai lịch Bút Tre. Bút Tre tên thật là Đặng Văn

Đăng, sáng tác trước cả Tô Hoài, ký tên Lục Y Lang, Chàng áo xanh, có bằng tú

tài Tây. Bút Tre định lăng xê một kiểu thơ sử dụng rộng rãi enjambement, chứ

không phải anh vô học làm thơ... Tô Hoài đọc cả những cây bút trẻ. Ông cho

bọn này có học. Viết được. Nhưng thiếu một cái gì đó. Thiếu chữ của riêng

mình, thiếu phong cách. Hồ Anh Thái, viết mới đấy. Nhưng rắc rối, khó hiểu.

Chưa thấy hay. Bọn trẻ nói chung rất kiêu ngạo. Nguyễn Huy Thiệp giỏi viết cái

ác. Phạm Thị Hoài rất trí thức, đồng thời lại muốn dân dã...

Một điều lạ là Tô Hoài biết cả những chuyện đời tư, rất riêng tư, thậm

chí cả những chuyện thầm kín của người ta một cách rất cụ thể. Biết có đầu có

đuôi, có ngành có ngọn, nói ra vanh vách. Ông nói, do phụ trách đảng uỷ văn

nghệ nên biết nhiều chuyện, nhất là qua những đợt kiểm tra đảng.

Một vài ví dụ: Ngân Giang từng lấy nhiều chồng, có nhiều con. Hồi

kháng chiến ở vùng tự do dinh tê vào thành. Giải phóng Hà Nội là viên chức

lưu dung. Vì thế có mặc cảm, nên hay khoe mình đã tham gia kháng chiến.

Anh Thơ lấy một bác sĩ tên là Vịnh, người miền Nam tập kết, công tác

ở bênh viện Việt Xô. Bà Trường và Nguyễn Đình Thi làm mối. Anh Thơ có

thời gian vào Nam, làm tập thơ Quê chồng. Sau lại bỏ ra Hà Nội. Chồng theo ra

và chết ở Hà Nội. Hồi kháng chiến Anh Thơ định lấy Tây địch vận. Hồi ấy có

phong trào phụ nữ xung phong lấy hàng binh làm địch vận cho ta. Sau có người

theo chồng sang Pháp, tự hào là đã tham gia công tác cách mạng, như diễn viên

múa Thuý Cẩm... Lấy Tây cũng là hy sinh vì nước, như Chiêu quân cống Hồ

trong truyện cổ...

Anh Thơ viết hồi ký bịa ra nhiều chuyện cụ thể như thật. Vì có mặc

cảm mình xấu nên cứ bịa ra là mình ngày xưa rất đẹp, lắm người mê, như

Nguyễn Bính chẳng hạn. Tô Hoài nói : “Bà ấy mà mê Nguyễn Bính, chưa chắc

Bính đã xúc động gì. Bính nó có hàng trăm gái theo ấy chứ. Anh Thơ lúc trẻ

cũng xấu, lợi hở như miếng thịt trâu. Tính thì đồng bóng. Sang Liên Xô với

Nguyễn Văn Bổng, Thanh Tịnh, lại hỏi thăm Goocki, tưởng ông ấy còn sống.

Anh Thơ mà đẹp thì chết với tôi rồi!”.

Nguyễn Bính xấu giai thế mà lắm vợ. Bính là con một ông có Hán học,

phụ trách trạm ngựa. Nhà khá nhưng sa sút. Giống gia đình Nam Cao. Vì thế

Trúc Đường là anh thì được học hành tử tế (như Nam Cao), còn Bính thì không

được học mấy.

Bính vào Nam, từ trước 1945. Năm 1954, không có tiêu chuẩn tập kết

vẫn cứ ra Bắc. Trước khi ra Bắc có lấy một người vợ đẻ ra cô con gái nay phụ

trách Sở Giáo dục Bến Tre. ở Hà Nội, Tố Hữu bầy ra tờ báo tư nhân Trăm hoa

giao cho Bính. Bính làm trái ý Tố Hữu, bị phê phán, Bính bực mình bỏ đi Nam

Định. Bính có hai vợ chính thức. Hiện cả hai đều làm bảo tàng lưu niệm

Nguyễn Bính.

NTNT trước dạy học ở Sơn Tây, có mối tình đầu với Nguyễn Quang

Sáng, Sáng giúp T viết văn. T có lần tặng Sáng một bó hoa bảo là vừa tự tay

hái ở vườn về. Sáng xem hoa thấy không có cuống, cắm tăm, tức lắm, tìm T, tát

cho một cái. T hay viết nhật ký, Chánh là chồng, bắt được, lộ hết chuyện bồ

bịch. NTTH lắm lúc chất vấn mẹ: “Con là con ai? Con Nguyễn Quang Sáng,

Thu Bồn, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Văn Bổn, Xuân Trình... hay ông Chánh?

H cũng đã có hai đời chồng.

PTTN cũng có hai đời chồng. Sau yêu một bồ nhí, có cưới hẳn hoi,

nhưng sau nó bỏ. Không có con. (Tôi hỏi Tô Hoài: “Dương Thu Hương bảo tôi,

YN thì mê Nguyễn Đình Thi, còn PTTN thì mê Tô Hoài , có đúng thế không?”

Tô Hoài nói: “Cô ấy xấu, tôi không thích”.

Bạch Diệp lấy Xuân Diệu. Vì cao tuổi mới lấy chồng nên thiết thực và

cảnh giác. Đám cưới tổ chức to nhưng không đăng kí kết hôn. Xuân Diệu chắc

do thủ dâm nhiều nên bất lực. Như gà nhẩy lên là tuột ngay. Bạch Diệp bỏ luôn,

sau có lấy chồng khác nhưng không có con.

Nguyễn Đình Thi lấy vợ sớm, có ba con, hai trai, một gái: Lễ, Chính,

Như. Thi ở gửi rể. Vợ chết, gia đình vợ định gả cô em tên là Nghĩa cho. Nhưng

cô này bị sốt ác tính chết. Hoà bình lập lại, Thi cần có vợ, định nhằm con gái cụ

Ngô Tất Tố hay cô Hồng con Nam Cao. Sau người ta làm mối lấy bà Trường,

nhưng không có con. Thi nam tính mạnh, người đen, nói chuyện có duyên, đàn

bà thích. Nhưng Thi là tay bạc tình, ngủ với cô này đã nghĩ đến cô khác. Gia

đình Nguyễn Đình Thi như cái địa ngục. Thi hay bồ bịch, còn bà Trường thì

ghen ghê gớm. Gia đình cụ Ngô Tất Tố cũng thế, cụ sống với hai bà vợ suốt

ngày xung đột...

Chế Lan Viên trước cách mạng, có thời gian dạy học ở Đà Nẵng. Có

một nữ sinh tên là Giáo rất mê. Giáo nhà giầu, gia đình không cho lấy Chế Lan

Viên. Cô cứ đến ở với Chế Lan Viên, mãi đến cách mạng tháng Tám mới cưới.

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, hai vợ chồng sống ở Hà Nội. Chế Lan

Viên ốm, phải sang chữa ở Trung Quốc. Giáo ngoại tình với một tay làm mi báo

tên là Quang. Chế Lan Viên chữa bệnh về, biết chuyện nhưng định bỏ qua. Hai

vợ chồng đêm nằm đắp chung chăn, nói chuyện. Giáo nói, cái đầu của em thì

thuộc về anh, nhưng thân mình em thì thuộc về Quang. Vậy là họ không trở lại

với nhau được. Sau Chế Lan Viên lấy Vũ Thị Thường, cán bộ phụ nữ, quê Thái

Bình, đã quá lứa lỡ thì. Thường xui Chế vào Sài Gòn ở, một là Thường có bà

con di cư ở trong ấy, hai là vì vợ cũ của Chế hay đến bám quấy nhiễu, xin tiền...

Đúng là chẳng có chuyện gì dấu ông được. Ông biết cả chuyện Lưu

Trọng Lư túng tiền, ăn cắp xe đạp của Chế Lan Viên bán; Học Phi thì hủ hoá

nhiều quá, biết tội nên xin đi B. Còn Trần Huyền Trân thì sở dĩ bị khai trừ, vì

lấy vợ nghệ sĩ, hai vợ chồng cứ dắt nhau đi lang thang biểu diễn, không sinh

hoạt đảng. Lê Văn Trương thuộc thế hệ đàn anh của ông, nhưng ông có đến nhà.

Ông rất sợ, vì trên bàn Lê Văn Trương có bầy hai cái đầu lâu. Lê Văn Trương,

Đinh Hùng thích chơi đầu lâu. Lê Văn Trương tiêu sài rất hoang vì viết khoẻ, có

tiền. Ông quen cả hai tay nhà văn tên là Hiến và Hồng viết thuê cho Lê Văn

Trương vì túng tiền. Tô Hoài không thích văn Lê Văn Trương nhưng thích nhân

vật người hùng của Lê Văn Trương. Triết lý sức mạnh của Lê Văn Trương là do

Trương đọc bản dịch Nietzsche của Phạm Ngọc Khuê. Khuê và Trương Tửu là

trốtkit...

Về vụ Nhân văn – Giai phẩm, thế mà không phải ai cũng biết rõ. Tô

Hoài thì nắm được từ gốc đến ngọn. Theo Tô Hoài, đó thực chất là một vụ án

chính trị, nhưng vì quàng vào một số nhà văn nên người ta cứ tưởng là một vụ

án văn chương. Nhân sai lầm của cải cách ruộng đất và ta chuẩn bị cải tạo tư

sản ở Hà Nội, hai thằng Tây, một là Tổng giám mục ở nhà thờ Hà Nội tên là

Dudley, hai là tay tuỳ viên văn hoá của Sứ quán Pháp tên là Durand Fischer,

bèn xúi giục mấy ông đảng xã hội: Hoàng Văn Đức, Đỗ Đức Dục, Vũ Đình Hoè

đòi ngang quyền với đảng Lao động. Fischer có liên hệ với Nguyễn Hữu Đang,

Thuỵ An, Minh Đức (Trần Thiếu Bảo). Lúc này tư nhân ra báo không phải xin

phép (hồi ấy ta vẫn còn theo chế độ của Pháp). Ta bắt ba người có dính đến

Pháp là Đang, An và Bảo. Còn hai thằng Tây thì ra lệnh trục xuất khỏi Việt

Nam sau một tuần lễ. Còn Hoàng Văn Đức, Đỗ Đức Dục, Vũ Đình Hoè thì lặng

lẽ cho thôi thứ trưởng. Chuyện có thế thôi, có thể tổng kết rõ ràng, nhưng chẳng

có ai làm cả. Bây giờ sửa sai thì cứ lặng lẽ kết nạp lại vào Hội nhà văn và tặng

giải thưởng Nhà nước cho mấy ông Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm... Cho nên

vụ án vẫn mù mờ chưa mấy người hiểu rõ.

Tổng chỉ huy chống nhân văn là Hoàng Văn Hoan. Tố Hữu chỉ là

người thừa hành.

Ta có một trại giam tù chính trị ở Quảng Bạ (Hà Giang). Có người bị

giam suốt đời ở đó như Chu Bá Phượng. Còn Nguyễn Hữu Đang thì bị giam 15

năm. Khi ra tù, phụ cấp cho 40 đồng một tháng. Đang khi ra tù không hề biết có

cuộc chiến tranh chống Mỹ và sự kiện giải phóng miền Nam 30.4.1975.

Đúng là Tô Hoài cái gì cũng biết. Mà toàn thiên về phía mặt trái của

cuộc đời, mặt trái của người đời.

Những hiểu biết tỉ mỉ, thóc mách như thế, ông cứ nhẩn nha, đều đều kể

lại với tôi. Có lẽ vì ông thấy tôi khoái những chuyện ấy và ông cũng thích kể

những chuyện ấy.

Vậy là đã rõ. Tôi bèn viết bài Tô Hoài với quan niệm con người là con

người. Tôi cho rằng tư tưởng chi phối mọi tác phẩm củaTô Hoài là thế. Nghĩa là

trên đời này chẳng có ai là thần thánh gì hết. Cho nên Tô Hoài có cảm hứng đặc

biệt viết về đời thường, người thường, chuyện thường. Cứ đều đều một giọng

sành sỏi lọc lõi, cố che dấu một nụ cười tinh quái, có phần khinh bạc. Tô Hoài

có lúc còn chủ trương viết những chuyện chẳng cần có chuyện, càng nhạt càng

hay – có lần ông nói với tôi như vậy và tự thấy là một thuyết kì quặc của mình.

236

Nhưng ông từng nghĩ như thế. Mỹ học của Tô Hoài là như vậy chăng?

Tất nhiên trong thời chiến tranh, ông không thể không phải khuôn theo

xu hướng chung của nền văn học cả nước, nghĩa là phục vụ chính trị, ca ngợi

chủ nghĩa anh hùng. Nhưng ngay thời ấy, đôi khi ông cũng cho xen vào ít

nhiều khía cạnh “người thường” ở những nhân vật anh hùng. Như nữ cán bộ

cách mạng Hai Tâm đa dâm, lẳng lơ trong tiểu thuyết Mười năm chẳng hạn. Tác

phẩm này vì thế đã từng bị phê phán kịch liệt. Thậm chí dân Hà Đông còn kéo

đến phản đối tác giả, cho là ông đã bôi nhọ người quê mình.

Còn những tác phẩm như Truyện Tây Bắc, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ,

Kim Đồng, Vừ A Dính, Miền Tây thì đúng là chuyện anh hùng. Nhưng ông tự

đánh giá chỉ có những trang tả cảnh miền núi là đáng kể, ngoài ra không có gì

đặc sắc. Cảnh chiến đấu viết không bằng cảnh phong tục.

Nhưng truyện Tô Hoài viết sau 1975, nhất là sau 1986, mới thực sự là

Tô Hoài: Chiều chiều, Cát bụi chân ai, Ba người khác, Giấc mơ ông thợ dìu...

Chuyện đời thường, người thường nổi trội hẳn lên. Nhưng thường mà vẫn lạ

mới là vănTô Hoài. Phát hiện những cái lạ trong những chuyện vặt vãnh đời

thường chính là chỗ sắc sảo, lọc lõi, tinh quái của ông. Vì thế tôi gọi Tô Hoài là

“Nhà văn của chuyện lạ đời thường”.

Nhớ hồi ông làm nhóm trưởng nhóm nghiên cứu một đề tài khoa học

(đề tài “Văn hoá và phát triển”), có Hoàng Ngọc Hiến, Vương Trí Nhàn, Ngọc

Trai tham gia. Hoàng Ngọc Hiến kể rằng, ông đưa Ngọc Trai vào chẳng qua là

để tổ chức những bữa liên hoan cho tốt, vì Ngọc Trai người Huế, nấu ăn rất

giỏi. Mỗi lần họp nhóm, Hiến để ý thấy ông tỏ ra khó chịu khi anh đến đúng

giờ. Rút kinh nghiệm, lần sau anh đến muộn, quả nhiên thấy ông tươi vui hẳn

lên. Đúng ông rất ghét quan trọng hoá. Đến đúng giờ tức là quan trọng hoá.

Chắc hẳn, ông nghĩ, làm khoa học ở cái nước này là chỉ làm chơi, cốt tiêu tiền

nhà nước cho vui thôi mà. Có gì quan trọng đâu!

Đối với chuyện viết văn, Tô Hoài cũng không hề quan trọng hoá: Viết

văn khó, nói thế thì đúng, nhưng nói là một nghề đặc biệt khác thường thì

không phải. Cũng như các nghề khác thôi, như làm ruộng, làm mộc, làm rèn

hay chài lưới vậy thôi. Ông không tán thành tác phong tài tử, viết phải đợi có

cảm hứng. Tại sao không làm như các nghề bình thường khác vẫn làm! Không

hứng cũng cứ viết. Còn viết hỏng, bỏ đi, lại là chuyện khác.

Mà nghề văn đâu phải là nghề khổ nhất. Nguyễn Vỹ làm thơ: “Nhà

văn Annam khổ như chó”. Nguyễn Vỹ có bằng tú tài, hắn có khổ gì lắm đâu!

Nhiều nghề khác khổ hơn chứ!.

Nhưng đã là nghề thì phải học nghề. Nhiều anh viết chưa có nghề. Phải

chuyên môn hoá, thành nghề hẳn hoi. Đừng viết nhiều thể văn khác nhau. Làm

chơi thì được, như thỉnh thoảng ông có làm thơ. Nhưng làm thật thì không nên.

Về mặt học thì Tô Hoài rất chịu khó. Cái học nhà trường của ông

không nhiều, nên ông phải gắng tự học. Ông học tiếng Pháp Nam Cao. Ông có

bà dì tên là Phượng dạy trường Tiểu học tư thục Công Thành ở dốc Tam Đa.

Nam Cao cũng dạy ở đấy. Bà Phượng (nguyên mẫu của nhân vật Oanh trong

Sống mòn) giới thiệu Nam Cao dạy tiếng Pháp cho Tô Hoài. Lúc ấy trò đã có

tên tuổi rồi, mà thày thì chưa.

Hồi Pháp thuộc, đọc thư viện lớn ở Tràng Thi, phải có bằng thành

chung (diplôme). Tô Hoài chỉ mới học hết cấp tiểu học. Ông đến Vũ Ngọc Phan

nhờ giới thiệu với thư viện Hà Nội để đọc sách. Vũ Ngọc Phan có một biệt thự

ở Thái Hà ấp. Phan nói cứ đến đọc sách ở thư viện riêng của ông, ông hướng

dẫn cho. Tô Hoài thành ra rất thân với gia đình Vũ Ngọc Phan, nhiều khi cùng

ăn cơm với gia đình. Nhà Vũ Ngọc Phan cũng gần nhà cụ Lê Dư -Sở Cuồng là

bố vợ của Phan. Mấy chị em Hằng Phương, Hằng Huân, Hằng Phấn... con cụ Lê

Dư đều rất đẹp. Các cô ngồi xe nhà đi học, bao nhiêu thằng bám theo. Bọn Đinh

Hùng ghen với Tô Hoài về cái số may mắn của ông. Nhưng lúc bấy giờ Tô Hoài

chỉ là một chàng trai nhà quê, mặc áo dài thâm, đi guốc, ăn thua gì! ở nhà Vũ

Ngọc Phan, Tô Hoài đọc được nhiều tiểu thuyết Pháp.

Ông cũng chịu khó đọc tác phẩm của các nhà văn khác, đọc cả sách lý

luận phê bình, sách văn học sử, đọc từ Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn

Đăng Mạnh đến Phong Lê, Trần Hữu Tá, đọc cả Văn Giá... Đọc và có nhận xét

hẳn hoi.

Đến thời kháng chiến, lên Tây Bắc, để hiểu người Hmông, ông học

tiếng H’mông. Một lần đi cùng vợ chồng A Phủ từ Phù Yên lên Điện Biên, ông

vừa đi vừa học tiếng H’mông. Ông còn đọc nhiều sách nghiên cứu về các dân

tộc Hmông, Mán, sách về tục ngữ Mường... Nguyễn Tuân cũng đi Tấy Bắc,

nhưng theo Tô Hoài, chủ yếu là đi xem vườn hoa cây cảnh, còn ông mới đi sâu

nghiên cứu các dân tộc, tuy bên cạnh đó cũng có thú giang hồ, xê dịch, thú

exotique chẳng kém gì Nguyễn Tuân.

Ông đặc biệt rất chú ý học chữ. Ông chê nhiều người viết văn bây giờ

thiếu chữ và dùng chữ rất ẩu. Nhiều chữ họ không hiểu. Làm văn thì phải học

chữ. Có cách học và chịu khó thì lúc nào cũng học được. Ngôn ngữ Việt Nam

rất phong phú về những từ tế nhị như những từ chung quanh chuyện ăn, uống,

chết... Ông cho nên biên soạn một cuốn từ điển về từ ngữ các nghề nghiệp. Ông

thấy tiếng Việt ta có chữ “ăn nằm” rất hay, tránh nói thô. Ông phân biệt “mồm”

với “miệng”. Nói “miệng’ sang hơn nói “mồm”. Cờ nhà chùa thì phải gọi là cờ

“điều” chứ không phải là cờ đỏ, sơn đen thì phải gọi là sơn “then”, quần đen thì

phải gọi quần “thâm”... Ông khoe học được một từ nghề nghiệp mới: “ thầy

dìu”. Thầy dìu là thầy dạy khiêu vũ, dìu dắt (entrainer) người tập khiêu vũ.

Theo ông “tai vách mạch rừng” vốn là “tai vách mạch dứng”. Còn “run như cầy

sấy”, Xuân Diệu cho đúng ra phải là “run như cây sậy” . Nhưng Tô Hoài cho

thế là Tây nói chứ không phải ta nói...1

1 Có một chuyện rất vui là, vào những năm 60 của thế kỉ trước, Phạm Văn Đồng có đề xướng một cuộc vận động gọi là “Gìn

giữ sự trong sáng của tiếng Việt”. Ông triệu tập một số nhà văn, nhà ngôn ngữ đến trao đổi về vấn đề này. Tô Hoài không

được mời vì bịcoi làviết sai tiếng Việt, sai ngữ pháp, nghĩa là vi phạm vào sự trong sáng của tiếng Việt (!). Chính Tô Hoài

nói cho tôi biêt chuyện này)


Tô Hoài chủ trương chỉ viết về cái gì đích thân mình có sống, có quan

sát được, viết bằng thực tế và tình cảm của mình, không thích viết những cái chỉ

nghe người khác kẻ lại. Một đầu óc rất tỉnh táo, chỉ tin ở sự thể nghiệm của bản

thân mình. Ông đi cải cách ruộng đất bốn lượt, từng làm đội phó phụ trách toà

án. Vậy mà ông kết luận trái hẳn với đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn:

“Cơ sở cách mạng trước 1945 phải là trung nông trở lên, chứ dựa vào bần cố

nông, nó đói, nó “bán” cách mạng ngay”.

Viết văn, Tô Hoài không băn khoăn về chuyện thể loại, chỉ cốt nói

được rõ ràng ý định của mình. Nhưng tôi thấy dù viết tiểu thuyết, truyện ngắn

hay ký, dù viết về đề tài gì, tác phẩm của ông cũng có tính chất hồi ký, tự truyện

– Hình như ông có một thói quen có thể gọi là tư duy – hồi cố hay cảm hứng hồi

tưởng.

Tô Hoài nói, ông tán thành quan niệm của A. Maurois rằng sự thật của

quá khứ khi hồi tưởng lại không tách biệt với cái hiện tại – quá khứ, hiện tại lẫn

vào nhau như là đồng hiện vậy. Tôi đọc bài ký Ông già ở Agra, thấy đúng như

thế. Tôi rất thích tác phẩm này của ông. (André Maurois đề tựa cuốn Đi tìm thời

gian đã mất của Marcel Proust, có câu: “Sự cặp đôi cảm giác hiện tại với kỉ

niệm sống lại đối với thời gian, cùng chính là kính hội tụ đối với không gian”).

Tô Hoài cho viết truyện thì phải lấy nhân vật làm gốc. Chữa văn là

chữa nhân vật. Thừa hay thiếu cũng là từ nhân vật. Ông tán thành kinh nghiệm

của Fadéev: “Viết một câu, rồi câu thứ hai, câu thứ ba cùng đều đều như câu

đầu tiên tức là tuột dần vào một thứ tẻ nhạt khó chịu. Phải tránh đặt câu giống

nhau, phải làm sao cho câu văn nổi bắp, nổi gân lên”. Phải viết sao cho người

ta đọc văn mình, đọc đi đọc lại, vẫn thấy hay. Có truyện đọc lần đầu thấy hay.

Đọc lại không thấy hay nữa. Văn phải đọc đi đọc lại, phải thử đi thử lại mới

đáng tin.”

Tô Hoài đi nhiều, xê dịch còn hơn cả Nguyễn Tuân. Trước cách mạng

tháng Tám, ông đã đi khắp Bắc Trung Nam. Vừa đi vừa viết. Bài gửi về cho nhà

Tân Dân, và nhận nhuận bút qua bưu điện. Ông cho biết, truyện Trăng thề viết

ở Dầu Tiếng...

Nhưng ông cho rằng, mỗi người có một quê hương. Đi khắp nơi để lại

càng hiểu sâu hơn quê hương mình. Vậy là thực tế tự nhiên và những vui buồn

của quê hương ông vẫn là nguồn chất liệu chính đã bồi đắp nên tâm hồn các

nhân vật của ông và những trang viết của ông. Ông vẫn là nhà văn của Nghĩa

Đô, của sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức - Ông là Tô Hoài.

Tô Hoài còn có một trí nhớ tuyệt vời. Ông lên Đà Lạt viết Chiều chiều,

không đem theo một tài liệu nào hết. Viết xong về nhà mới kiểm tra lại tư liệu.

Ông không thích trực tiếp nói tình cảm của mình, muốn nói tình cảm

qua những cái mình mô tả.

Có người xui ông viết tiếp Dế mèn phiêu lưu ký. Ông nói, tôi không

viết. Tôi không dại như Lưu Trọng Lư, viết Tiếng thu II, Tiếng thu III, chẳng ra

gì cả. Đúng là Tô Hoài rất tỉnh. Nhìn người khác hay nhìn mình đều rất tỉnh.

Tỉnh đối với mình, không dễ đâu!.

239

* *

*

Tô Hoài quê ở làng Cát Động, huyện Thanh Oai. Nhưng sinh ở Nghĩa

Đô. Mãi đến năm 20 tuổi mới về quê nội. Mà cũng chỉ thỉnh thoảng thôi. Ông

thân sinh bỏ đi Sài Gòn biền biệt từ khi ông còn nhỏ. Nhà có khung cửi. Ông

cũng biết dệt. Nghĩa Đô có nghề dệt lĩnh, dệt lụa và làm giấy.

Ông lớn lên trong cảnh tàn tạ của làng quê. Nghề dệt, nghề giấy đều lụi

dần. Năm đói (1945) người chết la liệt. Nội thành được phát bông gạo. Nghĩa

Đô thuộc ngoại thành nên tuy chỉ cách có một con đường mà cả làng chết đói –

người ta chỉ phát bông gạo tới Thuỵ Khuê thôi.

Đấy, quê hương, nơi đi về của kí ức ông là như thế. Cho nên truyện

củaTô Hoài nói chung là buồn. Chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện làng xóm đều

buồn. Toàn kí ức buồn. Mà kí ức tuổi thơ bao giờ cũng sâu đậm và lâu bền nhất.

Bản thân ít được học. Lang thang lêu lổng, bắt chim, đúc dế... Lớn lên, có thời

gian làm anh bán hàng cho hiệu giầy Ba ta, mỗi tháng đâu được dăm, sáu đồng.

May mà có nghề làm văn, làm báo là cái nghề không cần vốn liếng gì, cũng

chẳng cần bằng cấp để bám vào. Nhưng cũng như Nguyên Hồng, Nguyễn Bính,

Trần Huyền Trân..., Tô Hoài thuộc loại nhà văn lăn lộn với đời. Có thể nói là

“rất bụi”, khác hẳn với cánh viết văn, làm báo sang trọng như Nhất Linh, Khái

Hưng, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Lương Ngọc hay có trí thức như Nguyễn Tuân,

Đoàn Phú Tứ, Thạch Lam, Hoài Thanh... hoặc ăn lương viên chức, lương giáo

học như Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển... Thời trước, loại làm văn làm báo như

thế, xã hội viên chức nền nếp, sạch sẽ rất khinh bỉ, cho là loại vô học, vô nghề

nghiệp... Nhưng cuộc sống như thế lại là cái vốn liếng độc đáo của họ mà các

cây bút kia không có.

Tô Hoài là nhà văn của đời thường, người thường, chuyện thường, và

ông cũng thích sống như một người thường. Mình là gì mà cao đạo! Mà cần gì

phải cao đạo! Cho nên đời cho hưởng cái gì, hưởng cái đó, không chê - chắc

ông nghĩ thế !.

Về mặt này, ông cũng chẳng dấu tôi điều gì. Và tôi cũng tranh thủ hỏi

ông một cách thoải mái:

- Gái H’mông thế nào?

- Anh đã biết mùi đầm bao giờ chưa?

- Hồi cải cách ruộng đất, cán bộ hủ hoá thoải mái. Anh thì sao?

- Nguyễn Khải cho tôi biết, anh có chuyện với L.M. Có đúng không?

Tô Hoài trả lời cũng rất thoải mái:

- Gái H’mông nguy hiểm lắm! Nó ngủ với cán bộ, hôm sau đi khoe cả

làng, cả bản. Nhiều anh bị kỷ luật, có anh bị xử bắn vì chuyện ấy.

- Tây đầm nó quần nhau, đùa nhau rất mệt. Ta không chịu nổi. Lính

tập, bồi bếp ở bên Tây, dính với đầm, sợ lắm!

Tôi có lần sang Rumani, có một cô phục vụ đòi hỏi ghê quá. Mình phải

xin giấy chứng nhận huyết áp cao mới thoát được.

- Hồi cải cách ruộng đất ấy à: có! có!

- Chuyện ấy sao Nguyễn Khải nó biết được nhỉ? Tay N.D chồng L. M

có lần mắng vợ: “Đi mà ở với thằng Tô Hoài !”.

Tô Hoài rât thích bia rượu. Thỉnh thoảng tôi tìm đến ông, ông hay rủ

uống bia. Ông yếu bụng nên cũng hay uống rượu mạnh. Ly rượu mạnh ông chỉ

làm một hơi.

Tô Hoài nay đã cao tuổi. Sức khoẻ xem chừng ngày càng xuống. Tiểu

đường thời kì thứ hai. Huyết áp không ổn định. Lại bị gút.

Ông là một pho từ điển sống về giới nhà văn, về đời sống muôn mặt,

về kinh nghiệm viết văn. Ông là một kho chữ nghĩa... Người như thế bây giờ là

của hiếm lắm đấy!

Một trong những may mắn của đời tôi là được tra cứu vào cuốn từ điển

Tô Hoài. Không biết đến bao giờ mới khai thác hết được. Mà ông thì tuổi đã

cao, tôi cũng tuổi đã cao.



Chương XVII: Thanh Tịnh

Tôi quen Thanh Tịnh từ hồi làm Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A,

30B. Tôi tuyển một số truyện ngắn của ông trong tập Quê mẹ. Ông cứ cám ơn

tôi mãi về chuyện này.(Năm 1982, Thanh Tịnh tặng tôi tập thơ của ông. Ông

ghi lời đề tặng: “Kính tặng anh Nguyễn Đăng Mạnh quý mến với lòng biết ơn

chân thành”). Thực ra đó là do chất lượng các tác phẩm của ông. Tôi rất thích

tập truyện Quê mẹ. Ông viết rất hay về những người đàn bà nhà quê hiền lành,

chất phác ở một vùng sông nước miền Trung. Văn của ông thường ẩn dấu một

nụ cười hóm hỉnh kín đáo và rất nhân hậu.

Ông sống độc thân ở một căn phòng trên tầng hai của khu nhà trụ sở

tạp chí Văn nghệ quân đội, số 4 Lý Nam Đế. Trong phòng, ông bầy la liệt các

thứ đồ cổ: bát, đĩa, ấm chén, lọ, ngựa sành, tượng phỗng, lư, đỉnh, kỷ, đôn,

chậu, không kể tranh ảnh... Có cả mấy viên gạch cổ mới đem ở Liễu Đôi về.

Ông còn chỉ tôi xem xác ướp một con kỳ đà rất lớn treo ngang trên chiếc gương

ở phòng toilette... Không biết ông kiếm đâu ra được những của ấy. Ông giảng

cho tôi nghe, con kỳ đà có khả năng dùng răng giữ thuyền rất chắc, như một cái

neo sắt ệây... Ông chỉ vào những bát đĩa, ấm chén, bình hoa... giảng, đĩa này là

thời Lý, bát này là thời Trần, bình này là thời Lê... Tôi chẳng hiểu gì về đồ cổ.

Tô Hoài thì cho ông bịa ra, tán ra thế thôi, chứ nhiều bát đĩa của ông là lấy ở

Bát Tràng về....

Thanh Tịnh vốn là một hướng dẫn viên du lịch thời Pháp. Ông có bằng

guide du lịch cao cấp đào tạo ở Angkor, Căm - pu - chia. Sau cách mạng Tháng

Tám, ông đưa một đoàn du lịch từ Huế ra Hà Nội và dự hội nghị văn hoá toàn

quốc rồi bị nghẽn không trở về được, vì đúng vào lúc cuộc kháng chiến toàn

quốc bùng nổ. Vậy là ra đi tay không, vợ con bỏ lại hết ở Huế.

Ông có lệ, hễ có khách đến chơi, cần trò chuyện riêng, ông lại đốt một

nén hương. Ngửi thấy mùi hương, biết có khách, người ta không đến quấy ông

nữa.

Nghe ông nói chuyện, tôi cũng biết được một ít về kiến thức chuyên

môn của ngành du lịch:

Thời Pháp có hai cấp đào tạo hướng dẫn viên du lịch (guide touriste).

Một là cấp xứ (Đồng Dương gồm 5 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Miên,

Lào). Cấp này phải có bằng Thành Chung (diplôme). Hai là cấp toàn Đông

Dương. Phải có bằng tú tài. Thi tuyển ở Angkor. Thanh Tịnh thuộc cấp thứ hai

này.

Quan sát một phong cảnh phải xác định point touristique. Thí dụ, đứng

ở quầy bán hoa trông sang Bách hoá tổng hợp mà nhìn hồ Hoàn Kiếm là point

touristique tốt nhất, bao quát được toàn cảnh, cả các di tích.

Lại có saison touristique. Thí dụ lăng Minh Mệnh thì xem vào mùa thu,

mai vàng nở đẹp. Lăng Tự Đức thì xem vào mùa hè, sen nở trong các hồ. Lại

còn temps touristique: cảnh này thì xem ban đêm, cảnh kia xem buổi chiều...

Thanh Tịnh cũng thích nói chuyện lịch sử, chuyện cổ sử. Và tôi để ý,

thấy ông thích những lời nói hay, những cách diễn đạt thông minh, thú vị. Ông

nói, Hoàng Minh Giám hay Phan Anh có đưa sang Pháp mấy mũi tên đồng của

ta có từ thế kỉ thứ ba trước công nguyên. Lúc ấy người Âu Châu vẫn còn là con

vượn có đuôi. Tên không bắn bằng cung, ná, mà bằng súng bắn đi hàng loạt như

những viên đạn nhọn. Không phải tên bịt đồng mà là đạn hình mũi tên có

ngạnh. Hiện nay chưa hiểu bắn bằng cái gì, súng gì. Lại có đạn đá nữa. Boris

Polévoi nói: “Một dân tộc đúc đạn đồng chống giặc là một dân tộc quyết chiến.

Nhưng khi họ ngồi đẽo những viên đạn đá để đánh giặc thì thôi, kẻ thù chỉ có đi

về.”

Ông lại dẫn một câu nói rất hay của nhà sư Thích Thiện Tâm hay

Thích Thiện Minh: “Con người ta khi ra đời khóc để cho người khác cười. Bác

Hồ khi từ giã cõi đời, đã cười để người ta khóc. ở vùng Đông á này chỉ có hai

người cười cho người ta khóc, là Thích ca và Hồ Chí Minh”.

Ông nói muốn sửa một câu trong năm điều Bác Hồ dạy:

Yêu Tổ quốc

Yêu gia đình

Như thế hơn là yêu Tổ quốc, yêu đồng bào. Đồng bào nằm trong Tổ

quốc rồi. Còn gọi cha mẹ là đồng bào à!

Ông phê phán cuốn Búp sen xanh của Sơn Tùng, giải thích tên cụ Hồ là

Côn, Côn là cá quý, ngọc quý. Không đúng. Ba anh em cụ Hồ tên là Cung,

Khiêm, Thanh. Cung là cung kính, Khiêm là khiêm tốn, Thanh là trong, là giản

dị. Một hệ thống như thế mới đúng chứ! Cách giải thích củaThanh Tịnh xem ra

có lý hơn.

Ông có vẻ tán thưởng câu nói của một người nước ngoài: “Hồ Chí

Minh, tên giả, ngày sinh giả, ngày mất giả, chỉ có lòng yêu Tổ quốc là có thật”.

Ông kể chuyện vợ chồng Charlie Chaplin thăm Huế. Họ nói về cái nón

Huế. Người Tây có parasol, parapluie, paravent. Cái nón thì có đủ cả: che mưa,

che nắng, che gió. Nó lại là cái quạt, tạo ra gió nữa. Bà vợ thêm: nó còn che

được sự thẹn thùng của cô gái Huế.

Ông rất khoái khi khái quát được đặc điểm của ba thế hệ người một

cách ngắn gọn và dùng toàn vần đ:

- Trẻ đi đàn.

- Lớn đi đôi.

- Già đi độc.

Sự khái quát này chắc có liên hệ đến số phận của bản thân ông.

Vì có chuyên môn hướng dẫn du lịch, nên mỗi khi có khách nhà văn

nước ngoài sang thăm, cần đi tham quan đâu đó, ông lại được Hội nhà văn nhờ

giúp. Không phải chỉ vì ông biết cách giới thiệu những đền đài, thắng cảnh một

cách ngọn ngành đâu ra đấy, mà còn vì ông cũng biết đối đáp với khách văn và

biết khôn khéo tháo gỡ những trường hợp khó xử. Về mặt này Thanh Tịnh cũng

láu lỉnh, tinh quái ra trò.

Một lần ông đưa B. Polévoi đi thăm đền Bà Triệu (Thanh Hoá). Xem

phía ngoài xong rồi, Polévoi muốn vào xem hậu cung có tượng Bà Triệu. Thanh

Tịnh nói với bà tự xin vào trước xem thế nào. Ông thấy mấy tay dân công đang

nằm ngủ, cởi trần, phơi slip ngay trong hậu cung. Tởm quá! Không thể để

Polévoi vào được. Ông nói với nhà văn Nga: “Người Việt Nam chúng tôi có lệ

“kính như thần tại”, nghĩa là kính trọng thần như lúc còn sống. Bà Triệu là con

gái, chưa chồng, nên nếu là bà Polévoi thì mới vào được. Mà chỉ rằm, mồng

một mới mở cửa.”

Về sau Polévoi đi thăm đền Hai Bà Trưng. Ông đem ba bó hoa, tặng

hai bà hai bó, còn một bó thì nhờ hai bà đi thăm và tặng bà Triệu hộ.

Thanh Tịnh ở ngoài Bắc, không lấy vợ. Ông vẫn chung thuỷ với bà ở

trong Nam. Sau 1975, ông trở về, vợ ông đã lấy chồng khác, con ông thì đi ngụy

quân, cũng không tha thiết gì với ông cả. Ông lại quay trở về Hà Nội, sống độc

thân ở số 4 Lý Nam Đế như cũ. Ông có câu thơ cám cảnh thân phận của mình:

Ra đi mấy chục năm trường,

Ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân

Cuộc đời buồn thế mà ông hay nói chuyện vui, nói đùa. Có lẽ chính vì

đời buồn quá nên ông phải cố cười cho quên đi.

Ông đùa ngay với nỗi đau của mình. Khi về quê, người ta bảo ông về

làng mà ở. Ông nói: “Bây giờ nhà thờ tổ không còn, nhà ở cũng không, “nhà

tôi” cũng không, đã thành “nhà” người ta mất rồi!”

Ông đọc cho tôi nghe một vế câu đối, không biết do ông đặt ra hay

người ta thách ông. Vế câu đối chưa có ai đối lại được: “Nhà văn, nhà báo, nhà

giáo, nhà thơ, cả bốn nhà đều không nhà ở”. Thanh Tịnh đúng là làm bốn

“nhà” ấy mà không có nhà cửa gì.

Ngồi với ông hôm ấy (19.9.1982) ở 4 Lý Nam Đế, ông kể tôi nghe

nhiều chuyện vui. Tôi còn nhớ mấy chuyện như sau:

- Trong tập Những người thích đùa có một truyện không được dịch. Có

một anh muốn tự tử, dùng nhiều cách mà không chết được, vì mua phải toàn đồ

rởm: dao rởm, thuốc độc rởm, giây thừng thắt cổ rởm. Có người mách cho một

cách chết ngay, chết chắc chắn: đọc báo Nhân dân liền ba ngày.

- Có người thắc mắc đến chất vấn Võ Văn Kiệt: “Sao Thanh Nga trước

1975 đóng vai chống cộng mà nay lại cho đóng vai Bà Trưng? Võ Văn Kiệt trả

lời: “Hay là mời bà Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Định đóng vậy?”

- ở khu phố ông người ta bắt được một thằng chuyên ăn cắp xe đạp.

Họ bắt nó biểu diễn mở các thứ khoá. Các loại khoá ngoại tốt nhất nó đều mở

được hết. Hỏi nó: “Khoá nào mày thấy khó mở nhất, không mở được? Nó nói:

“Khoá Việt Nam. Vì xe khoá rồi vẫn đứng nhìn. Mà chính chủ nó cũng không

mở được. Phải dỗ mạnh xe mấy cái mới mở được”.

- Anh có biết thế nào là chủ nghĩa xã hội khoa học không? Khoa học

thì phải thí nghiệm. Khoa học khác thì thí nghiệm trên loài vật. Còn chủ nghĩa

xã hội khoa học thì thí nghiệm trên loài người.

- Một lần ông đưa mấy nhà văn Tây đi du lịch. Họ nghĩ ra cái trò thi kể

chuyện tiếu lâm, xem chuyện nước nào hay hơn. Thanh Tịnh kể chuyện này:

244

“Ngày xưa đàn bà vừa đẻ con, vừa phải cho con bú, vất vả quá, trong khi thằng

chồng chả phải làm gì, chỉ đi chơi. Các bà kiện lên Ngọc Hoàng đòi cho xử

công bằng. Ngọc Hoàng bèn lấy vú đàn bà lắp cho đàn ông. Chồng phải cho

con bú. Nhưng thằng đàn ông ham đi chơi lang thang. Con đói không được bú,

khóc ghê quá. Các bà không chịu được, lại kêu với Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng

bèn lấy lại vú ở thằng đàn ông lắp lại cho đàn bà. Từ đó thằng đàn ông cứ

trông thấy vú đàn bà là nó nhìn chằm chằm và đòi chộp lấy. Vì vú của nó, nó

đòi lại”. Mấy ông Tây phục quá, đành chịu thua.

Vì tính hay đùa vui, lại biết làm thơ, nên hồi kháng chiến chống Pháp,

Thanh Tịnh thường trổ tài làm những bài vè rất vui gọi là độc tấu, vừa kể vừa

làm điệu bộ, tựa như một thứ kịch vui chỉ có một vai độc diễn. Trường Chinh,

Tố Hữu khen lắm, tác dụng tuyên truyền chính trị rất tốt. Thời kháng chiến, bộ

đội ngồi trên bãi cỏ, quanh đống lửa trại mà xem độc tấu Thanh Tịnh thì thú

lắm. Rất vui mà chẳng cần phông màn, trang phục gì cả.

Giờ chiến tranh đã đi qua, Thanh Tịnh sưu tập tác phẩm in thành một

tập thơ. Ông tặng tôi. Đọc chán quá! Vè chứ đâu phải thơ, đâu phải nghệ thuật.

Một thứ vè chỉ có giá trị tuyên truyền nhất thời, không phải nghệ thuật thì làm

sao có giá trị lâu dài! Trong cuốn Chủ nghĩa Mác và văn hoá Viêt Nam, Trường

Chinh nói: tuyên truyền cao đến một mức nào đó thì tuyên truyền trở thành

nghệ thuật. Làm gì có chuyện ấy! Tuyên truyền cao đến như độc tấu của Thanh

Tịnh thì cũng vẫn chỉ là tuyên truyền.

Thanh Tịnh là một trong những nạn nhân bi thảm nhất của lý luận văn

nghệ Trường Chinh.

Hồi ấy, độc tấu Thanh Tịnh bị Đoàn Phú Tứ chê là bồi bút, cu-li bút,

hạ thấp nghệ thuật, thành thằng hề. Thanh Tịnh trả lời, nếu có thể làm cho dân,

cho lính trong kháng chiến được vui thì tôi sẵn sàng làm hề, loại hề bét nhất,

mười lần hề cũng được!Nói thế không sai, thậm chí còn thể hiện nhiệt tình yêu

nước, nhiệt tình kháng chiến rất cảm động của Thanh Tịnh. Nhưng không nên

chỉ làm vè. Phải làm nghệ thuật nữa chứ. Cụ Hồ làm thơ tuyên truyền nhưng

đồng thời cũng làm thơ nghệ thuật. Ông cụ phân biệt rất rõ tuyên truyền và nghệ

thuật.

Hồi ấy, Trường Chinh khen độc tấu Thanh Tịnh là loại khinh binh, loại

xung kích, và ra sức cổ vũ.

Đúng là lòng yêu nước của Thanh Tịnh thì thật cảm động. Nhưng ông

không tỉnh táo.

* *

*

Thanh Tịnh qua đời dễ đã hơn mười năm rồi.

Không biết cái kho đồ cổ của ông nay còn không? Không biết người ta

có giữ cái phòng ông ở làm lưu niệm không?



Phần năm - Tư liệu riêng về một số


nhà văn Việt nam hiện đại (Tiếp theo)



Chương XVIII: Nguyễn Đình Thi


Tôi đã viết hai bài thuộc dạng chân dung văn học về Nguyễn Đình Thi:

bài Nguyễn Đình Thi như tôi biết và bài Từ lần gặp ấy, tôi đã hiểu thêm Nguyễn

Đình Thi.

Nay tôi kể thêm mấy mẩu chuyện khác về anh.

1. Nguyễn Đình Thi từ thời thơ ấu đến bài thơ Đất nước.

Người ta thường nói Nguyễn Đình Thi sinh ở Luang Prabang (Lào).

Nhưng chính Nguyễn Đình Thi lại nói với tôi, anh sinh ở Phongxalỳ. Anh nói

rất cụ thể, hồi ở với tôi tại Đà Nẵng (tháng 7.2000)

Bố anh là một nhân viên bưu điện sơ cấp bị điều sang Lào, phụ trách

một trạm bưu điện ở Phong xa lỳ. ở đây ông lấy con gái một Việt kiều vốn là

một đầu bếp, người Đông Thái, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông này trốn sang Lào vì có

dính vào vụ Hà Thành đầu độc. Dân ở đây rất lạc hậu, một dân tộc thiểu số của

Lào gọi là Phù Nọi. Dân Phù Nọi ăn cả đất. Thi từng bắt chước họ ăn đất.

Phong xa lỳ là một khu vực quân sự (territoire militaire). Toàn lính là

lính, lính Tây, lính ta, khố xanh, khố đỏ, và tù chính trị. Xa nước, nên từ nhỏ

Nguyễn Đình Thi hay nghĩ về đất nước, hay tưởng tượng về đất nước. Nhưng

đất nước trong tâm trí cậu bé là thế: một đám tù chân xiềng tay xích, lính giải đi

làm cỏ vê hàng ngày.

Thi lên 6 tuổi, bố thấy con sắp thành dân Phù Nọi đến nơi, muốn đưa

anh về nước. Rất may, năm 1930, bố anh được điều về Việt Nam. Mẹ anh

thường cưỡi ngựa. Bà cưỡi ngựa, đi hàng trăm cây số. Bóng bà đi ngựa leo dốc

còn in mãi trong trí nhớ anh sau này – anh nói đó l à một hình ảnh rất thơ.

Gia đình anh về nước, đi từ Phong xa lỳ, qua Luang Prabang, Tà Khẹt,

về Hà Nội. Lần đầu nhìn cái ôtô, anh gọi là cái nhà biết đi. Lúc đầu gia đình ở

Hà Nội, phố Bạch Mai. Sau đi Hải Phòng, rồi lại trở về Hà Nội. Anh tự thấy là

một chú nhãi Hà Nội, thuộc đủ ngõ ngách, phố xá của Hà Nội.

Gia đình Nguyễn Đình Thi không phải trí thức. Không biết chữ Hán.

Coi như ngoại đạo đối với văn học. Trong đám sách vở nghèo nàn của bố, anh

chỉ được đọc và nhớ có một câu thơ của Bà huyện Thanh Quan: “Ngàn mai gió

cuốn chim bay mỏi”. Sau này ngẫm lại cuộc đời mình, anh thấy đời anh cũng

chỉ là “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”. Ngoài ra có được đọc bản dịch

Những người khốn khổ của V. Hugo. Cảm động nhất là đoạn Jean Valjean tìm

Cosette. Cosette trong đêm tối mù mịt, xách xô nước, tự nhiên thấy nhẹ bỗng đi.

Té ra Jean Valjean xách hộ. Anh nghĩ, suốt đời chỉ mong xách hộ xô nước cho

một đứa bé nhà nghèo.

Anh biết rất ít văn học Việt Nam. Mãi sau này mới đọc Đoạn tuyệt,

Nửa chừng xuân. Đến ba mươi tuổi mới đọc Tam quốc, Thuỷ hử.

Không biết chữ Hán, không biết Thơ mới, không biết Tự lực văn đoàn.

Không cảm được cái hay của ngôn từ chữ Hán. Không thích “Viễn phố” bằng

“bến xa”, nghe gợi nhiều hơn, không thích “lâm tuyền”, thích nói “suối xa”.

Cho nên làm thơ ngoài luồng Thơ mới, ngoài luồng Tự lực văn đoàn, cảm thấy

thế nào cứ làm như thế, điếc không sợ súng.

(Nghe tôi nói lại lời Nguyễn Đình Thi như thế, Nguyên Ngọc không

tin, cho là Thi nói dối. Nguyên Ngọc dứt khoát không tin ở sự thật thà của

Nguyễn Đình Thi).

Nguyễn Đình Thi rất thích cảnh rừng núi – anh nói thế – vì anh đã ở

Phong xa lỳ, nên về sau lên Việt Bắc thấy quen thuộc như đã biết từ bao giờ rồi.

Mẹ Nguyễn Đình Thi là một người đàn bà rất đảm. Khi gia đình ở Hải

Phòng, bố anh lại bị điều vào Sài Gòn (Chợ Lớn). Bà không theo vào. Bà mở

một xưởng làm kẹo bột. Về Hà Nội cũng làm kẹo.Đi kháng chiến , bà trồng hẳn

một quả đồi sắn. Nguyễn Đình Thi nói “ Bà ghê lắm, giỏi lắm!” (Thế mà hình

như bà mù chữ ).

ở Hải Phòng, anh chứng kiến Nhật đổ bộ. Anh nói: “Nhục lắm! Nó đi

đâu cũng ra hiệu hỏi nơi có đĩ”. Anh lớn lên vào lúc cuộc đại chiến thứ hai.

Nhật vào. Phong trào Việt Minh. Thời thế đặt ra những câu hỏi lớn. Nguyên

Hồng gọi là “thời kỳ đen tối” (1940- 1945). Theo Nguyễn Đình Thi, đây là thời

kỳ trắng đen, thật giả lẫn lộn. Vì thế dễ lầm lẫn (Nguyễn Công Hoan, Nguyễn

Tuân đã lầm lẫn), phải suy nghĩ tợn. Suy nghĩ về đời, về đất nước, về sự sống,

về chân lý, về đường đi... Cho nên Nguyễn Đình Thi thích đọc và viết triết học.

Anh viết Kant năm 1942, lúc 18 tuổi. Tiếp đó là nhạc. Mãi sau mới làm thơ và

viết văn.

Như thế là Nguyễn Đình Thi đi từ triết đến nhạc rồi mới đến thơ văn.

Thơ văn có cấu trúc nhạc. Ông bố Nguyễn Đình Thi ngày xưa có chơi đàn

nguyệt, đàn bầu. Còn anh thì tự học nhạc chỉ bằng một cái đàn mandoline và

một cuốn nhạc phổ thông. Có một buổi học nhạc một mục sư. Nói chung là tự

học.

Từng chứng kiến cảnh mất nước từ ở Lào, rồi cảnh Nhật vào Hải

Phòng, đến hiệp định 6/3 lại chứng kiến Pháp kéo vào từ Hải Phòng, theo

đường số 5 (Trường Chinh giao nhiệm vụ cho Nguyễn Đình Thi đi đả thông

đồng bào hai bên đường số 5: không đón tiếp, mặc nó, nhưng không gây sự).

Vì thế, được làm chủ đất nước, sướng lắm – “Trời xanh đây là của

chúng ta! Núi rừng đây là của chúng ta!”.

Hồi học trường Bưởi, Nguyễn Đình Thi thích nằm ngửa ở sân trường

nhìn trời xanh không biết chán. Sau này nhớ lại: “Trời xanh đây là của chúng

ta!”.

Kháng chiến, Nguyễn Đình Thi có chuyện buồn: hai người thân mất

(vợ và cô em vợ - định gả cho Thi), cộng thêm nỗi đau đất nước bị dày xéo:

“Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Giây thép gai đâm nát trời chiều”

Anh nói, tám năm kháng chiến mới viết được hai câu ấy. Khắp nơi giặc

chăng giây thép gai: Hành quân ở Bắc Giang, nhìn lên đồi cao thấy giây thép

gai in trên nền trời đỏ như máu.

Hành quân liên miên, đi ngày, đi đêm. Toàn đi bộ, một ngày có khi 50

cây số, từng qua vùng thượng Lào: “Ngày nắng cháy, đêm mưa dội”, cứ thế đi

dưới trời mưa.

Vì thường hành quân đêm nên có hai hình ảnh rất ấn tượng đối với

anh: lửa và sao. Lửa đốt sưởi lúc nghỉ chân. Không phải đèn mà lửa:

Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh

Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây

Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh

Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây.

(Nhớ)

Đến chiến dịch Điện Biên Phủ, lính đi trong chién hào ngập nước có

khi tới ngực. Mặt mũi đen nhẻm vì chỉ có bùn và khói súng, cười răng trắng

xoá, từ bùn vụt lên: “Rũ bùn đứng dậy sáng loà”. Nguyễn Đình Thi nói:

“Nguyễn Tuân rất thích hình ảnh này. Còn chị Mộng Tuyết gặp anh lần đầu,

kêu lên: “A, anh rũ bùn đứng dậy sáng loà đấy à!”

Bài thơ Đất nước làm ở Việt Bắc từ 1948. Ghép hai bài thơ kháng

chiến với nhau. Sau bẵng đi đến 1955 mới làm tiếp ở Thái Nguyên – xã Phú

Minh, bên sông Cầu (làm tiếp bài thơ Đất nước và bắt đầu viết tiểu thuyết Vỡ

bờ)

Anh nói, bài Đất nước kết cấu theo âm nhạc. Chủ âm a từ mở bài, thân

bài đến kết bài:

Tôi nhớ những ngày thu đã xa...

(...)Xiềng xích chúng bay không khoá được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

(...) Nước Việt Nam từ máu lửa,

Rũ bùn đứng dậy sáng loà.

1. Nguyễn Đình Thi tập viết tiểu thuyết.

Năm 1968(20.11.1968), Nguyễn Đình Thi có một cuộc nói chuyện với

cán bộ và sinh viên khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Lúc ấy tôi còn dạy ở

Đại học Sư phạm Vinh. Nhân ra Hà Nội, tôi đến nghe ghé.

Nguyễn Đình Thi nói về những ngày đầu anh tập viết truyện, viết tiểu

thuyết. Anh nói, con đường vào nghề văn của anh là đi từ ngọn xuống gốc – con

đường không thuận. Bắt đầu viết từ năm 1942. Viết sách khảo cứu trước. Vào

Việt Minh, bắt đầu biết chủ nghĩa Mác, học được gì viết nấy: viết tiểu luận, viết

về ca dao..., vẫn làm lý luận trước. Khác với con đường của Nguyên Hồng, Tô

Hoài, từ vốn sống thực tế mà sáng tác. Thực ra, anh nói, nếu không có cách

mạng thì cũng có thể đi từ gốc đến ngọn, viết theo vốn sống tự nhiên của mình.

Song vừa vào nghề đã gặp cách mạng, cách mạng yêu cầu phải có vốn sống về

quần chúng cơ bản, về nông thôn. Do xuất thân gia đình viên chức tiểu tư sản,

toàn ở thành thị, lúc bé lại ở Lào, về nước chỉ đi học, vốn sống về quần chúng

công nông không có gì. Thành ra phải có cả một quá trình đi theo cách mạng, về

nông thôn, vào bộ đội, vốn sống phải thu nhặt dần dần, từ 1942 đến 1955, chín

năm phấn đấu mới viết được cuốn tiểu thuyết đầu tay: cuốn Xung kích.

249

Những năm kháng chiến, tại chiến khu Việt Bắc, Nguyễn Đình Thi ở

chung với mấy ông lãnh đạo văn nghệ: Tố Hữu, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao.

Anh thử viết một truyện ngắn, viết xong mời mấy vị đàn anh đến đọc cho nghe.

Họ ngồi quanh bếp lửa nhà sàn. Đọc xong thấy các vị chẳng nói gì, chỉ liếc

nhau, tủm tỉm. Biết là hỏng rồi. Các vị ngại chê nên không nói gì. Lại thử lần

nữa. Vẫn thất bại. Buồn quá. Làm mấy bài thơ thì bị phê bình. Viết văn cũng bị

chê. Chủ yếu do viết không hay, không sâu – anh tự thấy như thế.

Thi biết nhược điểm của mình. Tuy cũng tiếp xúc với thực tế, nhưng

không sao nhớ được những chi tiết cụ thể của đời sống (nói như Tô Hoài, con

mắt anh không sao chọc thủng được tờ giấy. Nghĩa là cứ bị sách vở che khuất).

Mà văn xuôi thì rất cần chi tiết. Anh nghĩ cách khắc phục. Anh cho rằng cơ thể

con người ta là một thể thống nhất. Nếu tay ghi lại thì óc cũng lưu giữ được.

Lần này anh đi theo chiến dịch Trung du (cuối 1950, đầu 1951). Anh

hạ quyết tâm phải thành công. Nếu lại thất bại thì bỏ nghề, xin công tác khác.

Anh đi với tiểu đoàn 29 (tiểu đoàn Lũng Vài), tiểu đoàn này đánh công kiên, tức

đánh đồn, rất giỏi - đánh công kiên là khó nhất. Mở chiến dịch Trung du là lần

đầu ta đánh công kiên. Anh đem theo rất nhiều sổ tay để ghi chép. Vừa đi vừa

ghi chép, ghi la liệt như máy.Anh nói, nếu có ai nhìn anh vừa hành quân vừa ghi

ghi chép chép thì chắc buồn cười lắm. Cái gì cũng ghi: lá nguỵ trang đầy

đường. Có ba con bò gặm cỏ ở bờ đê. Một cái vạc nước sôi sùng sục trên ba

tảng đá... ghi tuốt. Lúc bao vây đồn giặc, anh cũng đào một hố công sự bên

cạnh anh chỉ huy (Thái Dũng, Tây gọi là Commandant manchot – quan tư cụt

tay). Pháo chưa nổ. Im lặng hầu như tuyệt đối. Anh lắng nghe và ghi: tiếng gà

gáy ở một xóm xa, tiếng gió thổi, tiếng mõ, tiếng chó sủa ở một làng tề... Khi bộ

đội bắt đầu rót pháo, anh nhổm lên quan sát đồn giặc bốc lửa ra sao rồi thụp

xuống ghi. Xung kích vào đồn, anh chạy theo và ghi những gì nhìn thấy. Ghi

mò nguệch ngoạc – chưa nhập tâm thì cứ phải ghi hết – anh nghĩ thế. Tất nhiên

vẫn chưa đủ. Trận đánh kết thúc, anh theo bộ đội ra ngoài đồng xem họ tập trận

để ghi các động tác lăn lê bò toài, cách ném lựu đạn thế nào... Phải hiểu cả các

loại vũ khí và cách tổ chức của quân đội. Điều này không được viết ra vì phải

giữ bí mật. Không được viết, nhưng vẫn phải biết, vẫn phải ghi để có sens du

réel, phải có sens du réel mới viết được. Các cuộc họp tổng kết kinh nghiệm

củachiến dịch cũng phải dự và ghi. Sinh hoạt của bộ đội mình nói chung là họp,

anh ghi thành hẳn một cuốn sổ về các cuộc họp. Nhưng chỉ biết một trận đánh,

một đơn vị chưa đủ. Đằng sau tiểu đoàn 29 mà anh bám sát, chẳng những có cả

một chiến dịch mà còn có cả một xã hội nữa.

Chiến dịch Trung du kết thúc, trên giao cho anh viết một bài tường

thuật. Nhân tìm hiểu để viết bài này, anh có được cái nhìn bao quát cả trận đánh

và cả cái nền rộng rãi đằng sau trận đánh.

Khi thấy đã tạm đủ rồi, anh trở về, nói dối các vị đàn anh là đi công tác

(người ta không tin mình viết được, nên nói đi sáng tác thì ngượng, ngồi ở nhà

sáng tác trước mặt mọi người lại càng ngượng), kì thực anh tìm đến ở nhờ nhà

một đồng bào ở chân núi Tam Đảo để viết. ấy là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của

anh: cuốn Xung kích.

Anh dự định viết một truyện vừa. Sắp xếp một loạt bức tranh những

đám đông. Muốn biểu hiện chiến tranh nhân dân, phải tả những đám đông.

Nhân vật chính nói chung đều phỏng theo người thực. Thí dụ, chính trị viên cụt

tay là Thái Dũng, vốn là một ông giáo, chỉ huy tiểu đoàn 29. Promotype của

Kha là một anh học sinh ở Hải Phòng, trẻ, có tài, chưa vợ con, vẫn có tính học

sinh. Nhân vật Sản thì có nhiều nguyên mẫu góp vào: Thái Dũng, một anh công

nhân ở Hải Phòng và một anh khác vốn là học sinh trường cơ khí (école

pratique) phụ trách chính trị viên tiểu đoàn 29. Có một nhân vật phụ mà thành

công hơn cả nhân vật chính: chú bé Luỹ. Một em bé đi lính tự nhiên đem lại

một cái gì rất cảm động cho bộ đội ta.

Mở đầu chương một, anh nói, mình tìm cách sút gôn mà loay hoay mãi

không được. Sau mới nghĩ ra:Đưa luôn vào cảnh hành quân của bộ đội, dân

công. Thế là trót lọt – Viết một mạch ba tuần lễ, xong.

Viết xong, rất hồi hộp. Đọc thử cho bộ đội nghe. Họ thích nhất cảnh bộ

đội cởi truồng lội suối, cảnh dân công, bộ đội đối đáp nhau. Thích hơn các đoạn

tả đánh nhau. Vậy là tả đánh nhau không đạt lắm. Tả sinh hoạt khá hơn vì gần

với tâm trạng mình hơn. Tuy vậy vẫn không tự đánh giá được, thấy vẫn cần

phải đưa cho ai đó đọc. lần này không dám đưa cho mấy vị đàn anh trong nghề

nữa. Các vị khó tính quá. Anh chủ trương trước hết đưa cho những người mà

anh gọi là “nhà văn một nửa”. Người đầu tiên là Xuân Thuỷ. Xuân Thuỷ cho là

được, chỉ chê một số chỗ chưa đúng ngôn ngữ quần chúng. Thí dụ, đoạn tả bộ

đội dân công đi lại qua cầu chen chúc nhau, có một cô dân công mắng một anh

bộ đội sờ soạng mình: “Cái anh này sao lại cứ sờ sờ vào người ta như thế!”.

Xuân Thuỷ nói, đàn bà người ta không nói như vậy. Và ông chữa cho là: “Đồ

phải gió, chân với tay”. Mắng mà vẫn nội bộ. Câu trước là do Nguyễn Đình Thi

bịa ra, thô quá! Anh nói, vậy là văn chương mà thô hơn quần chúng. Tiếp theo

anh đưa cho cụ Lành. Ông Lành khuyên cho mấy đoạn: đoạn tả hành quân và

chi tiết anh đại đội trưởng ngồi tính giờ, ghi vào nắm tay. Tố Hữu còn thêm cho

một chi tiết: Sản nói với Kha trước khi Kha tắt thở: “Tao hôn mày” để biểu

hiện tình cảm một cách văn minh.

Cuối cùng anh đưa cho Trường Chinh. Trường Chinh khen có tính

đảng: tả đúng chiến tranh nhân dân, có sự phối hợp giữa chi bộ quân đội và cấp

uỷ đảng địa phương, như thế là ở đâu cũng có đảng lãnh đạo. Nguyễn Đình Thi

nói, thực ra lúc viết, anh không có ý thức như vậy. Đây là ý thức của một ông

lãnh đạo đảng. Ngoài ra cũng có người phê tả thương vong hơi nhiều, e không

có lợi, sợ ảnh hưởng đến tư tưởng quân đội (ý kiến này là của một cán bộ chính

trị trong quân đội).

Trường Chinh giục in luôn để phục vụ kịp thời.

Thành công này đã làm cho Nguyễn Đình Thi tin tưởng. Anh viết tiếp

Vào lửa, Mặt trận trên cao, Vỡ bờ.

Thực ra tiểu thuyết không phải chỗ mạnh của Nguyễn Đình Thi: Tô

Hoài, Nguyễn Khải trước sau vẫn cho Nguyễn Đình Thi không viết được tiểu

thuyết.

Năm 1970 tôi có được nghe Nguyễn Đình Thi nói về tiểu thuyết Vỡ bờ

(ở trụ sở báo Văn nghệ). Anh nói Vỡ bờ tập I, anh còn viết dưới cái cánh che

chở của ông Tolstoi già. Tập II đã thoát được cái cánh ấy. Thực ra Vỡ bò tập II

rất dở. Tập I còn đỡ hơn. Mới biết dù thông minh đến đâu, con người ta cũng

khó đánh giá đúng văn của mình – “văn mình – vợ người” – văn mình bao giờ

chả hay.

2. Vịt giời và vịt nhà.

Nguyễn Đình Thi có lần ví mình như con vịt. Bơi được một tí, bay

được mấy mét và chạy lạch bạch dưới đất. Một ví von có ý tự trào về sự nghiệp

của mình. Tôi chắc anh đã suy nghĩ nhiều về sự ví von này. Vì nó rất đúng với

thành tựu nghệ thuật của anh và có hàm ý mỉa mai, cay đắng. Nhưng sự ví von

này còn che dấu một ý khác. Anh nói, không chỉ có nghĩa khiêm tốn đâu, nếu là

con vịt giời thì nó bay cao, bay xa lắm đấy.

Theo tôi, sự ví von này chứa đựng một mâu thuẫn có thực trong cuộc

đời nghệ thuật của anh.

Một thanh niên trí thức, tuổi trẻ, tài cao. Mười tám tuổi đã viết sách

triết học. Rồi soạn nhạc, làm thơ. Lại lớn lên đúng vào một thời kì lịch sử đầy

bão táp, chẳng những chứng kiến mà còn đích thân tham gia vào những sự kiện

trọng đại có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước: Phong trào Việt

Minh, Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Một con người như thế, gặp thời thế như vậy, tất nhiên có nhiều ước

vọng lớn, muốn bay cao, bay xa, thật cao, thật xa.

Nhưng tổng kết cuộc đời mình, anh để lại được những gì? Nhạc một ít,

thơ một chút, kịch dăm vở, tiểu thuyết mấy cuốn, lý luận vài tập. Nói đa tài thì

đa tài thật. Nhưng chẳng tài nào được đẩy đến nơi đến chốn, được phát huy đến

tột đỉnh. Cho nên có lần Xuân Diệu nói với tôi: “Không biết nên gọi Nguyễn

Đình Thi là nhà gì nhỉ”.

Vì sao vậy? Có phải anh không chịu phấn đấu đâu. Trái lại thế. Không

phải ngẫu nhiên mà anh đã tổng kết đời mình bằng câu thơ rất buồn của Bà

huyện Thanh Quan: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”.

Giải thích tình trạng này, tôi cho rằng chính những tìm tòi suy nghĩ của

anh đã khiến anh luôn luôn đi chệch ra khỏi đường ray chính thống, và vì thế

luôn luôn bị phê phán, bị huýt còi. Một con người suốt đời đi theo đảng mà luôn

luôn va vấp với đường lối văn nghệ của đảng. Một con đường nghệ thuật quả là

không thông thuận.

Tôi cho rằng một trong những người hiểu sâu sắc Nguyễn Đình Thi là

Nguyễn Khoa Điềm.

Cuối năm 1982, nhân ra Hà Nội học Nguyễn ái Quốc, Nguyễn Khoa

Điềm có đến thăm tôi (Đồng Xa, ngày 21.11.1982). Anh đánh giá rất cao

Nguyễn Đình Thi mà anh cho có thể trở thành một trí tuệ lớn của thời đại. Anh

nói: “Thời nay, cái quyết định là trí thức, là trí tuệ, chứ không phải kinh nghiệm

thực tế. Từ 1930 đến nay, các nhà văn ta chỉ đi từ thực tế, rồi dùng tài, dùng

tâm mà viết. Chưa có trí tuệ lớn để tổng kết: “Đã đến lúc cần có một nhà văn

có trí tuệ như thế. Người đó là Nguyễn Đình Thi chăng?”

Và Điềm có một so sánh giữa Nguyễn Đình Thi và Huy Cận. Anh nói:

“Huy Cận chỉ đứng ngoài thực tế mà phản ánh và triết lý. Triết lý ngày xưa của

Lửa thiêng còn gây được một cái gì mênh mông, rộng xa. Triết lý bây giờ của

Huy Cận chả có nội dung gì cả”. Anh khẳng định: “Nguyễn Đình Thi thì khác.

Anh muốn triết lý như một người trong cuộc”.

Đúng thế, Nguyễn Đình Thi tham gia cách mạng, vừa đi vừa tìm

đường, “nhận đường”. Một con người thực sự nhập cuộc. Trước 1945, hai lần

nếm cơm tù đế quốc. Đến kháng chiến, gia nhập bộ đội, dự nhiều trận đánh.

Thời chống Mỹ, vào Nam, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.

Cũng vào cuối năm 1982 (Đại học Sư phạm Hà Nội, ngày 19.11.1982),

tôi được nghe Nguyễn Đình Thi kể rất tỉ mỉ về những nếm trải của anh cùng bộ

đội, nhân dân trong những ngày gian khổ nhất: Ăn đói, mặc rét (ở Thái Nguyên,

gặp Tố Hữu. Trời rét. Tố Hữu lấy cái áo dạ của mình khoác cho, nhưng sau phải

trả lại vì không được phép mặc áo cấp phát của cán bộ Trung ương). Nhiều

phen hút chết vì bom mìn, vì kiết lỵ. Anh nói, có phải được chết oai phong gì

đâu, mà chết dấm chết dúi trong bờ trong bụi. Dọc đường Trường Sơn, bao

nhiêu nấm mồ vô danh. Tự thấy mình may mắn, còn được sống mà viết. Nhiều

cái chết rất thảm: chết vì đói rét, chết vì cây đổ, chết vì rắn độc...

Anh tự thấy mình cũng chẳng dũng cảm gì, vậy mà từng phải sống

những giây phút hết sức căng thẳng, giữa cái sống cái chết ranh giới chỉ là một

sợi tóc. Nhưng vì thế mà càng thương, càng kính phục nhân dân mình. Anh kể

chuyện hôm giải phóng Sài Gòn, anh đi cùng một số đồng bào từ Mỹ Tho vượt

qua sông Cửu Long, quãng Bến Tre, rồi băng qua lộ 4. Có nhiều chị phụ nữ địu

con. Trạm trưởng cũng là một nữ. Khi qua sông, các chị vẫn đùa nhau một cách

rất hồn nhiên: “Này người yêu của mày nó đang nằm lòi ruột ra kia kìa!” Qua

lộ 4 là qua cửa tử. Vì đồn địch chỉ cách có trăm mét. Chẳng có ai bảo vệ cả, vì

không phải cán bộ to. Một giao liên đón, anh ta quan sát xem địch có phục kích

không, rồi vẫy tay một cái, thế là chạy thục mạng. Nguyễn Đình Thi đau dạ dày,

ôm bụng chạy. Đằng sau các chị địu con chạy sòng sọc... Địch mà biết, nó chỉ

lia một băng là chết hết.

Nguyễn Đình Thi không như ai kia, chỉ đứng ngoài cuộc, nấp cho kín

mà vỗ tay ca ngợi nhân dân anh hùng.

Từ thực tế ấy anh suy nghĩ về dân tộc, về nhân dân, về con người, về

văn học nghệ thuật. Về sự hi sinh không bờ bến của quân đội và nhân dân mình.

Hy sinh không cần ai biết đến, không cần Tổ quốc ghi công. Anh nói, viết được

sự thật này, chết không uổng. Có thực tế, anh lại có trí thức, đọc rộng, hiểu

nhiều. Tôi đã từng được nghe anh nói về tiểu thuyết Pháp, tiểu thuyết Nga, về

thơ Baudelaire, thơ Tagore, về tư tưởng của Nguyễn Trãi, về thơ ca, vũ đạo,

điêu khắc của Việt Nam, về nền văn hoá rất cao của dân tộc ta nên có thể tồn tại

được bên cạnh hai nền văn hoá lớn là Trung Quốc và ấn Độ. Như vậy là tư duy

của anh không bị bó hẹp trong một cái khuôn văn hoá chật hẹp nào.

Những ý nghĩ của anh, vì thế, không giáo điều, không hẹp hòi, máy

móc. Nhưng chính vì thế mà chệch ra khỏi đường lối văn nghệ của đảng.

Về điểm này, một lần nữa tôi lại thấy Nguyễn Khoa Điềm hiểu rất

đúng về Nguyễn Đình Thi. Có điều hồi ấy anh phải diễn đạt một cách dè dặt,

cho đúng khuôn phép: “Nguyễn Đình Thi có chỗ chông chênh, song anh muốn

nói một cái gì về chủ nghĩa nhân văn, với một tầm nhìn lâu dài, tạo ra những

giá trị tư tưởng lâu dài. Cái thiên hướng đó chưa nhịp nhàng với xã hội hiện

nay nên bị đánh giá sai đi, bị hiểu lầm”.

Tôi thì nói thẳng, những suy nghĩ tìm tòi của anh chính vì không hẹp

hòi, máy móc, giáo điều nên thường chệch ra ngoài đường lối văn nghệ của

đảng.

Trước hết là thơ. Anh chủ trương một lối thơ không phụ thuộc vào vần

điệu bên ngoài, vần điệu ngoài tai, chỉ cần nhịp điệu bên trong. Không phải cứ

hết vần là hết thơ. Thơ không vần vẫn là thơ dân tộc. Anh nói, đúng là âm thanh

của ngôn ngữ có khả năng miêu tả được sự vật. “Xè xè nấm đất bên đường”,

“xè xè” là tả cái gì thấp. “Nhưng thơ hiện đại nên bớt “xè xè” đi, càng bớt

được nhiều càng tốt”. Anh muốn thơ thực sự là lời nói bằng thứ ngôn ngữ bình

thường giản dị nhất. Anh đề cao thơ trí tuệ, thơ tư tưởng. Thơ tất nhiên phải có

tình cảm, nhưng tư tưởng phải sâu sắc, sáng rõ, còn tình cảm thì nên kín đáo.

Anh nói, “thơ của ta, tư tưởng thường mù mờ , tình cảm thì lộ liễu”. Quan niệm

của anh có thể mở ra một cuộc cách mạng về thơ ca phù hợp với thời đại. Ngày

nay ai nấy đều thấy như thế. Nhưng hồi ấy (1948, 1949) anh đã bị phê phán

kịch liệt. Vì trái với đường lối văn hoá dân tộc, khoa học, đại chúng hiểu theo

nghĩa thô thiển nhất. Có kẻ còn tỏ ra phẫn nộ, như Lưu Trọng Lư, hò hét muốn

đuổi anh ra khỏi vương quốc thơ ca.

Về tiểu thuyết thì cuốn Xung kích coi như trót lọt. Nhưng đến Vỡ bờ thì

sinh chuyện. Anh ném ra cô Phượng, một nhân vật tư sản khá phức tạp nhưng

có cảm tình với cách mạng. Anh muốn nói cách mạng tháng Tám là cuộc cách

mạng của toàn dân tộc, trong đó có giai cấp tư sản. Anh rất tâm đắc với nhân

vật này, một nhân vật được sống thật là mình. Nhưng người ta cho anh đi theo

dòng tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Cô Phượng là nhân vật Tự lực văn đoàn.

Lôi thôi trầy trật nhất là kịch. Hầu như vở nào cũng bị phê phán. Tôi đã

được nghe anh than phiền về chuyện này ở Đà Nẵng (31.7.2000).

Anh nói kịch của anh kết cấu theo diễn biến tình cảm hơn là theo xung

đột kịch. Đúng là kịch của anh, do đó, giầu chất thơ. Tôi cho rằng kịch của

Nguyễn Đình Thi là kịch tư tưởng, có thiên hướng về chủ nghĩa nhân văn. Một

lối kịch tượng trưng thường dùng biểu tượng tượng trưng để ném ra tư tưởng

này khác.

Kịch như thế là trái hẳn với đường lối văn nghệ của Trường Chinh: văn

nghệ phải phục vụ chính trị (hồi ấy chủ nghĩa nhân văn cũng bị phê phán vì cho

là thuộc phạm trù ý thức hệ tư sản), chủ đề phải rõ ràng, không được dùng biểu

tượng hai mặt.

Cho nên Con nai đen bị cấm diễn. Hoàng Văn Hoan chê chủ đề không

rõ. Ông ta nói, ta đang đói. “Dân đói thì như nồi nước sôi. Phải thận trọng!”

Nguyễn Trãi ở Đông quan thì cho là ám chỉ Trung ương họp. Người ta

còn đặt vấn đề: Sao không viết Nguyễn Trãi ở Lam Sơn, Nguyễn Trãi anh hùng,

Nguyễn Trãi chiến thắng, mà lại viết Nguyễn Trãi bị cầm tù. Còn nhân vật cô

Câm thì muốn nói gì? ức mà không nói được? Thâm lắm đấy! Tác phẩm này

cũng bị cấm. Thực ra lúc bấy giờ anh muốn nêu vấn đề trí thức. “Thời ấy nổi

lên mấy vở kịch về trí thức: Kịch Khuất Nguyên là trí thức và vấn đề trong đục;

Kịch Galilée là trí thức và vấn đề chân lý; Nguyễn Trãi ở Đông quan là trí thức

và vấn đề dân tộc”.

Đến Giấc mơ anh muốn đưa ra một vở kịch thật hiện đại: một anh

thương binh ngất đi, mơ thấy nhiều cái chết: cái chết của Tần Thuỷ Hoàng, cái

chết của Cléopâtre, cái chết của Chử Đồng tử, cái chết của anh thương binh. Vở

kịch có một cuộc đối thoại với một gã lái buôn. Nó đi đâu cũng đem theo cái

bàn tính và tay nải tiền. Cái gì nó cũng mua được hết, nhưng cuối cùng không

mua được khóm tre của anh thương binh. Kịch rắc rối, lại pha huyền thoại như

thế tất nhiên cũng không được chấp nhận.

Rừng trúc thì viết theo lối cổ điển thôi, nhưng có gài một chủ đề có ý

nghĩa nhân văn (bên cạnh chủ đề đoàn kết đánh giặc) đặt vào lời Chiêu Thánh:

“Việc nước là quan trọng, nhưng việc của con người cũng không là nhỏ”.

Còn Hoa và Ngần thì đề cập đến chuyện một cô gái, chồng đi chiến

trường đã báo tử. Nhưng khi cô yêu người khác thì chồng lại trở về. Trong

chiến tranh, nội dung kịch như thế tất nhiên cũng không được diễn.

Thật ra nếu những tác phẩm trên của Nguyễn Đình Thi đạt tới phẩm

chất nghệ thuật cao, là những kiệt tác, thì không ai có thể phủ nhận được, không

gì giết chết được. Có chôn xuống đất đen thì nó cũng sẽ đội đất chui lên. Như

Giông tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, như Vang bóng một thời của Nguyễn

Tuân...

Nhưng tất cả chỉ mới là những thử nghiệm. Nếu anh cứ tiếp tục thử

nghiệm thì rồi có thể có lúc sẽ đạt tới độ chín, và biết đâu đấy, có thể tạo được

những tác phẩm chẳng những có giá trị lâu dài mà còn mở ra được mội thời đại

mới cho nền văn nghệ Việt Nam hiện đại.

ấy là nói giả thiết thế thôi. Sự thật thì Nguyễn Đình Thi đã chùn bước.

Anh sợ – Dương Thu Hương thì nói thẳng: Nguyễn Đình Thi là thằng hèn, một

trí thức hèn, từng ví mình như hạt bụi (chị nói trong cuộc gặp mặt của Nguyễn

Văn Linh với văn nghệ sĩ – 10.1987).

Không rõ bản thân Nguyễn Đình Thi có thấy mình là hèn hay không,

chỉ biết có lần , trong một buổi nói chuyện ở Đại học Sư phạm Hà Nội, anh tự

cho là người luôn luôn bị lỡ tàu.

Hôm ấy anh nêu lên ý kiến của Goethe về sự xuất hiện những tác phẩm

lớn. Goethe nêu lên ba điều kiện:

- Dân tộc có gì lớn để viết?

- Có thiên tài để viết không?

- Thiên tài có được viết ở thời kì sung sức nhất không? Hay cứ bị lỡ

tầu hoài.

Thì ra anh hiểu lỡ tầu là như thế.

Nhưng liệu anh có phải là thiên tài không? Và tàu nó không đợi anh,

hay anh không dũng cảm bước lên tàu?

3. Chuyện con cua và con ếch.

Năm 1983, Hà Xuân Trường thay Trần Độ làm trưởng ban văn hoá văn

nghệ Trung ương. Nguyễn Văn Hạnh tiếp tục ở lại một thời gian làm phó cho

Hà Xuân Trường. Các vị tổ chức một cuộc hội thảo trong ba ngày về văn học

nghệ thuật. Cuộc hội thảo tập hợp rất đông văn nghệ sĩ thuộc các ngành nghệ

thuật khác nhau. Nguyễn Đình Thi có đến dự. Hôm ấy tôi được chứng kiến

Nguyễn Đình Thi sợ Tố Hữu như thế nào. Ba ngày liền các đại biểu tự do đăng

kí phát biểu. Hôm đầu, tôi hỏi Nguyễn Đình Thi có phát biểu không. Anh nói

không. Nhưng đến buổi cuối cùng, anh lại nói.

Giới văn nghệ nói chung rất phục Nguyễn Đình Thi (trừ bọn viết văn).

Anh lại có thuật nói hấp dẫn. Anh bước lên, đứng trước cái bàn có phủ khăn.

Đứng im, không nói gì. Mọi người im phăng phắc chờ đợi. Tưởng như con

muỗi vo ve cũng nghe thấy. Bỗng anh bước ra khỏi cái bàn, vung tay hỏi hội

nghị: “Chúng ta đang làm cái gì thế này?” Mọi người ngơ ngác tự hỏi: họp

bangày, không biết mình làm cái gì nhỉ? Càng cảm phục và chờ đợi. Thi vung

tay nói lớn: “Chúng ta đang làm một nền văn nghệ lớn. Và chúng ta cũng lớn!”

Đúng lúc ấy Tố Hữu đi vào. Hà Xuân Trường theo sau. Tố Hữu ăn mặc

xuềnh xoàng, áo sơ mi bỏ ra ngoài quần. Người nhỏ bé.

Nguyễn Đình Thi đang hùng hồn bỗng cụt hứng, xỉu hẳn lại, không nói

được nữa.

Tố Hữu ngồi ngay ghế đầu, vẫy tay nói với Thi: “Anh cứ nói tiếp đi!”.

Nhưng Thi chỉ nói lý nhí mấy câu gì đó không nghe rõ, rồi bỏ đi xuống.

Tôi hình dung con cua đang giơ hai càng một cách hiên ngang như

muốn thách thức với cả trời đất. Con ếch tới, vỗ nhẹ vào mai một cái, con cua

vội co dúm người lại. Nguyễn Đình Thi là con cua, Tố Hữu là con ếch.

Thảm hơn nữa là sau đó, khi Tố Hữu phát biểu, Thi thỉnh thoảng lại đế

vào một câu để tỏ ra rất tán thưởng ý kiến của Tố Hữu. Một thái độ nịnh hót rất

lộ liễu. Lưu Trọng Lư cũng thế. Rất tội!

Nguyễn Đình Thi là một trí thức, đọc rộng, biết nhiều – lại có nhiều

trải nghiệm trong thực tế và có quan hệ với các cấp trung ương, những ông lãnh

đạo đảng và quản lý nhà nước. Vì thế anh có nhiều ý kiến ngược dòng chính trị,

có tầm khái quát khá táo bạo. Nhưng cứ phải dấu đi, cứ phải ngậm miệng.

Trong vở kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan, anh đưa ra một nhân vật mắc bênh

câm. Cô Câm. Chắc hẳn anh muốn nói cái khổ của anh trí thức, của bản thân

mình: biết đủ thứ, muốn nói mà không nói được.

Nhưng tâm lý con người ta là thế, khi trong bụng có lắm ý kiến lấy làm

tâm đắc, thì thế nào cũng có lúc phát ra chỗ này chỗ khác.

Tôi đã được nghe khá nhiều ý kiến như thế của Nguyễn Đình Thi.

Chẳng hạn những ý kiến như thế này:

“Tổng bí thứ Đảng là ông vua cộng với ông Thánh, là Hoàng đế cộng

với giáo hoàng. Phong kiến nó tách ra làm hai. Cộng sản chỉ có một, nên đẻ ra

Staline và Mao Trạch Đông. Vua thì phải giết kẻ kế cận. Mao, Staline đều chặt

đầu kẻ ngang mình.”.

“ Ta hiện nay có tình trạng người có quyền không biết chuyên môn. Kẻ

có năng lực thì không có quyền. Kẻ biết không được nói. Kẻ nói thì không biết”.

“ Trong chiến tranh, văn học cứ phải đánh trống thổi kèn. Toe, toe,

toe, tiến lên! Phải lên giây cót. Không lên giây cót là mất nước ngay. Văn học vì

thế là văn học tuyên truyền, đánh trống thổi kèn. Phê bình thì đánh giá lẫn lộn,

cái hay bảo dở, cái dở bảo hay, làm sai lạc hết tiêu chuẩn”.

“ Văn nghệ sĩ như đám cung nữ, múa hát cho vua xem. Còn phê bình

là lũ hoạn quan, lũ thái giám, chuyên bảo vệ các cung nữ”.

“ Ta không được nói cái nhỏ, không được nói bóng tối, không được nói

đời tư. Con người đối diện với mình là rất văn học. Nhưng ít được nói đến. Vì

thế văn học trào phúng không phát triển được”.

“Đường lối văn nghệ có thể sai, nhưng sáng tác vẫn có thể có sáng tạo

do gắn với đời sống. Còn lý luận phê bình thì phụ thuộc hơn vào đường lối.

Đường lối sai ảnh hưởng đến lý luận phê bình.

Người sáng tác có tài vẫn tìm cách khơi được dòng để sáng tạo. Có

đièu kiện thì nói thẳng, không có điều kiện thì nói quanh co, song vẫn nói được,

nếu có tài và gắn với đời sống”.

“Phê bình kém vì chỉ có một cái đầu được nghĩ thôi. Không ai được

nghĩ. Tự do không có. Không phải phê bình kém mà vì phê bình không được

nghĩ và nói theo cái đầu của mình. Hiện nay chỉ có phê bình đề tài, không phê

bình tác phẩm”.

“Văn học cho đến nay, về phương diện phản ánh chiến tranh vẫn còn ở

dạng hồi ký. B. Polévoi, Simonov cũng thế thôi. Viết về chiến tranh phải có gan

viết về cái chết. Người anh yêu nhất chết. Và cái chết phải vượt ra ngoài vấn đề

chiến tranh. Không dám nói cái tình trong chiến tranh thì kể bao nhiêu sự kiện

cũng không hay ho gì. Phải lùi xa mà phản ánh hiện thực, và phải có tầm nhân

loại. Mà nhà văn ta sợ không dám khái quát ở tầm cao, tầm trung ương”.

“Có hai cái gây ra drame và tạo cho nhân vật một destinée: tình yêu

và lí tưởng. Tiểu thuyết ta không dám đặt ra vấn đề gì cả. Vì hai vấn đề trên

phải tránh. Thành ra nói như sách, nói theo đáp án định sẵn”.

Những ý kiến như thế cứ “thòi” ra chỗ này chỗ khác, hoặc trong những

cuộc nói chuyện ở đâu đó, hoặc dùng lối biểu tượng hai mặt để “xì” ra một cách

bóng gió trong tác phẩm của mình (chủ yếu là kịch).

Thành ra Tố Hữu rất ghét Thi. Vì Tố Hữu là tay thông minh, thừa biết

Thi thực bụng nghĩ gì. Vả lại những ý kiến kể trên của Thi, thế nào chẳng có

thằng tâu với Tố Hữu. Ghét nhưng vẫn dùng. Vì Thi biết sợ. Lãnh đạo ngại nhất

là thằng không biết sợ. Sai không sao, ngại nhất là thằng bướng. Thằng bướng

thì phải diệt ngay (như Nguyên Ngọc chẳng hạn)

Nguyễn Đình Thi sợ Tố Hữu có lẽ còn do nguyên nhân khác: Từ rất trẻ

anh đã được ngồi ghế cao: Lãnh đạo văn hoá cứu quốc, Tổng thư kí hội nhà

văn, Hội văn nghệ, Đại biểu quốc hội khi mới ngoài 20 tuổi. Thi không quen

ngồi dưới đất. Một tính cách dở dang: vừa muốn làm nghệ sĩ, vừa muốn làm

quan. Đã muốn làm quan, đã muốn có ghế và giữ ghế thì tất phải sợ cấp trên –

cấp trên trực tiếp là Tố Hữu.

Hoàng Ngọc Hiến thì cho rằng, Nguyễn Đình Thi chắc có một cái vết

gì đấy trong lý lịch nên sợ. Những tay nịnh hót đảng, lên gân lên cốt về chính

trị, nói chung là đều có vết gì đó trong lý lịch như Hoàng Xuân Nhị, Lê Văn

Thiêm, Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Nam Mộc, Phan Ngọc...

* *

*

Năm 2000, tôi vào Sài Gòn. Một buổi sáng tôi ngồi uống cà phê với

anh Hoài Thanh (Cán bộ giảng dạy Đại học Sư phạm Sài Gòn) ở một cái quán

vỉa hè đường Nguyễn Du, thấy Nguyễn Đình Thi đứng ngay gần đấy. Anh đứng

trông ra đường, chắc đang đợi xe đến đón đi đâu đó. Tôi gọi anh và mời anh

uống cà phê. Hoài Thanh nói: “Trông Bác vẫn trẻ lắm!”. Nguyễn Đình Thi nói:

“Tôi lúc trẻ người ta bảo là già, lúc già người ta lại khen là trẻ”. Hỏi anh về

sức khoẻ, anh nói bị tuần hoàn não.

Khi anh ốm nặng (2004) tôi có đến thăm. Hôm ấy anh vừa được uống

cổ linh chi, một thứ thuốc quý hiếm, được coi là thần dược. Người khoẻ lại hẳn.

Chân tay co duỗi thoải mái. Anh thử biểu diễn cho tôi xem, có vẻ vui và tin

tưởng lắm. Chị Tuệ Minh chăm sóc anh. Anh nói nhỏ với tôi: “Anh đến thăm

tôi thế này là quý hoá lắm!” Rồi anh giới thiệu tôi với chị Tuệ Minh.

Vậy mà chỉ mấy ngày sau, anh qua đời.

* *

*

Về sáng tác và nhất là về con người Nguyễn Đình Thi, kẻ khen không

ít, người chê cũng nhiều.

Điều ấy chắc anh biết rõ. Nhưng anh không bao giờ thanh minh, không

bao giờ tự bào chữa.

Hoàng Ngọc Hiến cho đó là một chỗ rất được của Nguyễn Đình Thi.

Láng Hạ, ngày 1.1.2008



Chương XIX: Nguyễn Khải


Nguyễn Khải khác hẳn Nguyên Ngọc. Thiết thực, không phiêu lưu

mạo hiểm, không muốn chết, không muốn đi tù. Anh tự nhận luôn là thằng hèn

cho người ta khỏi phải bàn tán lôi thôi.

Sau cuộc hội nghị nhà văn đảng viên, bản đề cương của Nguyên Ngọc

bị Tố Hữu đánh, Nguyễn Khải vốn nhất trí với Nguyên Ngọc trong vụ này, nên

sợ quá. Anh nói thẳng với Nguyên Ngọc: “Tao nhát lắm, chưa đánh đã khai.

Cho tao chạy đi thôi, mày thông cảm, đừng khai tao ra nhé”.

Nguyễn Khải rất thiết thực và tỉnh táo, vậy mà cũng có lúc mê muội.

Tôi gọi là dại – tôi đã viết như thế về Nguyễn Khải trong bài Dại khôn Nguyễn

Khải. Mới biết cái danh, cái lợi cũng dễ mê hoặc lắm. Hồi được gọi ra Hà Nội

để chuẩn bị Đại hội nhà văn lần thứ tư (Trần Độ, Nguyễn Văn Hạnh dự định sắp

đặt Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc làm chánh, phó Thư kí Hội Nhà văn). Nguyễn

Khải xem ra cũng hăng hái lắm. Anh nói với tôi y như là sẽ làm Tổng thư ký

đến nơi: Anh phẩy tay “Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên thì phế cả đi! Còn về lý

luận phê bình thì anh phụ trách cho tôi. Nhưng ta phải khôn khéo, đổi mới

nhưng phải khôn khéo. Trần Độ cứng quá, cứ ỉa ra đấy cho người ta phải dọn.

Chính trị ghê gớm lắm, không đùa được đâu! Nếu cần quỳ xuống lậy, ta cũng

phải quỳ”.

Trong bài viết về Nguyễn Khải, tôi có nhắc đến chi tiết này, cho là một

cái dại của anh và hạ một câu: “Bây giờ nghĩ lại, xấu hổ chết được!”. Tôi tưởng

anh giận tôi, hoá ra anh lại thích thú. Thích vì thấy hiểu mình quá. Tôi rất quý

cái thành thực ấy của Nguyễn Khải. Có một cô nghiên cứu sinh tên là Tuyết

Nga làm luận án về Nguyễn Khải. Cô tìm gặp anh để tìm hiểu. Anh đưa cô xem

bài viết của tôi, nói là cứ đọc bài này là hiểu anh. Và anh cầm bài viết đọc luôn

cho cô ta nghe. Đến chỗ “Bây giờ nghĩ lại xấu hổ chết đi được!”, anh đỏ bừng

mặt và cười hô hố – Cô nghiên cứu sinh kể lại với tôi như vậy.

Trong bài viết nói trên, tôi có nói đến một bậc đàn anh trong nghề dạy

tôi phải đào nhiều hang. Ta là con chuột, lấp hang này, ta chui hang khác. Đó là

Đinh Gia Khánh. ở bài này, tôi dẫn câu Nguyễn Khải nói, có một nhà văn, trước

1975, chẳng có tư tưởng gì cả. Đấy là Nguyễn Minh Châu. Đúng là trước 1975,

tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu cũng chỉ là minh hoạ đường lối, tư tưởng của

đảng. Sau 1975 mới có tư tưởng. Tư tưởng Nguyễn Minh Châu đặt ở nhân vật

Khúng trong Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát. Tôi cũng dẫn lời anh chê một

nhà thơ viết hồi ký, đọc lúc đầu có không khí, sau chẳng thấy có tư tưởng gì. Đó

là A T(Hồi ký Từ bến sông Thương). Tôi còn dẫn ra câu anh nói về một giáo sư

danh tiếng mà đọc (hồi ký) cũng chả thấy có tư tưởng gì. Đó là ĐTM.

Như vậy là đọc văn hay viết văn, Nguyễn Khải rất chú ý đến tư tưởng

của tác phẩm. Nhưng ở anh, có một mâu thuẫn: một mặt muốn phát biểu tư

tưởng riêng, vì ý nghĩa của văn chương là ở đấy. Nhưng mặt khác lại muốn

sống yên ổn với đời nên chỉ có thể mạnh dạn nửa vời, mạnh dạn trong một

khuôn khổ nào đấy thôi. Chính trị ghê gớm lắm, không đùa được đâu, chắc anh

luôn luôn tự dặn mình như thế. Vả lại nghĩ đi nghĩ lại, anh không thể quên công

ơn của cách mạng đối với mình. Từ một cậu bé con rơi con vãi, sinh ra đã bị

khinh bỉ, bị lăng nhục, sau cách mạng trở thành nhà văn có danh, có lợi đủ cả.

Cũng phải biết điều một chút chứ!.

Thông minh và tỉnh táo, Nguyễn Khải luôn có ý thức về thân phận của

mình, về cái giá trị của mình đối với đời. Anh kể chuyện, hồi anh là đại biểu

quốc hội, đi ôtô từ Ba Đình về nhà khách. Đến chỗ đường tàu, xe phải dừng lại

cùng một số đồng bào đi xe đạp, xe máy. Anh nhìn xuống, thấy rợn người: có

một tay đang nhìn lên anh, cặp mắt đầy căm thù. Anh nghĩ mình cũng chỉ là loại

nghị gật, vô tích sự, thằng ăn hại, dân nó khinh ghét là phải.

Chiến thắng 30.4.1975, anh đi vào Nam. Gặp Nguyên Ngọc, Nguyễn

Trọng Oánh. Anh cảm thấy Ngọc và Oánh nhìn mình như muốn nói: “ Mình

chiến đấu gian khổ bao lâu không thấy mặt nó đâu, bây giờ chiến thắng rồi, nó

vào. Rồi nó sẽ viết nhiều, viết hay hơn mình cho mà xem!”. Nguyễn Khải nói:

“Biết thân phận thế, tôi cứ ngồi len lén, không dám nói năng gì”.

Mà cái tài của Nguyễn Khải là thế thật, có cần đi thực tế gì đâu. Trước

1975, anh chỉ ngồi ở ngoài Bắc mà viết về HoàVang chiến đấu như thật. Cho

nên có ai đó đã làm vè giễu anh:

Anh đi anh lại về ngay,

Hoà Vang cũng ở ngoài này đó em.

* *

*

Khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, Nguyễn Khải đưa gia đình

vào Sài Gòn. Lúc đầu xem chừng sinh hoạt còn khó khăn. Anh ở quận Bốn

(448B/9, phường 18, Nguyễn Tất Thành) tôi có đến thăm. Nói chuyện với tôi,

thấy anh cứ nhấp nhổm chạy ra chạy vào: gia đình bán giải khát và cho thuê

điện thoại. Có khách đến, phải chạy vội ra phục vụ. Mấy năm nay thì khá hơn

rồi. Anh có người con (Nguyễn Khải Hoàn ) kinh doanh nhà đất, kiếm được.

Nhưng nhà cứ mua đi bán lại, nên anh cứ phải chuyển chỗ ở luôn. Mỗi lần tôi

vào Sài Gòn, lại thấy anh ở một chỗ khác. Biết tôi vào Sài Gòn, thế nào anh

cũng mời đến uống rượu.

Đến Nguyễn Khải, lúc nào cũng có rượu. Anh nói, bây giờ rượu Tây

sẵn, nghĩ thương ông Nguyễn Tuân. Ngày xưa mỗi lần họp, thấy ông lấy ra một

cái bi đông rượu, rót vào cái nắp, mời vị này, vị khác. Nay rượu Tây đầy ra đấy,

ông không còn để mà uống.

Nói chuyện với Nguyễn Khải, tôi không ngờ hồi mới vào Sài Gòn, loại

văn nghệ sĩ cỡ Chế Lan Viên, Nguyễn Khải mà khổ đến thế: “Vũ Thị Thường

nói, đi đường chỉ mong nhặt được tiền ai đó đánh rơi. (Hệt như câu nói của

Hoàng Ngọc Hiến hồi ấy: “Đi đường thấy có một đồng xu rơi cũng phải nhặt.

Kiếm đâu ra một xu bây giờ!”)

“Chế Lan Viên ở quận Tân Bình chỉ thèm ăn một bữa ngon, phải ra

tận quán bà luật sư Huỳnh Ngọc Đại để được bà ấy đãi một bữa cơm Tây. Ai

260

mời, đâu mời cũng đi. Chỉ để kiếm bữa ăn thế thôi, và xách về một chai nước

mắm hay mấy cân gạo nó cho. Nguyễn Khải cùng đi với Chế Lan Viên. Một

thằng làm thơ, một thằng viết ký, một ca sĩ đi theo hát. Tôi gọi là hai kép, một

cô đầu cùng đi kiếm bữa ăn và ngồi nghe mấy tay giám đốc dốt nát vào đấy ba

hoa. Nó có tiền nên hai nhà văn cứ phải gật gù nghe nó dạy dỗ”.

Nguyễn Khải có nhiều ý kiến rất táo bạo:

“Đảng không bao giờ coi trọng trí thức, biến trí thức như Hoàng Xuân

Nhị thành hèn hạ. Mà bị nó khinh. Tôi từng gặp Hoàng Xuân Nhị ở nhà Tố

Hữu. Tố Hữu không thèm nói chuyện với ông ta, cứ để cho ông ta ngồi một

mình. Tóc bạc phơ. Tố Hữu chỉ nói với tôi là một thằng còn rất trẻ. Trần Đức

Thảo thì bị biến thành một thằng thần kinh. Sang Pháp, bao nhiêu Việt kiều mời

đến, không đến, cứ ở Đại sứ quán, tuy bị nó khinh như chó.

Thuỵ An thì bị tù. Trong tù đi lao động, ngã vào dây thép gai, bị mù

một mắt. Nay vẫn ở Sài Gòn, sống rất khổ. Không đi Pháp vì là con gái lớn

phải ở lại nuôi mẹ già...”

“Chúng ta thuộc lứa người bị bỏ phí cả một thời trai trẻ để học theo

một cái lý thuyết vớ vẩn, chả nghĩ ra được cái gì, chẳng làm ra được cái gì

trong giới hạn của chủ nghĩa Mác – Lê - một thứ triết học của người cầm

quyền. Mà có hiểu Mác – Lê thực đâu. Toàn nghe lãnh tụ nói và nói theo. Trong

cái khung của một ý thức hệ, còn ai nghĩ ra được cái gì nữa. Chủ nghĩa Mác

thành ra một thứ tôn giáo. Tin mà không hiểu. Bao người hy sinh vì cái lý

thuyết vớ vẩn ấy. Chủ nghĩa xã hội toàn đẻ ra những con người quái gở như

Mao Trạch Đông, Staline, Pônpốt, rồi Nguyễn Chí Trung..., toàn lũ điên”.

“ Ta có một thời cứ tin tưởng ở cái không có. Như tin ở chủ nghĩa xã

hội”.

“Chính trị và quan điểm giai cấp trùm lên tất cả. Con người không có

tình bạn. Bạn bè mà có vấn đề chính trị là không được quan hệ”.

“Chủ nghĩa xã hội nếu không thay đổi thì con người thành mọi rợ,

rừng rú. Từ ăn, ỉa, mặc, ở... Sợ quá!”

Nguyễn Khải nói về uy quyền ghê gớm của Lê Đức Thọ một thời. Anh

chứng kiến Sáu Bắc (Lê Đức Thọ) tiếp Sáu Nam (Lê Đức Anh). Hôm ấy, Thọ

gọi một số văn nghệ sĩ đến hỏi chuyện. Thọ đang tiếp khách. Bọn Khải phải

ngồi đợi ở phòng bên cạnh. Lát sau, khách ra về. Hoá ra khách là lê Đức Anh.

Nguyễn Khải thấy Lê Đức Anh đi ra, cứ đi giật lùi, giật lùi ra mãi giữa sân mới

dám quay đít lại. Thọ tiếp chúng tôi. Đúng lúc ấy thấy Phạm Hùng đi sang.

Hùng đề nghị gặp Thọ một lát. Thọ phẩy tay: “Để lúc khác nhé, giờ đang bận

tiếp khách văn chương”. Thọ coi Hùng chẳng là cái gì, tuy Hùng lúc đó là thủ

tướng, thay Phạm Văn Đồng ”.

“Nói chung cộng sản coi văn nghệ sĩ như rác. Lê Duẩn coi Tố Hữu

cũng chỉ như một con hát. Nhưng lại sợ văn nghệ. Vì chỉ dùng tuyên truyền,

dùng nước bọt mà giành được nước. Chỉ nói, có làm gì đâu. Nói đủ cả, chẳng

làm gì. Thí dụ, cứ nói phê bình tự phê bình mà chưa bao giờ phê bình tự phê

bình cả. Có dám nói thật đâu mà phê bình tự phê bình. Chỉ toàn đào tạo gia

nhân, đầy tớ, bọn nịnh hót. Sợ văn học cũng vì thế. Vì văn nó nói sự thật, nó lật

tẩy. Rất sợ biểu tượng hai mặt. Chỉ đề cao văn tuyên truyền, đề cao vè. Thật ra

bọn nhà văn nói chung nhát, không dám chống chế độ đâu!”.

“ Chế Lan Viên một thời, dựa thế Tố Hữu cũng hách lắm. Tô Hoài gọi

là thằng nặc nô của đảng. Hồi chỉnh huấn văn nghệ sĩ, Chế Lan Viên làm tổ

trưởng, nói với Nguyễn Tuân: ông tưởng ông to lắm à? Tôi phụ trách ông kia

mà! Họp chấp hành, ý kiến Chế Lan Viên là quyết định. Thí dụ, ban chấp hành

bàn có nên kết nạp Phan Quang không? Mọi người chờ ý kiến của Chế Lan

Viên. Chế lan Viên đi đái vào, nói: “Thằng Thép Mới nó còn ở ban chấp hành

được thì thằng Phan Quang sao không cho vào hội được!”. Ai cũng gọi là

thằng tuốt; Thằng Nguyễn Đình Thi, thằng Tô Hoài, thằng Hoàng Trung

Thông, chẳng sợ ai cả. Không thể đối đáp kịp mồm Chế Lan Viên. Phải về nhà

mới nghĩ ra cách bác lại, nhưng hôm sau, không còn lý do để tranh cãi nữa, vì

lão ấy lại nói chuyện thân mật”.

“Nhưng Chế lan Viên chết rất khổ. Vũ Thị Thường phục vụ rất mệt.

Gần chết hay quát tháo vợ con. Vũ Thị Thường nói chỉ thèm được ngủ, khi Chế

lan Viên chết, việc đầu tiên là ngủ bù một giấc, dạy mới có sức mà khóc”.

Nguyễn Khải có một ưu điểm là có óc liên tài thật sự. Rất phục người

tài. Tôi đã được nghe anh phục Đỗ Chu như thế nào khi Chu mới xuất hiện. Đối

với Nguyễn Huy Thiệp lại càng phục hơn nữa.

Anh nói: “Kim Lân là con đẻ của đất Kinh Bắc. Đỗ Chu cũng thế. Trẻ

con có học hành gì đâu mà viết rất hay: Thung lũng cò, Hương cỏ mật... Vợ

nhặt của Kim Lân thì văn tuyệt hay. Con người Kim Lân rât thích. Hồn nhiên,

chân thật, tiếp xúc không phải ý tứ gì. Có Kim Lân, mình cũng bớt lố bịch, cứ

lấy ông ta làm chuẩn. Nguyễn Tuân còn điệu bộ, làm dáng. Tôi rất ghét uốn éo,

điệu bộ. Rất ghét cái ông Vũ Kỳ bắt chước Cụ Hồ: áo bà ba, đi guốc mộc tiếp

khách.

Muối của rừng, Thiệp viết rất giỏi. Hêminhuê viết Ông già và biển cả

còn dài dòng. Thiệp viết cực ngắn. Đi săn, trang bị đầy đủ. Cuối cùng cởi

truồng trở về. Lại còn bị lũ khỉ giễu cợt. Không có vua có cái chi tiết bố chồng

dòm con dâu tắm. Sợ quá!

Nhưng bây giờ xem ra hết tài rồi. Viết tiểu thuyết "Tuổi 20 yêu dấu",

rồi truyện võ hiệp, thành ngòi bút khác mất rồi.

Ma Văn Kháng là dân Hà Nội, viết về dân tộc thiểu số cứ xôm cốp bên

ngoài thế thôi. Phải viết về dân tộc mình, về cái mình thuộc, mình am hiểu chứ.

Tô Hoài thì rất tinh quái, rất hóm. Nguyễn Đình Thi đẹp trai, hấp dẫn

gái, thế mà toàn ăn của thừa. Mình phải ăn từ bếp lên chứ! Này, có lần tôi đến

LM gọi cửa mãi, thấy đi ra, khuy ngực xốc xếch. Bên trong thấy có Tô Hoài.”

Nguyễn Khải cho kết quả của Đại hội nhà văn lần thứ 7 là tốt: “Ban

chấp hành như thế là khác trước rồi. Trước đây, vào chấp hành, thằng nào

cũng để kiếm chác một cái gì đó: một chỗ dựa, một chỗ có tiền, một suất đi

nước ngoài... Giờ bọn Vàng Anh, Hồ Anh Thái nó chẳng cần gì! Đừng hòng

Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm bảo được nó. Nó không nghe đâu!”.

262

Nguyễn Khải cho viết văn là phải có tư tưởng. Vì thế anh chịu khó đọc

sách, gần đây hay đọc triết. Hình như có một bậc thánh hiền nào đó nói rằng,

đọc sách mà không nghĩ thì vô dụng, nghĩ mà không đọc sách thì nghĩ lung tung

rất nguy hiểm. Nguyễn Khải chịu đọc và chịu nghĩ.

Một lần tôi đến anh, thấy anh đặt trên bàn cuốn "Tinh thần pháp luật "

của Montesquieu. Anh nói: “Lâu nay chúng ta chỉ đi bên cạnh nền văn minh

nhân loại. Nói thế là đủ hiểu. Chẳng biết gì. Phủ nhận tất cả những cái gọi là

phi vô sản. Bây giờ mình mới được đọc những Montesquieu, Voltaire,

Rousseau...

Đọc triết học phương Đông từ Cao Xuân Huy, Nguyễn Hiến Lê... đến

khi đọc bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến, cuốn "Bàn về tính hiệu quả", mới ngộ

ra được. Phải nhìn từ xa, tuân theo quy luật tự nhiên. Gò ép nó, cải tạo nó là

hỏng. Liên Xô cứ đòi uốn nó, cải tạo nó. Cải tạo sao được con người. Con

người không thể cải tạo được. Bây giờ đấy: đủ cả mafia rất ghê gớm”.

Hoàng Ngọc Hiến dịch triết rất hay mà chả thấm được triết. Cứ tức

tối, căm thù. Tôi rất quý Hoàng Ngọc Hiến, nhưng đọc bài của Hiến (có lẽ là

bài trên Talawas) tôi không thích nữa.

Về điểm này, tôi chưa thật hiểu rõ ý của Nguyễn Khải.

Tôi nhớ ông Tolstoi già trong Chiến tranh và hoà bình có luận về tình

yêu của con người và tình yêu của Thượng đế. Khi yêu bằng tình yêu của con

người thì có thể từ yêu thương chuyển sang thù ghét, còn tình yêu của Thượng

đế thì có thể thương yêu cả kẻ thù, thậm chí cảm thấy vui sướng khi thương yêu

kẻ thù. Ăngđré Bôncônxki, trong giờ phút hấp hối, đã thấy mình bỗng có được

tình yêu đó. Anh ta vui sướng khi thấy mình thương cả Anatole là kẻ tình địch

của mình.

Nguyễn Khải muốn có thứ tình yêu cao cả đó chăng, mà anh gọi là thái

độ triết học?

Điều đó có phải là một điềm gở ở anh không?

* *

*

Tôi gặp Nguyễn Khải lần cuối cùng ngày 24.7.2007 (cùng với Hồ

Quốc Hùng). Tất nhiên khi anh mất rồi mới biết đấy là lần cuối cùng: Thật

không ngờ! Tôi cứ tưởng sẽ còn nhiều lần được gặp anh. Anh với tôi cùng sinh

một năm (1930), nhưng anh còn sinh sau tôi tới chín tháng (tôi sinh đầu năm –

tháng ba, anh sinh cuối năm – tháng chạp).

Anh đi đâu về. Trông thấy anh, tôi bấm bụng cười thầm vì chợt nghĩ

đến nhận xét rất đúng nhưng rất tục của Đỗ Chu hồi nào: “Răng hơi hô, trông

lúc nào cũng như hớn hở, đi ngực ưỡn, hai tay ve vẩy, trông như con đàn bà

nứng l”.

Nhưng bây giờ thì anh có vẻ yếu rồi, chống ba toong, cao lênh khênh,

đi lòng khòng.

Anh vẫn nói nhiều. Nào chuyện tướng tình báo Phạm Xuân ẩn, kho tài

liệu giúp anh viết về chính quyền Sài Gòn, nào chuyện cải cách ruộng đất xoá

sạch thành tích cách mạng, chuyện Chế Lan Viên chết rất khổ. Khổ mà rất khí

khái, không xin xỏ gì hết, tuy Tố Hữu, Hà Xuân Trường đến thăm luôn, chuyện

Nguyễn Tuân, chuyện Nguyễn Huy Thiệp, chuyện Cụ Hồ và tướng Giáp rất

giỏi nín nhịn...

Anh nói đang viết một bài gọi là sự hình thành một bút pháp. Từ thực

tế sáng tác của mình mà viết. Xưa đã thấy người nông dân cần có tầm mắt nhìn

xa vượt ra khỏi sự hẹp hòi của hợp tác xã. Nhưng vượt ra bằng cách nào chưa

biết. nay mới thấy có điều kiện: kinh tế thị trường giải phóng cho nông dân...

Anh nói rất nhớ Hà Nội. Thèm không khí Hà Nội. Vào Sài Gòn anh

chẳng chơi với một bạn mới nào. Ra Hà Nội bây giờ cũng lại chỉ đến những bạn

cũ đã già. Không nói chuyện với đám trẻ được. “Người ta nói sáu mươi tuổi thì

tính năm, bẩy mươi tính tháng, tám mươi tính ngày... Tôi muốn sống lâu để xem

thời thế ra sao. Lịch sử do con người làm ra, làm sao biết trước được!”

Tôi nhớ lại ngày xưa anh đã có một câu nói gở rất thiêng về Nguyễn

Tuân. Anh khen Nguyễn Tuân đẹp lão và nói: “Đẹp lão thế là sắp sửa đấy!”.

Ba ngày sau Nguyễn Tuân qua đời.

Bây giờ anh nói bẩy mươi tuổi tính tháng.

Anh nói ngày 24.7.2007.

Năm tháng sau, ngày 15.1.2008, nghe tin anh qua đời.

Đúng là tuổi bẩy mươi tính tháng.

* *

*

Ngay sau khi Nguyễn Khải mất, tôi có anh bạn (Hoàng Dũng) trong

Nam ra Hà Nội, nói Nguyễn Khải chết không có đất chôn.Đúng ra là không

được chôn ở nghĩa địa Sài Gòn (tại Thủ Đức), phải đưa lên nghĩa địa Củ Chi rất

xa. Tiêu chuẩn được chôn ở Thủ Đức, ngoài những ông thành uỷ viên hay trung

ương uỷ viên không kể, phải có 65 năm tuổi đảng. Trần Duy Châu, nguyên hiệu

phó Đại học Sư phạm Sài Gòn, khi chết mới có 58 tuổi đảng, không đủ tiêu

chuẩn, phải đưa đi Củ Chi. Nguyễn Khải tất nhiên cũng phải đưa đi Củ Chi.

Võ Văn Kiệt thấy thế chắc lấy làm xấu hổ, nên can thiệp. Ông tuyên bố

nhường suất chôn ở Thủ Đức của ông cho Nguyễn Khải.



Chương XX: Nguyên Ngọc


Trong một bài chân dung viết về Nguyên Ngọc, tôi gọi anh là con

người lãng mạn. (Nguyên Ngọc, con người lãng mạn).

Cũng có thể nói, Nguyên Ngọc là người của cái tuyệt đối. Anh không

chấp nhận sự nửa vời, trạng thái lừng chừng. Phải tuyệt đối anh hùng, phải tuyệt

đối trong sáng. Không phải anh chỉ nghĩ thế, mà còn sống như thế. Rất dũng

cảm, thích mạo hiểm. Anh từng đi đánh thổ phỉ ở Tây Bắc. Từng đi ngựa theo

một đoàn buôn thuốc phiện lậu từ Cao Bằng đi Lai Châu. Đi B dài cùng Nguyễn

Thi. Nguyên Ngọc ở lại khu Năm, còn Nguyễn Thi thì vào tuốt Nam Bộ. Họ

chia tay nhau bên một khu rừng xà - nu bạt ngàn, hẹn trở về phải đi đường số

một. ở khu Năm, Nguyên Ngọc sống và chiến đấu như một anh hùng. Một nhà

văn như thế thì tìm đâu ra nhân vật trong đời sống thực tế quanh mình. Mà nhất

thiết anh phải viết về chủ nghĩa anh hùng. Đó là quan niệm thẩm mĩ của anh.

Viết Đất Quảng, anh tìm được một nguyên mẫu mà anh cho là lý tưởng. Viết

đến tập II, thì được tin cái anh nguyên mẫu nọ té ra cũng dao động, lập tức đốt

ngay bản thảo.

Tìm đâu ra những con người tuyệt đối như thế? Phải bịa ra sao?

Không, Nguyên Ngọc tìm lên núi cao và ra tận biển khơi. Anh tìm đến những

con người như thuộc thời hồng hoang nguyên thuỷ, cái thời chưa có kinh tế thị

trường, chưa có chuyện danh và lợi làm vẩn đục lòng người...Sống như tự

nhiên, như tảng đá, gốc cây, con thú rừng. ấy là Đinh Núp, Thnú ở Tây Nguyên,

là Thào Mỵ ở Hà Giang, Mèo Vạc, là những chiến sỹ anh hùng trong Đường

mòn trên biển...

Nguyễn Khải thường nhắc lại lời Nguyễn Minh Châu nói với Nguyên

Ngọc khi Ngọc vừa trở ra Bắc sau 1975: “Bọn mình cố phấn đấu để trở thành

anh hùng, còn ông thì cố phấn đấu để trở thành người bình thường”.

Đầu óc Nguyên Ngọc chỉ có cái tuyệt đối, cái phi thường mới lọt vào

được. Cho nên nói chuyện với anh, thấy anh toàn say sưa kể những chuyện như

sử thi, như thần thoại vậy.

Anh cho bài viết của tôi về anh, đã nói đúng cái môi trường có tác

động tới anh từ nhỏ: phố cổ Hội An và bãi biển Cửa Đại, nơi còn giữ được

trong thời hiện đại không khí hoang sơ, hoang dã, với những con người rất đỗi

hồn nhiên, trong sáng. Từ đó, năm 17 tuổi, cuộc kháng chiến đã đưa anh lên

tuốt Tây Nguyên, lên tận đỉnh Ngọc Linh. Hồi ấy, tâm hồn lãng mạn của anh đã

từng mơ ước gặp được một mối tình sơn nữ.

Nguyên Ngọc trên đường đời đã vớ được cây xà nu. Anh liền lấy nó

làm nhân vật tư tưởng của anh. Anh đích thực là một cây xà nu, thẳng băng,

nhọn hoắt, chọc thẳng lên trời.

Con người như thế, tuy người ta rất phục, nhưng không ai chịu nổi,

không ai theo được. Sống thế mệt quá, căng thẳng quá! Anh mà làm lãnh đạo

thì kể cũng khó đoàn kết được quần chúng. Hôm tôi trò chuyện với Nguyễn

265

Đình Thi trên đường đi Tam Kỳ (năm 2000), Nguyễn Đình Thi cho biết, hồi

bọn Tàu đánh ta ở biên giới, Nguyên Ngọc lúc ấy làm bí thư đảng đoàn Hội nhà

văn, định đưa anh em lên mặt trận biên giới đấy.

Một con người không biết mềm mỏng trong giao tiếp, rất cứng. Anh rất

ghét Nguyễn Đình Thi, cho là thằng giả dối. Trong hội nghị, hễ Thi phát biểu,

anh bỏ ra ngoài. Anh rất khinh Huy Cận. Anh cho con người nhân cách bẩn như

thế viết hay sao được. Người ta nói, thơ Huy Cận trước cách mạng hay đấy chứ!

Anh nói dứt khoát: “không hay!”. Anh rất ghét bọn chấp hành Hội nhà văn từ

khoá năm, khoá sáu và tờ Văn nghệ của Hữu Thỉnh. Văn nghệ đưa đến, anh vất

ngay vào sọt rác. Hội cấp tiền bồi dưỡng sáng tác cho anh, anh từ chối. Nhà anh

ở khu tập thể quân đội số 8 – Lý Nam Đế. Từ cổng đi vào gặp rất nhiều nhà văn

quen thuộc. Anh đi một mạch thẳng, chẳng trò chuyện với ai, khinh tuốt.

Nguyễn Văn Hạnh nói, Nguyên Ngọc không có tâm lý làm nhân vật số

hai. Anh chỉ có thể làm nhân vật số một. Tất nhiên Tố Hữu rất ghét Nguyên

Ngọc. Tố Hữu từng nói với Tô Hoài: “Nguyên Ngọc cứ để nó làm bí thư đảng

đoàn thì nó sẽ làm vua”. Nguyên Ngọc thì bướng. Tố Hữu thì hách, tất nhiên rất

ghét nhau.

Hồi Nguyên Ngọc làm bí thư đảng đoàn Hội nhà văn, anh tổ chức một

cuộc hội nghị nhà văn đảng viên. Anh đưa ra một bản đề cương chống giáo

điều, đổi mới văn học. Tố Hữu đến, lên phát biểu đã phê phán quyết liệt bản đề

cương coi là hiện tượng ngược dòng. Vậy mà khi kết luận hội nghị, Nguyên

Ngọc vẫn khẳng định bản đề cương đã được hội nghị nhất trí tán thành. Rõ ràng

là bất chấp thái độ Tố Hữu.

Tối hôm đó ở 4 Lý Nam Đế (Trụ sở Văn nghệ quân đội), Nguyên Ngọc

đang ngồi với Nguyễn Khải, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Trọng Oánh, Giang

Nam, thì Chế Lan Viên đi bộ từ 51 Trần Hưng Đạo đến: “Tôi khuyên các anh

đến xin lỗi anh Tố Hữu, tôi đưa các anh đến”. Không ai nói gì. Nguyên Ngọc

trả lời: “Cám ơn anh, tôi tự thấy chả có gì phải xin lỗi cả. Còn nếu cần đến anh

Tố Hữu thì tự tôi đến cũng được, không cần anh phải dẫn đi. (Chế Lan Viên

ghét Nguyễn Đình Thi, muốn đưa Nguyên Ngọc lên để hạ Nguyễn Đình Thi. Vì

thế không muốn Nguyên Ngọc đổ).

Nguyên Ngọc yêu ghét rất phân minh. Người anh ghét chủ yếu là

những nhân cách xấu: Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Vũ Quần Phương, Phạm

Tiến Duật, Đào Vũ, Hà Xuân Trường, Phan Cự Đệ... Anh rất quý Trần Độ,

Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Hoàng Ngọc Hiến...

Nhưng Nguyên Ngọc hoàn toàn không phải là con người khắc khổ. Tôi

bia bọt với anh nhiều lần. Anh sống rất thoải mái. Có chất nghệ sĩ. Tô Hoài từng

đi một chuyến công tác với Nguyên Ngọc lên Tây Bắc. Ông nhận xét, Nguyên

Ngọc về tình cảm thì mềm, chỉ lý luận và cách ứng xử thì cứng. Nguyên Ngọc

là đối tượng hấp dẫn của một cô gái Mèo xinh đẹp tên là Vàng Thị Mỹ ở Đồng

Văn, Mèo Vạc, Hà Giang. Cô làm phiên dịch cho bộ đội. Tô Hoài nói, ba mươi

năm gặp lại Vàng Thị Mỹ, thấy vẫn đẹp. Cô ghi vào cuốn sổ tay của mình:

“Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng ơi! (Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng là tên một

tác phẩm của Nguyên Ngọc ). Chắc nhớ và yêu Nguyên Ngọc lắm mới viết như

thế. Và Nguyên Ngọc chắc cũng yêu cô. Vì anh tả Thào Mỵ đẹp tuyệt vời, đẹp

như tiên “Khi im lặng trầm uất như một ngọn núi Mèo cô độc, khi lẳng lơ như

những bông hoa thuốc phiện quyến rũ, khi phấp phới như ngọn gió ào ạt trên

đỉnh Săm Pun...” Văn như thế thì cũng đa tình đáo để. Cho nên, Nguyên Ngọc

tư tưởng rất cấp tiến, thích những lý thuyết mới mẻ, cởi mở. Rất ghét giáo điều.

Yêu cầu dân chủ và đổi mới thật sự. Cho nên Nguyên Ngọc tán thưởng Nỗi

buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, Chiều chiều, Ba

người khác của Tô Hoài...

Nguyên Ngọc và Nguyễn Khải là hai tính cách đối lập. Một đằng rất lý

tưởng, rất lãng mạn. Một đằng thiết thực và tỉnh táo. Một đằng dũng cảm, một

đằng thì nhát. Nhưng Nguyên Ngọc thích Nguyễn Khải vì Nguyễn Khải chân

thật.

Nguyên Ngọc và Tô Hoài cũng là hai cực đối nghịch. Một đằng quan

niệm con người là con người, tầm thường vậy thôi. Một đằng quan niệm con

người là thiên thần, là thơ, là lý tưởng. Nhưng họ gặp nhau ở tư tưởng câp tiến.

Nguyên Ngọc nói với tôi nhiều lần: “Chế độ này thế nào cũng sụp đổ.

Nhưng không biết nó sẽ sụp đổ theo kịch bản nào”.

* *

*

Hiện nay Nguyên Ngọc đang giúp Quảng nam xây dựng một trường

Đại học dân lập ở Hội An. Tôi hỏi anh, xây dựng trường theo kiểu gì? Anh nói

vắn tắt: “Theo kiểu Mỹ”. Nguyễn Khải cho là ảo tưởng, là phiêu lưu. Nguyễn

Văn Hạnh thì nói: “Nguyên Ngọc có thể gọi là một nhà tư tưởng, có thể đặt tên

phố như một danh nhân. Nhưng quản lý một trường học thì không được.”

Nguyên Ngọc mời anh làm hiệu trưởng. Anh từ chối.

Nguyên Ngọc trước sau vẫn là một con người lãng mạn.



Chương XXI: Hoàng Ngọc Hiến


Hoàng Ngọc Hiến là một trong hai người bạn đồng tuế thân nhất của

tôi (người thứ hai là Phạm Luận, cán bộ giảng dạy ở Đại học Việt Bắc). Có thể

gọi là tri âm tri kỉ, hiểu nhau từ cái hay đến cái dở, chỗ mạnh và chỗ yếu, hoàn

toàn tin cậy nhau, luôn quan tâm bảo vệ nhau.

Tôi với Hoàng Ngọc Hiến như có duyên trời xe kết vậy.

Anh ở tận Nghệ Tĩnh, tôi ở Việt Bắc. Thế mà tình cờ gặp nhau. Tôi

cùng gia đình tản cư từ Bắc Ninh lên Thái Nguyên hồi kháng chiến chống Pháp,

anh thì chạy cải cách ruộng đất cũng vọt lên đấy. Anh có một người học trò tên

là Lới, trong đoàn uỷ cải cách ruộng đất, báo cho biết phải chạy ngay lên Việt

Bắc vì lý lịch xấu, có thể nguy. Và anh ta lấy quyền đoàn uỷ viên giải quyết

ngay cho Hiến (Trong cải cách, bố Hoàng Ngọc Hiến bị quy địa chủ và bị tù).

Lên Thái Nguyên, anh dạy văn ở trường Lương Ngọc Quyến. Còn tôi lúc đó là

cán bộ Sở giáo dục Việt Bắc thường đến Lương Ngọc Quyến là trường trọng

điểm của Sở, để kiểm tra, theo dõi về chuyên môn.

Dạy ở Lương Ngọc Quyến ít lâu, anh được gọi về trường Đại học Hà

Nội. Thầy Nguyễn lương Ngọc cho Hiến có hiểu biết về triết học, bố trí làm trợ

lý cho Trần ĐứcThảo. TRần Đức Thảo thấy Hiến là đảng viên, không nhận. Vì

thế Hiến phải chuyển sang làm trợ lý cho Hoàng Xuân Nhị dạy văn học Nga Xô

viết.

Từ Đại học Sư phạm Hà Nội, Hiến được cử sang Liên Xô làm nghiên

cứu sinh. Tôi thì chả đi đâu cả, chỉ quanh quẩn ở trong nước. Nhưng rồi tình cờ

tôi và Hiến lại gặp nhau ở Đại học Sư phạm Vinh. Tôi thì bị điều từ Hà Nội vào.

Hiến lẽ ra được ở Hà Nội, vì Đại học Hà Nội cử đi học, nay đỗ phó Tiến sĩ trở

về, phải được ở Hà Nội. Nhưng Đỗ Đức Uyên bí thư đảng uỷ và Hoàng Dung bí

thư liên chi cho Hiến mắc chủ nghĩa xét lại Khrútxốp, không nhận lại nữa, tống

anh vào Vinh.

Từ Vinh, tôi được chuyển ra Hà Nội trước. Hiến ra sau. Nhưng rồi lại

gặp nhau ở trường Viết văn Nguyễn Du. Anh phụ trách trường này, còn tôi

được mời đến dạy.

Rồi nhờ có Phan Ngọc Thu, một học trò cũ của tôi, lúc đầu ở Đại học

Sư phạm Huế, sau ở Đại học Đà Nẵng, tổ chức đào tạo giáo viên cấp II lên trình

độ đại học và bồi dưỡng giáo viên chuyên văn, thường mời tôi và Hiến vào

giúp. Thế là lại gặp nhau luôn, khi ở Huế, khi ở Đà Nẵng, khi ở các tỉnh đồng

bằng sông Cửu Long. Tôi thích đi, Hiến cũng thế. Tôi là thằng ham chơi, vui

đâu chầu đấy, Hiến cũng vậy, cứ ới là đi, để tán chuyện, để đánh chén. Ngoài ra

tôi hay mời anh đến làm phản biện cho nghiên cứu sinh của mình. Mời là anh

đến ngay...

Tuy nhiên tôi và Hiến có những chỗ không giống nhau. Anh dạy văn

học nước ngoài, thích lý luận, thiên về tư duy trừu tượng, say mê triết học Đông

Tây. Tôi chỉ dạy văn học Việt Nam và thiên về nghiên cứu văn học sử và phê

bình văn học.

Hiến rất thích nhận xét khái quát, đúc thành những mệnh đề chắc nịch,

tuy có phần cực đoan, chẳng hạn:

- Đặc điểm người Nghệ Tĩnh: “Cái gì cũng biết, trừ hạnh phúc.”

- Phân loại cán bộ giảng dạy đại học: “Có hai loại động vật và thực

vật. Loại động vật, suốt ngày lăng xăng, chạy từ đề tài này sang đề tài khác,

không nghiên cứu được cái gì nên hồn, dù thông minh, cũng chỉ có những ý kiến

loe loé thế thôi, chẳng làm nên sự nghiệp gì. Loại thực vật, ngồi yên kiên trì suy

nghĩ, như cái cây cắm rễ xuống đất thật sâu, có thế mới làm khoa học được.”

- ý kiến sinh viên nhận xét thầy: “Nói chung chê thì đúng, khen thì

thường sai...”

Hiến cái gì cũng muốn giải thích, cũng tìm quy luật. Thí dụ:

Anh nói:

“ Lê Hoài Nam nếu cao hơn 5 phân, số phận khác hẳn”. Lê Hoài Nam

là chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, sau là bí thư đảng uỷ trường và

Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Quy Nhơn. Anh người thấp lùn, hơi dị dạng.

Hiến cho rằng vì đặc điểm cơ thể như vậy nên Lê Hoài Nam rất ngại xuất hiện ở

chỗ đông người, nơi thành phố lớn, nên cứ lùi dần, lùi dần vào nơi hẻo lánh:

Vinh, rồi Quy Nhơn.

Có lần tôi nhận xét, các danh nhân thế giới thường là người ở các tỉnh

nhỏ, nhưng về Thủ đô thì thành danh nhân. Danh nhân người gốc ở Thủ đô rất

ít. Như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Xuân

Hương, Hồ Chí Minh, như Marx, Tolstoi, Lomonosov, Napoléon... Hiến giải

thích luôn: “Vì ở Thủ đô lắm cái hấp dẫn làm cho con người ở đây phung phí

hết tinh lực, Người các địa phương tinh lực không mất, về Thủ đô được phát

huy lên”.

Vì sao Hồ Chí minh chết đúng vào ngày Tuyên ngôn độc lập 2.9? Hiến

giải thích : “Vì ông cố tình chết vào ngày ấy. Ông Hồ là đáo để lắm. Chỉ cần

dứt đứt các giây dợ ở ống thở ôxy là chết chứ gì”.

Hiến thường có những nhận xét rất gọn và rất ác về người này người

khác trong giới đại học. Hồi ở Đại học Sư phạm Vinh, tôi với Hiến thường đạp

xe đi về cùng đường với nhau (Hà Nội – Vinh hay Hà Nội – Thanh Hoá) dọc

đường, thường “luận anh hùng” trong thiên hạ. Thường tôi hỏi, Hiến trả lời. Thí

dụ:

- NĐN (một giáo sư tiến sĩ được đánh giá rất cao ở Đại học Sư phạm

Hà Nội) chỉ là một giáo viên cấp III giỏi.

- Không nên đánh giá ĐVK (giáo sư tiến sĩ của Đại học tổng hợp Hà

Nội) là giỏi hay dốt. Anh ta là người không có trí khôn.

- HL (cán bộ dạy sử của Đại học Sư phạm Vinh) kết tinh mọi cặn bã

của dân Nghệ Tĩnh.

- Có một giáo sư văn học, trước khi dự lớp, anh đánh giá là một con sư

tử (về chuyên môn, khoa học), khi dự lớp về, anh nói: chỉ là một giáo viên phổ

thông.

- Một vị giáo sư văn học khác, anh cho chẳng hiểu văn là gì cả.

- Anh nhận xét ĐT, một cây bút phê bình khá tài hoa ở hải ngoại, chỉ là

một ông chánh tổng Annam ở Paris.

- PTL (giáo sư trường Đại học Sư phạm Hà Nội). Hiến nói: “Một điều

nhục nhã của mình là đồng hương với PTL. Thậm chí chỉ quen biết PTL thôi

cũng đã là một sai lầm, một sai lầm không thể sửa chữa được”.

Hiến có những nhận xét rất cảm tính, nghĩa là chưa có căn cứ đầy đủ.

Nhưng anh rất tin ở trực cảm của mình.

Trường Đại học Sư phạm Vinh có chủ trương cán bộ giảng dạy phải

theo sát thực tế phổ thông. Ai đã đi hướng dẫn thực tập sư phạm thì không nói

làm gì, những những người không hướng dẫn thực tập cũng phải về ở một đoàn

thực tập nào đấy khoảng một tuần lễ, gọi là tham quan thực tập. Hiến cũng phải

về một đoàn, anh chọn một đoàn ở gần chỗ khoa Văn sơ tán, do LBH phụ trách.

Đêm ấy, LBH và Hiến cùng ngủ trong một căn phòng kê hai cái giường song

song. LBH hỏi Hiến một cách trịnh trọng: “Anh là người sâu sắc, từ ngày anh

về trường này, anh nhận xét tôi là người thế nào?”. Hiến trả lời luôn: “Cậu là

người thiếu nhân cách”. LBH ắng đi một lúc vì nhận xét quá bất ngờ của Hiến.

Nhưng rồi gặng hỏi Hiến: “Anh cho dẫn chứng?”. Hiến bí không tìm ra dẫn

chứng. Mãi sau cũng cố đưa ra một ví dụ: “Chẳng hạn, cậu không biết tiếng

Pháp mà cứ làm như biết”.

Trong quan hệ hàng ngày với tập thể cán bộ, sinh viên, Hiến rất hồn

nhiên, chân thật, dễ tính, nên được anh em mến. Nhưng hình như anh có máu

phiến loạn, thích gây sự với lãnh đạo.

Hồi những năm 60 của thế kỷ trước, tôi nhớ Phạm Văn Đồng có viết

một bài về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Bài ấy, người khác có thể

coi là thường, không hay hoặc chưa đúng chỗ này chỗ khác. Nhưng Hoàng ngọc

Hiến thì phải nói: “Phạm Văn Đồng viết bài ấy là thiếu văn hoá”.

ở Đại học Sư phạm Vinh, Hiến bị lãnh đạo quy tội thiếu quan điểm

giáo dục, vì không chịu đi thực tế, luôn luôn bỏ ra Hà Nội, lẩn tránh việc hướng

dẫn sinh viên thực tập sư phạm. Hôm ấy, chi bộ họp kiểm thảo Hiến về khuyết

điểm này, có Lê Hoài Nam là đảng uỷ viên của trường xuống dự. Hiến nói: “

Tôi cho rằng không đi thực tế mà nắm được thực tế mới giỏi. Tôi kém, nên còn

phải đi thực tế một lần. Anh Lê Hoài Nam không đi lần nào mà nắm được thực

tế mới giỏi chứ!”

Những câu nói như thế, tôi chắc Hiến đều có nghiền ngẫm cẩn thận.

Phóng ra những đòn như thế, Hiến bao giờ cũng chuẩn bị rất chu đáo. Tôi biết

rõ điều này. Vì cùng được mời đi nói chuyện với anh nhiều lần, tôi thấy anh bao

giờ cũng chuẩn bị bài bản rất cẩn thận.

Trở lại tính thích gây sự của Hiến đối với lãnh đạo. Như đã nói, Hiến ít

ở khoa (Đại học sư phạm Vinh), hay ra Hà Nội. Có lần anh vắng mặt đúng vào

dịp công đoàn khoa văn xếp loại cán bộ theo ba mức A, B, C. Tiêu chuẩn cũng

nhẹ nhàng thôi. Loại A chỉ là không có khuyết điểm gì đáng kể thôi. Hầu như cả

khoa không có trường hợp nào phải xếp loại B cả. Tổ công đoàn, được sự chỉ

đạo của chi bộ Đảng, lập kế hoạch: khi Hiến ở Hà Nội vào thì họp xếp loại. Chủ

trương của Chi bộ là phải, nhân cuộc xếp loại này, nghiêm khắc kiểm điểm

Hiến về tư tưởng. Trình tự cuộc xếp loại được dự kiến như sau: người được xếp

loại tự xếp loại trước. Anh em trong tổ có ý kiến sau. Người ta đoán chắc Hiến

sẽ tự nhận loại A. Lúc đó anh tổ trưởng sẽ điều khiển tổ viên phân tích thiếu sót

của Hiến, đại khái như sau: Anh Hiến chỉ đáng xếp loại B thôi, vì khuyết điểm

này, khuyết điểm khác... Nhưng gần đây anh đã tỏ ra có tiến bộ, thí dụ như gánh

nước uống cho anh em tập tự vệ, vậy ta chiếu cố xếp lên loại A...

Nhưng, bất ngờ, Hiến chỉ tự xếp loại B. Bài bản đã dự kiến thế là bị

phá sản. Tuy thế, tổ trưởng là tay khá thông minh, anh ta vẫn tìm được cách

thực hiện phương án cũ: “Đúng, anh Hiến tự xếp mình loại B là đúng (Phân tích

khuyết điểm của Hiến một chập). Nhưng vì gần đây có một vài tiến bộ nên ta

chiếu cố xếp lên loại A”. Hiến nhất định không nghe, chỉ nhận loại B thôi. Anh

nói: “Đối với tôi A hay B cũng thế thôi. Và tôi chẳng tiến bộ gì cả. Còn nếu các

anh muốn tìm chỗ tiến bộ thật sự của tôi thì tôi xin mách: tôi rất tiến bộ về

chuyên môn, soạn bài rất kỹ”. Mà đúng như vậy thật. Tôi đã dự giờ Hiến dạy

một lần. Anh soạn bài rất nghiêm túc. Anh muốn ý tưởng của mình phải được

trình bầy thật sáng rõ, rành mạch, gây ấn tượng và có sức thuyết phục.

Hoàng Ngọc Hiến có một phản ứng khá dữ dội, chung quanh vụ “hiện

thực phải đạo” (Hoàng Ngọc Hiến viết bài Về một đặc điểm của văn học nghệ

thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua đăng Văn nghệ số 23 (9.6.1979) có luận

điểm nổi tiếng “hiện thực phải đạo”). Hồi ấy anh còn ở Triệu Việt Vương. Tôi

đến anh một buổi chiều. Anh kể một câu chuyện vừa xẩy ra với anh: sau bài

“hiện thực phải đạo”, anh bị đánh rất mạnh. Trên tạp chí cộng sản, Hà Xuân

Trường có bài đả Hiến. Hiến viết bài tranh luận lại. Tạp chí cộng sản không

đăng, cho người đến mời anh lại toà soạn để nói chuyện. Tay phái viên đến mời

anh, nói xong, lấy cái điếu cầy định làm một hơi. Hiến quát ngay: “Thôi, không

hút. Đi ngay, không hút sách gì cả!”. Đến toà soạn tạp chí, mấy biên tập viên đã

chờ sẵn: “Nào mời anh lên gác. Chuyện văn chương phải nói nơi kín đáo”.

Hiến lại bác lại ngay: “Chuyện văn chương không việc gì phải kín đáo!”.

Hiến giải thích với tôi: “ấy đối với bọn này cứ phải tấn công như thế,

tấn công ngay từ thằng đến mời”.

Ban biên tập tạp chí Cộng sản giải thích với Hiến: “Hiện nay bọn Tàu

đang gây sự ở biên giới. Tạp chí phải dành giấy để đăng bài phê phán chủ

nghĩa bá quyền Bắc Kinh, không đăng bài của anh được”. Hiến phản ứng ngay:

“Tại sao ta thừa giấy để đánh bọn cường bạo nước ngoài, lại thiếu giấy để

đánh bọn cường bạo trong nước!”.

Năm 1980, người ta tổ chức một cuộc hội nghị khoa học đặt ở Viện

bảo tàng cách mạng xế xế Nhà hát lớn Hà Nội. Hội nghị toàn quốc, rất đông.

Tôi có gặp một số bạn quen ở Vinh, Huế ra họp.

Hoàng Ngọc Hiến hôm ấy nói buông mà rất rành mạch, hấp dẫn. anh

nhắc lại cái câu đã nói ở trụ sở tạp chí cộng sản: “Tại sao ta thừa giấy để đánh

bọn cường bạo nước ngoài, mà lại thiếu giấy để đánh bọn cường bạo trong

nước!”.

Đến giờ nghỉ. Mọi người, hoặc tản ra dạo chơi ngoài vườn hoa, hoặc

ngồi trò chuyện với nhau trong hội trường. Tôi cũng ngồi lại trong hội trường

nói chuyện với mấy anh bạn cũ ở Vinh, ở Huế. Hiến cũng ở lại hội trường,

nhưng ngồi một mình cách vài hàng ghế, trước mặt chúng tôi. Hà Xuân Trường

lững thững từ hàng ghế đầu đi xuống chỗ Hiến, vỗ vai anh thân mật. Hiến gạt

phắt tay Trường ra: “Tôi không phải hạng người cho anh vỗ vai nhé!”. Trông

Hiến lúc ấy rất dữ. Hà Xuân Trường sững người và hơi ngượng. Anh phân bua

với chúng tôi: “Đấy, các anh xem, anh Hiến anh ấy như thế đấy!”.

Buổi trưa hôm ấy, Hiến rủ tôi về nhà ăn cơm. Trong bữa cơm, Hiến hỏi

tôi: “Sao, cậu thấy mình nói có được không?”. Tôi khen: “Khá lắm!”. Chị Tố

Nga, vợ Hiến, mách luôn: “Lẩm bẩm suốt đêm làm gì mà không khá!”.

Thì ra Hiến không phải chỉ chuẩn bị ý, mà còn luyện nói nữa.

Hiến thế mà cũng là một tay đấu khẩu khá nhanh trí và đáo để.

Cũng vào khoảng trước sau năm 1980, khoa Văn Đại học Sư phạm Hà

Nội có tổ chức một cuộc hội thảo khoa học, đề tài: giáo dục tư tưởng qua giảng

dạy văn học. Hiến lúc đó vẫn còn ở Đại học Sư phạm Vinh. Anh ra dự hội nghị.

Không biết bản báo cáo viết của anh gửi ra như thế nào, nhưng anh trình bầy

miệng thì khá gai góc, và hình như anh lại cố tình diễn đạt cho thật ấn tượng về

cái ý rất gai góc của mình. Anh cứ thủng thẳng nói đi nói lại: “Những gì chi bộ

Đảng, đoàn thanh niên, đài phát thanh, báo Đảng đã nói hay viết, thì trong lớp

ta không nói. Ta chỉ nói những điều chi bộ Đảng, đoàn thanh niên, đài phát

thanh, báo Đảng không nói, không viết”.

ý kiến của Hoàng Ngọc Hiến đã gây chấn động hội nghị. Những người

lãnh đạo hội nghị rất lo ngại (lãnh đạo hội nghị là Nguyễn Văn Hạnh quyền chủ

nhiệm khoa và Trần Thanh Đạm phó chủ nhiệm khoa). Đạm thấy nhất thiết phải

uốn nắn lại. Anh động viên Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Hoàng lúc đó là đảng

viên dự bị hay cảm tình đảng gì đó lên phê phán Hiến. Tôi không nhớ ý kiến

của cô Hoàng thế nào, chỉ nhớ một câu mỉa mai của Châu: “Đứa trẻ con ngồi

trên vai bố, cứ tưởng mình cao hơn bố”.

Hoàng Ngọc Hiến giơ tay xin phát biểu. Anh cố tình tự khoe: “Tôi đã

góp phần làm cho hội nghị thành công. Vì một hội nghị khoa học có tranh luận

học thuật thì mới là một hội nghị có kết quả. Tôi đã gây được cuộc tranh luận

cho hội nghị. Ngoài ra tôi rất sướng vì đã được ngồi trên vai anh Đỗ Hữu

Châu”.

Sau hội nghị này, Trần Thanh Đạm gửi giấy cho chi bộ Đảng của khoa

Văn Đại học Sư phạm Vinh phản ánh về sự “lệch lạc tư tưởng” của Hiến.

ít ngày sau, tôi đến chơi Hiến – Anh vẫn ở Triệu Việt Vương. Một căn

phòng rất hẹp, chỉ độ 16 mét vuông. Kê được hai cái ghế salon và một cái bàn

nước nhỏ. Tôi và Hiến ngồi ở salon. Chị Tố Nga, vợ Hiến giải chiếu ngồi trên

nền nhà. Chị cứ chỉ tay vào mặt Hiến mà nói đi nói lại xa xả: “Tôi không thấy

có ai ngu như anh Hiến!”. Nói mãi chán, chị bỏ ra đi. Hiến thủng thẳng nói với

tôi: “Hắn nói thế mà đúng. Như ta vẫn nói đế quốc Mỹ là ngu ấy mà!”. Té ra,

anh lại ngẫm nghĩ về lời nói của vợ, như một đối tượng nghiên cứu.

Chị Tố Nga, vợ Hiến, là một người cũng khá đặc biệt: chuyên môn mạt

sát chồng trước mặt khách khứa bạn bè, thậm chí trước cả học trò của chồng.

Nhưng đám học trò của anh đã có kinh nghiệm: bà ấy nói thầy Hiến thì được,

chứ người khác tưởng bở, cũng phụ hoạ theo, nói theo, là chết với bà ấy. Còn

Hoàng Ngọc Hiến thì coi thường, bỏ ngoài tai, xem như nói ai đó, chẳng dính

dáng gì đến mình.

Hoàng Ngọc Hiến, tư duy khoa học thì tỏ ra sâu sắc, nhưng trong đời

sống thực tế, nhiều khi rất nhẹ dạ, cả tin.

Vào khoảng 1987, Hội văn nghệ Quảng Nam- Đà Nẵng có mời tôi và

Hiến vào nói chuyện với giới văn nghệ trong ấy. Chúng tôi ở với nhau độ một

tuần lễ, sau đó, Hiến vào Sài Gòn, tôi ra Hà Nội.

ít ngày sau, tôi đang ngồi ở nhà (tại Đồng Xa) thì thấy Hiến đạp xe tới.

Lúc đó mới độ 8 giờ sáng. Tôi hỏi ra bao giờ. Anh nói ra sáng nay, tàu 7 giờ

sáng tới Hà Nội. Tôi ngạc nhiên: vừa về Hà Nội đã vội đến tôi làm gì! Hoá ra

anh vừa tham gia một đảng gọi là đảng “Nhân dân hành động” và ra Hà Nội để

phát triển Đảng. Người đầu tiên anh định kết nạp là tôi. Anh nói, không sợ gì

cả. Tay thủ lĩnh là một tay tiến sỹ ở Mỹ về. Rất trí thức. Đảng này đã thống nhất

với cộng sản chuẩn bị ra đa đảng. Trong đảng này có một uỷ viên bộ chính trị

và một thiếu tá công an cộng sản. Đảng phát triển chủ yếu vào trí thức.

Anh lại hỏi, thằng Thanh nhà ông vào Sài Gòn đã có việc làm và nhà

cửa gì chưa, để anh lo giải quyết cho.

Tôi không tin, từ chối: “Cậu định làm chính trị à? Không sợ công an

à?”

Hiến có vẻ xem thường, cho tôi là thằng nhát.

ít lâu sau tôi được biết đảng này phát triển mạnh ở vùng Vĩnh Long,

vừa bị bắt một loạt. Tôi vào Cần Thơ, Dạ Ngân bảo thế.

Một thời gian sau, tôi gặp lại Hiến ở trụ sở văn nghệ.

Tôi hỏi Hiến: “Biết gì chưa?”

Hiến: “Biết rồi! Biết rồi!”

Tôi lại hỏi: “Có sao không?”

Hiến: “Không sao, không sao – Nhưng này, đừng nói với ai nhé!”

Dương Thu Hương khi biết chuyện này, nói với tôi: “Ông Hiến mà là

đàn bà thì chửa hoang hàng tỉ lần”.

Tôi cho rằng Hoàng Ngọc Hiến có số “quý nhân phù trợ”. Nghĩa là

luôn gặp may. Tôi ví anh với nhân vật Pie Bêdukhốp trong Chiến tranh và hoà

bình của L.Tolstoi. Người to lớn, ra trận cứ trương ngực ra mà đi giữa chiến

trường, nhưng tên đạn cứ tránh không dính. Đấu súng tuy không biết bắn súng,

mà lại thắng một tay thiện xạ... Hiến cũng thế. Ăn nói táo tợn với người có chức

có quyền, hành động nhiều khi dại dột. Nhưng chẳng sao cả. Vẫn đi Pháp, đi

Mỹ đều đều. Anh kể tôi nghe cái vụ “phải đạo” của anh hồi 1980, anh có một cú

thoát hiểm rất ngoạn mục. Người ta tổ chức hẳn một cuộc hội nghị để đánh anh.

Lê Đức Thọ trực tiếp chỉ đạo. Loại có vấn đề như tôi, không được mời. Hơn 50

người được mời có chọn lọc để nhằm phê phán Hiến. Hiến là người thứ 50

(avant dernier) được phép phát biểu. Người cuối cùng là Chế Lan Viên (thứ 51)

. Người ta bố trí một tay sắc sảo như thế để có thể đập tan ý kiến của Hiến và

hội nghị kết thúc luôn.

Giờ nghỉ, Lê Đức Thọ trò chuyện với Hiến mới biết Hiến là người

đồng hương với mình. Cùng quê Đức Thọ, Hà Tĩnh (Lê Đức Thọ ở Nam Định,

nhưng quê gốc ở Đức Thọ, Hà Tĩnh, anh em Lê Đức Thọ đều lấy biệt danh có

chữ Đức hoặc chữ Thọ: Đinh Đức Thiện, Mai Chí Thọ, Lê Đức Thọ)

Thế là Hiến gặp may. Vì tình đồng hương, Lê Đức Thọ đã cứu anh. Ai

đó trong hội nghị nói Hiến chịu ảnh hưởng tư tưởng mỹ học của Kant. Thọ

dõng dạc khẳng định trước hội nghị: “Hoàng Ngọc Hiến chẳng kăng kiếc gì hết,

Hoàng Ngọc Hiến là Mác Lênin”.

Tình thế thành ra đảo ngược. Chế Lan Viên chót đánh Hiến, thấy thế,

đâm hoảng, bèn lảng qua chỗ Hiến đang ngồi với Lê Đức Thọ, nói khẽ với anh:

“Lúc nãy tôi có nói điều gì quá, anh bỏ qua đi cho nhé!”.

Sau này, Chế Lan Viên còn nhờ tôi nhắn lại với Hiến hai lần như thế.

Lại còn nói phách “Tôi có trọng anh Hiến thì tôi mới tranh luận với anh ấy

chứ!”.

Có lẽ vì hay gặp may mà Hiến luôn luôn lạc quan.

Lại vẫn cái vụ “hiện thực phải đạo”. Tôi nhớ giáp Tết âm lịch năm ấy,

Khái Vinh có mời tôi, Hiến và Xuân Diệu ăn thịt chó ở Hàng Lược. Lúc đó, dân

Nhật Tân đã lục tục đem đào tới bán. Khái Vinh nói, anh Hiến là người có tài

mà khổ, bị đánh dữ quá!. Xuân Diệu nói: “Con người ta có trải qua đau khổ thì

mới nên người”. Nhưng Hiến lại phát biểu một cách đắc ý: “Những điều tôi

được nhiều hơn những điều tôi mất”. Và anh dẫn chứng: “Đứa con gái tôi vào

Sài Gòn, giáp Tết bị mắc kẹt ở đấy không ra được vì giao thông khó khăn. Có

một anh phi công cho lên ngồi ghé phụ bay ra không mất tiền, vì biết là con

ông “hiện thực phải đạo”. Cũng con bé ấy học đến lớp cuối cấp, sắp thi đại

học, rất cần có người luyện cho môn toán. Rất may, có một cô giáo tự nguyện

đến luyện giúp miễn phí vì biết là con ông “hiện thực phải đạo”. Đó là chưa kể

nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đến tận nhà Hiến tặng hoa. Và bài “hiện thực phải

đạo” đã làm cho anh nổi tiếng một thời và được nể trọng trong giới trí thức cấp

tiến.

Đúng là Hoàng Ngọc Hiến có quý nhân phù trợ thật.

Hồi Hiến sang Mỹ, có một bọn Việt kiều chống cộng quá khích định

hành hung anh. May sao lại có một thượng nghị sĩ Mỹ phái một vệ sĩ của ông ta

tới bảo vệ – Mới đây Hiến kể với tôi như vậy.

* *

*

Tôi rất tin cậy Hoàng Ngọc Hiến. Nên chịu ảnh hưởng Hiến về nhiều

mặt, đặc biệt là trong việc dùng thuốc. Thuốc huyết áp, thuốc bổ, thuốc loãng

xương... Tất nhiên tôi có chịu ảnh hưởng anh cả về tư duy khoa học. Hiến có tài

liệu nào anh cho là hay hoặc nghĩ ra điều gì có vẻ tâm đắc, đều trao đổi với tôi.

274

Trò chuyện với Hiến bao giờ cũng có ích, dù ít dù nhiều, đối với cái nghĩ của

mình. “Dữ quân nhất dạ thoại, thắng độc thập niên thư”. Người xưa nói thế,

vận dụng vào trường hợp Hoàng Ngọc Hiến e có hơi quá. Nhưng quả là trò

chuyện với Hiến bao giờ cũng thu lượm được một cái gì đó có ích. Hiến rất ghét

giáo điều và nghĩ cái gì thì nghĩ đến nơi đến chốn. Tôi cho rằng, mấy phát biểu

sau đây của Hiến là những ý kiến nghe được:

Nghiên cứu khoa học, quan trọng nhất là nghĩ bằng cái đầu của mình

và viết bằng lời văn của mình. Đọc người khác rất cần, song phải thấm thế nào

đó để trở thành của mình, để khi nghĩ là nghĩ bằng cái đầu của mình và viết

bằng lời văn của mình.

Quán tính của con người là thường quy những điều chưa biết vào cái

sơ đồ có sẵn, sơ đồ biết rồi. Do lười nghĩ. Quán tính rất mạnh, lay chuyển được

quán tính, được cách nghĩ là khoa học.

Khoa học trước hết là đặt vấn đề đích đáng. Tìm ra cái mới hoàn toàn

rất khó. Thường chỉ chỉnh lại một tý. Vấn đề đặt ra đúng, nhưng chưa đúng

hẳn. Chỉnh lại một tý như chỉnh ti vi cho hình nét hơn, âm rõ hơn.

Thí dụ, nói Đam Săn anh hùng dũng cảm là đúng. Nhưng thực ra tính

cách Đam Săn phong phú hơn: hồn nhiên, trung thực, lãng mạn, ngỗ nghịch...

đặc biệt là một cá tính tự do.

Nói Số đỏ đả kích những ông chủ bà chủ của xã hội cũ là đúng, nhưng

đâu chỉ có thế. Số đỏ là cả một xã hội hài hước gồm đủ hạng người, ai cũng

buồn cười, một xã hội ngớ ngẩn, nhí nhố, lố bịch... , kể cả bình dân.

Hiến khẳng định vai trò quan trọng của cảm hứng và trực giác. Tôi

cho rất đúng. Anh nói, cảm hứng lay động toàn bộ năng lực tinh thần của người

nghiên cứu. Trong giây phút ấy, con người, cùng một lúc, có vô số liên tưởng,

kể cả liên tưởng vô thức. Do đó rất sáng suốt. Nhưng phải băn khoăn nhức nhối

về nhân sinh, về văn học mới có cảm hứng dẫn tới tìm tòi phát hiện. Cảm hứng

làm cho câu, chữ có hồn. Cảm hứng phát huy trực giác, khiến cảm nhận được

cái mới. Mọi tìm tòi đều bắt đầu bằng trực giác. Sau đó mới dùng suy lý lôgic

chỉnh lại (vì thế Hiến rất phục những phán đoán trực giác của ai đó, chỉ ra chính

xác bản chất một đối tượng nào đấy, không cần lý lẽ chứng minh gì hết).

Phân tích tác phẩm gay nhất là đọc hết cuốn sách mà chẳng thấy có ý

gì cả. ý là một ý nghĩa mới đích đáng trả lời một câu hỏi ta đang tìm tòi, đang

suy nghĩ để giải đáp. Tác phẩm chẳng giải đáp được một câu hỏi nào cần thiết,

là vô nghĩa.

Phân tích tác phẩm là phân tích chi tiết. Phải chọn chi tiét có vấn đề.

Phân tích một chi tiết mà mở ra cả một vấn đề về đạo lý, về triết lý. Phân tích

một chi tiết như thế có sức thuyết phục và sang trọng hơn là phân tích tràn lan.

Cuối cùng phải tìm từ, tìm chữ đích đáng để diễn đạt. Một bài viết hay

là có được một hai từ đích đáng kết tinh được cái hiểu, cái ý của mình. Đó là

cái thần của bài viết.

Hiến nghĩ thế nên rất chăm chỉ học chữ, học từ.

Có khi học ở dân gian. Thí dụ, anh rất khoái vì học được chữ “bõ hờn”

của một ông người Mường tên là Cò Lửa, chủ nhà chúng tôi ở nhờ hồi kháng

chiến chống Mỹ tại Thạch Thành, Thanh Hoá. Phần nhiều học ở sách vở. Thí dụ

chữ “hương nguyện”, “phường hương nguyện” anh học được của Mạnh Tử khi

nghiên cứu triết học cổ phương Đông. Có lẽ tương đương với chữ philistin

chăng?

Có những chữ thông thường nhưng anh đem đến cho nó một nghĩa mới

nào đấy. Như “kể lại nội dung” và “viết nội dung”. (Bài “Kể lại nội dung và

viết nội dung” (Văn học gần ...và xa. NXB giáo dục 2003). Hay như chữ “trí

thức bình dân” trong bài anh giới thiệu Tuyển tập Nguyễn đăng Mạnh (NXB

Giáo dục 2006)... Có thể gọi trường hợp này là sáng tạo từ mới.

Gần đây Hoàng Ngọc Hiến say mê đọc Nho, Phật, Đạo qua sách của

Francois Fulien. Anh lấy làm khoái chí học được ở F.Julien, sự phân biệt giữa

tư duy Đông và Tây. Tây là chân lý (Vérité). Đông là dịch lý (transformation).

Một đằng cứ cãi nhau về chân lý, về đúng hay sai. Một đằng chủ trương “cùng”

hay “thông”. Đúng sai không quan trọng, quan trọng là không bế tắc, là thông,

là được việc, là có hiệu quả thực tế...

* *

*

Như đã nói, Hoàng Ngọc Hiến sống rất hồn nhiên, tự nhiên.

Hồi chống Mỹ, sơ tán ở Thạch Thành, Thanh Hoá, không mấy khi có

được miếng thịt mà ăn. Hôm ấy, anh em kiếm được một đĩa thịt. Hiến vừa ăn,

vừa xụt xịt mũi, vừa gật gù: “Ăn thịt ngon thật!”.

Tối tối, anh rất chịu khó cùng với tôi xách đèn đi bắt ốc sên về cải

thiện, tin rằng ba con ốc sên bằng một quả trứng vịt (Hồi ấy có kẻ phao lên như

vậy).

Hiến hay nghĩ ra những chuyện kỳ cục và buồn cười để đùa vui. Thí dụ

như chuyện phân loại cán bộ khoa văn trường Đại học Sư phạm Vinh thành ăn

cướp và ăn cắp. Hình như tư duy khoa học mãi, nghĩ mãi những điều có nghĩa

lý, người ta phải thư giãn đầu óc bằng những chuyện vô nghĩa lý.

Hiến đúng là vui đâu chầu đấy.

Có một lần Ngô Thảo nhân quen một Việt kiều về nước, mời tôi, Hiến

và Hoàng Cầm đến đánh chén ở một nhà hàng. Xe đón tôi trước, đón Hiến sau.

Trên xe, tôi gọi điện cho Hiến chuẩn bị ra ngõ để đón xe. Chị Tố Nga, vợ Hiến,

cầm máy trả lời: “Lão ấy mời đi họp thì đến chậm, nhưng mời đi ăn thì đúng

giờ lắm!”.

Một lần khác, mới năm ngoái đấy thôi, anh Vũ Văn Viết ở Việt Trì

mời chúng tôi lên dự lễ khai trương ngôi trường phổ thông dân lập do anh vừa

xây dựng. Anh cần nhiều người ở Hà Nội lên dự cho thật long trọng. Nhưng

hôm ấy nhiều người trong danh sách mời không đi được vì bận việc hay đang đi

công tác xa. Ngồi trên xe thấy vắng vẻ quá, tôi nẩy ra ý mời Hiến, tuy Hiến

chẳng quen biết gì Vũ Văn Viết cả. Và Viết cũng không mời Hiến.Tôi gọi điện.

Hiến nhận lời ngay, và lập tức đáp xe ôm đến chỗ hẹn.

Cái giống nghệ sĩ thật sự bao giờ cũng rất tự nhiên – nói như Lưu Công

Nhân, “tự nhiên như ruồi”. Họ rất khó tính trong sáng tạo, nhưng rất dễ tính

trong sinh hoạt đời thường. Khoa học cũng là một hoạt động sáng tạo, nhà khoa

học cũng là một loại nghệ sĩ, nhất là khoa học về văn chương.

Vì thế Hoàng Ngọc Hiến cũng rất hồn nhiên, tự nhiên, “tự nhiên như

ruồi”.

Hiến là dân Nghệ Tĩnh nhưng lại chê dân Nghệ “cái gì cũng biết, trừ

hạnh phúc”. Nhưng chính Hiến cũng rất Nghệ. Một tay đầy nghị lực. Tập thể

dục rất kiên trì. Nghiện cả thuốc lá, thuốc lào mà bỏ hẳn (Bỏ mà vẫn cho hút

thuốc lá là thích nhất. Anh nói “Khi nào sắp chết sẽ hút lại”). Gần 80 tuổi vẫn

cả ngày ôm cái máy vi tính để lấy thông tin và luyện ngoại ngữ. Rồi đọc sách,

dịch sách, viết sách... Tôi là dân Bắc Kỳ, kém xa Hiến về mặt này.

Hiến đích thực là dân Nghệ, đúng thế, nhưng là một tay Nghệ “cái gì

cũng biết, kể cả hạnh phúc”. Vì tôi biết chưa bao giờ anh từ chối một lạc thú

trần thế, trần tục nào.



Chương XXII: Dương Thu Hương


Tôi không nhớ rõ đã quen Dương Thu Hương từ bao giờ. Có lẽ từ hồi

chị học trường viết văn Nguyễn Du chăng (1981)?. Tôi được mời dậy trường

này mấy khoá đầu. Dương Thu Hương học khoá một cùng với Ngô Thị Kim

Cúc, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Hữu Thỉnh, Chu Lai, Nguyễn Khắc

Trường... Hôm làm lễ bế giảng, chị mặc áo dài trắng, khoác tay tôi cho Hoàng

Kim Đáng chụp. ấy là năm 1982.

Dương Thu Hương là một phụ nữ có tính cách rất dữ dội và ngang

tàng.

Tôi nhớ trong một cuộc họp rất đông văn nghệ sĩ nghe Hoàng Tùng nói

chuyện, ở câu lạc bộ báo chí xế xế Nhà hát lớn. Có lẽ nghe chán quá, nhiều

người bỏ xuống tấng trệt giải khát. Giữa chỗ đông người, Dương Thu Hương

nói lớn: “Trừ anh Hoàng Ngọc Hiến là thày tôi, anh Nguyễn Đăng Mạnh là

người tôi kính trọng, còn tất cả bọn phê bình đều là dòi bọ. Riêng Phan Cự Đệ

là con chó ngao”.

Hồi tôi còn ở nhà B10, khu tập thể Đồng Xa, chị có đến vài lần. Một lần

chị đến với đạo diễn điện ảnh Tiến. Tôi đi vắng. Khi về, thấy có một mảnh giấy

gài ở cửa, ghi mấy chữ: “Em đến anh cùng với Tiến để trao đổi về tác phẩm của

nhà văn trâu bò của chúng ta (tức cuốn Người đàn bà trên chuyến tầu tốc hành

của Nguyễn Minh Châu, chị muốn chuyển thành kịch bản phim). Rất tiếc, anh

đi vắng. Ngày mai em lại đến. Nếu anh không có nhà thì cái trường Đại học Sư

phạm của anh sẽ bị đốt”.

Hồi chị viết Bên kia bờ ảo vọng, ban đầu đưa đến nhà xuất bản Lao

động. Lúc ấy Ma Văn Kháng làm giám đốc. Kháng ngại không in, có lẽ vì sợ

đụng đến Nguyễn Đình Thi. Chị đưa cho nhà xuất bản Phụ nữ và được chấp

nhận. Trên đường đi về, tình cờ chị gặp Ma Văn Kháng và một anh nữa cũng ở

Nhà xuất bản Lao động. Họ đi xe đạp ngược chiều nhau. Dương Thu Hương gọi

hai anh kia đỗ xe lại và nói dõng dạc: “Này hai thằng mặt dày, sách của tao in

rồi!”.

Trong một cuộc hội thảo khoa học kỷ niệm 35 năm văn học cách mạng

(1980), Dương Thu Hương lên diễn đàn, chị phát biểu “Đôi điều suy nghĩ về

nhân cách của người trí thức”, phê phán nhiều văn nghệ sĩ tư cách rất hèn. Chị

cũng phàn nàn về đời sống nhà văn. Chị nói: “Viết một tác phẩm rất khó nhọc

mà nhuận bút thấp. Nếu tôi không say mê văn chương thì tôi đi làm thợ may hay

bán bánh rán còn sống tốt hơn. Cả hội nghị đói, anh nào cũng mặt xanh nanh

vàng cả. Ta có quá nhiều nhà thơ và anh hùng mà thiếu người làm kinh tế...”

Lại nhớ một lần tôi cùng Dương Thu Hương, Hoàng Ngọc Hiến,

Nguyễn Văn Hạnh được trường Đại học Sư phạmViệt Bắc mời nói chuyện.

Hôm Dương Thu Hương đăng đàn diễn thuyết, tôi có đến nghe. Chị vừa nói vừa

đi đi lại lại rất hiên ngang. Tôi nhớ loáng thoáng, mở đầu chị phê phán Hồ Chí

Minh: “Năm điều bác Hồ dạy, không nói yêu cha mẹ nên bây giờ trẻ con hư

hỏng hết.”

Lúc đó có một anh cán bộ giảng dạy đứng lên hỏi, đại khái, có phải tác

phẩm nào đấy của chị là kết quả của chuyến đi thực tế ở đâu đó không? Chị

mắng luôn anh cán bộ nọ: “Lẽ ra tôi không thèm trả lời. Việc gì tôi phải đi thực

tế! Chỉ có bọn cán bộ lãnh đạo quan liêu mới phải đi thực tế chứ! Chính tôi là

thực tế, còn phải đi đâu?”

Có một lần tôi đến Dương Thu Hương lúc chị còn ở Ngô Thì Nhậm.

Chị nói, ông Đỗ Mười có sai một anh thư ký đến mời chị đến gặp. Chị trả lời :

“Ông Đỗ Mười hay Đỗ mười một muốn gặp tôi thì đến đây mà gặp”.

Tôi và Dương Thu Hương có một cuộc dong chơi có thể gọi là một

cuộc “bát phố” Hà Nội rất thú vị. Từ Ngô Thì Nhậm, chị rủ tôi đi bộ. (Dương

Thu Hương rất cảnh giác, không đi xe đạp, không đi xe máy, sợ bị thủ tiêu).

Chúng tôi cứ đi lang thang từ phố này sang phố khác. Thỉnh thoảng chị lại chỉ

nhà này nhà nọ, hỏi tôi: “Anh có biết nhà ai đây không?”. Tôi không biết. Chị

nói: “Cớm đấy!” Theo chị, Trần Quốc Vượng, Phạm Hoàng Gia cũng là cớm.

Đi mãi, mỏi chân, chúng tôi vào ăn ở một cái quán ven đường Trần Quốc Toản

chỗ giáp Trần Bình Trọng. Ăn xong, tôi rủ Dương Thu Hương đến nhà Văn

Tâm chơi. Văn Tâm ở Phan Bội Châu, gần đấy. Hương nói: “Văn Tâm là thằng

khốn nạn, không đến!”. Tôi ngạc nhiên nói, Văn Tâm không phải thế đâu, cũng

là người tử tế. Chị nói: “Thôi được, đã là bạn của anh thì đến cũng được”.

Văn Tâm hôm ấy hơi mệt, vào thấy đang nằm trên giường. Vợ chồng

Văn Tâm thấy Dương Thu Hương đến thì cảm động lắm, vội vàng tiếp đón

niềm nở.

Nhìn thấy bức tranh Lưu Công Nhân vẽVăn Tâm treo trên tường, tôi

nói: “Tranh của Lưu Công Nhân”. Dương Thu Hương nói “Lưu Công Nhân là

thằng khốn nạn!”. Từ Đà Lạt, nó dám viết thư gọi: “Em vào đây với anh –

Thằng khốn nạn!”

Chị Cam, vợ Văn Tâm nói: “Chị uống ca cao nhé!”

Dương Thu Hương : “Không, uống cà phê”

Chị Cam: “Cà phê chúng tôi cũng có nhưng để bị hả mất rồi!”

Dương Thu Hương : “Thì ra ngoài phố uống!”.

Vợ chồng Văn Tâm phải nài khéo chị mới ở lại.

Bỗng Dương Thu Hương chỉ mặt Văn Tâm nói: “Anh là thằng khốn

nạn!”

Văn Tâm ớ người, không hiểu sao.

Dương Thu Hương giải thích: “Anh làm thầy dùi phá đám cuộc tình

của Cao Xuân Hạo và Phương Quỳnh phải không? (Lúc này Dương Thu

Hương còn chơi thân với Phương Quỳnh).

Văn Tâm phân trần: Anh không hề can thiệp gì đến cuộc tình ấy. Thậm

chí anh còn cho đấy là mối tình đầu tiên thật sự là tình yêu của Cao Xuân Hạo.

Chẳng qua là vợ Hạo trong Nam doạ sẽ thuê bọn voi xanh voi đỏ ra phá tan nhà

Phương Quỳnh, vì thế họ phải chia tay.

Dương Thu Hương không nói gì nữa.

Đấy khẩu khí của Dương Thu Hương là như vậy. Thế mà khi đến nhà

tôi, vợ tôi thấy chị có vẻ rất hiền. Cười rất tươi.

Tính cách Dương Thu Hương như vậy, nên viết văn cũng dữ dội lắm.

Hồi ấy tôi viết bài Những phiên toà của Dương Thu Hương (1986) là muốn diễn

tả cái chất văn quyết liệt ấy. Chất văn này mà được phát huy trong thể văn bút

chiến, tranh luận thì phải biết! Sau này quả là chị đã trở thành ngòi bút chính

luận rất sắc sảo. Sắc sảo hơn văn tiểu thuyết. Chính Dương Thu Hương cũng

không đánh giá cao văn tiểu thuyết của mình. Có lần chị nói với tôi: “Văn của

em là văn cải lương, anh đọc làm gì!”. Dương Thu Hương rất có ý thức viết

văn không vì mục đích văn chương mà vì mục đích chính trị, mục đích chiến

đấu cho lợi ích dân tộc, cho chân lý – chị tuyên bố như thế.

Hồi Dương Thu Hương mới ở tù ra, tôi tình cờ gặp ở quán cà phê vỉa

hè chỗ 51Trần Hưng Đạo. Không hiểu sao chị lại ngồi với một nữ trung uý công

an rất xinh xắn (Dương Thu Hương là nữ mà lại mê những cô gái đẹp). Đối với

những người có liên quan đến chị mà phải làm việc với công an khi chị bị tù,

chị nghi ngờ tuốt và khinh tuốt, như Đỗ Đức Hiểu (từng dạy chị tiếng Pháp),

Nguyễn Huy Thiệp, cả Nguyên Ngọc và người bạn gái xinh đẹp và thân thiết

của chị là Phương Quỳnh. Chị hỏi tôi: “Này, có phải Nguyễn Huy Thiệp sợ vãi

đái ra phải không?”.

Dương Thu Hương thích nói năng kiểu dân dã, kể cả nói tục. Thích

giọng đời. Không thích giọng văn chương. Coi nhiệm vụ công dân lúc này là

cao hơn nhiệm vụ làm văn.

Nhân chuyện Hoàng Ngọc Hiến nghe Đỗ Chu nói dối đi hội chen về

mà tưởng thật, và chuyện anh dại dột tham gia vào một đảng nào đấy, Dương

Thu Hương gọi Hiến là đồ ngốc, “nếu là đàn bà thì chửa hoàng hàng tỉ lần”.

ở Dương Thu Hương, dường như nói bạo, nói thô, nói tục là để át đi

một cái gì có thực trong lòng là những tình cảm đằm thắm, là sự nhạy cảm về lý

tưởng, do đó tự thấy là yếu đuối. Con người dữ mà thực ra lành. Đốp chát đấy

mà hay nể người. Rất cảnh giác mà lại cả tin. Dễ bị lừa. Thách thức kẻ thù, hiên

ngang đối mặt với kẻ thù, sẵn sàng cô độc giữa bầy sói, nhưng lại cần tình bạn.

Ôi! Tình bạn vô tư, chân thật sao mà hiếm có trên đời, nhất là đối với một cô

gái xinh xắn trên đất Việt Nam này! Cho nên viết văn là nhu cầu tất yếu, là lẽ

sống, để có thể có người tri kỷ mà không có tình dục xen vào. Văn chương là

người bạn vô tư. Dương Thu Hương hay viết về tình yêu - đúng ra là những vụ

án tình. Nhưng trong truyện của chị, xem ra không hề có tình yêu tốt đẹp, được

ngợi ca như là hạnh phúc đời người. Tình yêu trong tác phẩm Dương Thu

Hương, hoặc chỉ là tình yêu ảo vọng của những cô gái ngây thơ và lãng mạn,

hoặc chỉ là thứ “tình chài gái, lừa gái” của những gã Sở Khanh hiện đại.

Dương Thu Hương tuyên bố thoải mái: “Tôi là con đàn bà lại đực

(Còn Nguyễn Khải là thằng đàn ông lại cái)”. Chị thích chơi với bạn trai nhưng

rất ghét những thằng cứ muốn chuyển sang tình yêu nam nữ, như Lê Đạt, Trần

Đĩnh... Khi nhận thấy có biểu hiện như thế, lập tức chị đuổi luôn. Dương Thu

Hương cũng không thích phiền luỵ đến những gia đình mà do chồng có quan hệ

280

với chị mà vợ chồng lủng củng. Có lần Dương Thu Hương rủ Nguyễn Duy Tiến

(một tiến sĩ toán có giúp đỡ gì đó đối với con hay cháu của chị) đi nhậu cho vui.

Nhưng khi biết vợ Tiến có ý nghi ngờ, ghen tuông, chị cắt luôn, không chơi với

nữa. Riêng tôi và Hoàng Ngọc Hiến vẫn được chị coi là bạn vô tư. Với chúng

tôi, chị có thể nói như nam giới với nhau về thói dâm ô của người này người

khác, như chuyện Hoàng Tùng nửa trên, nửa dưới như thế nào đó...

Một người có vẻ sắc sảo và luôn cảnh giác như thế mà đã nhiều phen

bị lừa... Chẳng hạn chuyên làm nhà làm cửa gì đấy với Lam Luyến, hay chuyện

mua phải thuốc bổ rởm (làm bằng thuốc tăng trọng lợn) bị phù và lở loét khắp

người.

Tóm lại Dương Thu Hương có vẻ giầu nam tính – tính cách mạnh, ăn

nói ngổ ngáo – nhưng thực chất vẫn là một phụ nữ giầu tình cảm và luôn có

mặc cảm của một cô gái trong xã hội Việt Nam với những thành kiến, những

định kiến về người phụ nữ. Ăn nói tạo tợn dữ dội, bốp chát, ngang tàng, đúng là

một cách để che dấu sự mềm yếu của nữ tính và để đối phó với những định kiến

xã hội nói trên. Cho nên chị mới phải “tự thiến” (Uống thuốc diệt dục). Có ba

điều dễ mắc phải và dễ bị lợi dụng, bị vu khống là danh, lợi, tình dục. Danh lợi

chị không thèm. Nhưng tình dục thì phải “tự thiến”.

Dương Thu Hương đã từng có lúc tưởng chỉ còn vất vào nhà xác (uống

nhầm aspirine bị chảy máu dạ dầy). Hai lần uống thuốc tự tử. Lấy phải thằng

chồng vũ phu, bị nó đánh có thương tích (Nguyễn Văn Hạnh nói, có lần Dương

Thu Hương dùng mưu trả thù: lừa chồng chui đầu vào gầm giường nhặt hộ cái

gì đó, rồi lấy gậy quật thật lực).

Dương Thu Hương không dấu tôi chuyện gì. Hỏi gì cũng nói: Hương

sinh ở Thái Bình (quê nội) được một năm thì nhà chuyển đi Bắc Giang, chỗ

giáp Bắc Ninh (Việt Yên). Nhà bị bom, chuyển vào thị xã Bắc Ninh cho đến hết

kháng chiến chống Pháp. Học trường Hàn Thuyên cho đến 1964. Sau đó học

trường lý luận nghiệp vụ Bộ văn hoá. Từng cắn máu tay viết đơn xin đi tuyến

lửa Quảng Bình (1966- 1975). Chín năm ở tuyến lửa. Khi chiến thắng thì vỡ

mộng: lý tưởng vấp phải thực tế đầy tiêu cực, bị phá sản. Những thần tượng bị

sụp đổ. Tự coi như bị lừa dối, chị từ bỏ thơ, xoay ra viết văn xuôi để lên án

những kẻ đã làm vấy bùn lên lá cờ lý tưởng của mình. Từ nay, tất cả đều phải

cảnh giác, chỉ tin ở mình thôi. Chấp nhận sống cô độc, chấp nhận sống giữa kẻ

thù để chiến đấu.

Nhưng thật ra có tin ở một cái gì mới hăng hái chửi bới, phủ định như

thế chứ! Chín năm ấy dẫn đến sự vỡ mộng, nhưng cũng là chín năm rèn luyện

một niềm tin ở mình và cuộc sống.

Dương Thu Hương kể chuyện với tôi, chị lấy phải một thằng chồng thô

bỉ mà mãi không bỏ được. Ông bố là một sĩ quan quân đội rất phong kiến,

không cho bỏ chồng. Ông bắt con phải kiểm điểm chỉnh huấn theo kiểu Tầu,

học được ở Quế Lâm. Con gái lớn mà bắt đứng úp mặt vào tường. Li dị chồng

rồi vẫn thế (Dương Thu Hương thế mà lại là đứa con ngoan, rất sợ bố).

Mãi sau ông cụ mới hiểu ra. Sáng sớm hôm ấy, ngồi đầu giường con

đang ngủ, hút thuốc lào, nhìn con, thương con, ông hối hận. Giờ ông mới hiểu,

do biết thằng rể thực chất là một thằng đểu. Mười bốn năm sống với nó, còn gì

là đời con gái!.

Có lần Nguyễn Tuân mời Dương Thu Hương đến chơi. Chị từ chối, vì

thấy ông ấy kiêu ngạo quá. Nguyễn Tuân nhắc lại. Chị nói: “Cháu chè, thuốc,

rượu, chả biết”. Vậy là Dương Thu Hương không thích quan hệ trên dưới kiểu

gia trưởng. Con người này sinh ra thích bình đẳng, có máu dân chủ.

Dương Thu Hương đặc biệt căm ghét bọn trí thức hèn nhát, trí thức

quý tộc đi Volga mà hèn. Căm ghét khái niệm “đi thực tế”. Bọn quan lại: đi ôtô,

xa thực tế mới cần đi thực tế. Còn nhà văn là phải sống với thực tế cả đời chứ!

Đâu còn loại nhà văn tháp ngà!

Sau khi đi tù về, Dương Thu Hương ở một căn hộ thuộc một chung cư

ở Trung Tự (A8, B17). Sống một mình. Hai con có chồng có vợ, trưởng thành cả

rồi. Chị hay mời tôi với Hoàng Ngọc Hiến (gần đây thêm Nguyễn Thị Bình) đi

ăn, khi ở nhà hàng Phú Gia, khi ở nhà hàng Vân Nam, thường vào dịp đầu xuân

hay sau một chuyến đi nước ngoài về. Chị không muốn có quan hệ với bạn mới,

sợ liên luỵ đến người ta.

Gần đây, Dương Thu Hương luôn tự nhận mình là giặc, và là một

người đàn bà nhà quê, răng đen, mắt toét, mặc váy. Chị nói, dân tộc Việt Nam

thực ra là một dân tộc nông dân. Chị thích văng tục vì đấy là ngôn ngữ nông

dân. Phải nói bằng ngôn ngữ nông dân mới diễn đạt được đích đáng mọi sự thật.

Nhưng Dương Thu Hương là người rất công bằng. Có lần chị được

mời sang Pháp. Một đám Việt kiều ở một tỉnh nào đó mời đến nói chuyện. Bọn

này muốn chị mạt sát Hồ Chí Minh. Nhưng chị vẫn đánh giá Hồ Chí Minh, dù

sao cũng là một nhân vật vĩ đại. Thế là chúng tức tối, có thằng đến khách sạn

doạ đánh chị. Dân Việt Nam là thế, hay bè phái. Mà bè phái thì bất chấp chân

lý, bất chấp lẽ phải.

Hồi ấy nhiều người cứ tưởng Dương Thu Hương ở lại Pháp không về.

Thực ra đúng thời hạn, chị về ngay.

Gần đây, chị lại sang Pháp. Lần này chị chủ trương ở lại. ở trong nước,

bị quấy nhiễu quá, không làm việc được. Có hồi người ta cắt cả điện thoại của

chị.

Viết truyện, Dương Thu Hương thường hay luận về vấn đề hạnh phúc

của những cô gái trẻ. Những cô gái hợm hĩnh và lãng mạn, chẳng hiểu tình yêu

và hạnh phúc là gì, cứ chạy theo những tình yêu mơ mộng và huyền hoặc, để

cuối cùng đánh rơi mất tình yêu và hạnh phúc thực của mình. Dương Thu

Hương từng luận về hạnh phúc như một người đầy trải nghiệm: nó như quân

xúc sắc trong trò chơi. Cần thì không đến. Không cần lại đến. Nhưng nó đến mà

đánh rơi nó, đánh mất nó như chơi. Hạnh phúc phải do chính mình quyết định.

Là ý thức, là hiểu biết, nhưng nó cũng là sự hồn nhiên, chân thực, thật thà, trước

hết với mình. Đừng có dại nghe ai xúc xiểm – vì hạnh phúc chỉ có cá nhân mình

mới hiểu được.

Không rõ Dương Thu Hương tự thấy đời mình thế nào, còn theo tôi,

chị chưa bao giờ có hạnh phúc. Đời người đàn bà như thế là khổ lắm.

Tôi thật sự khâm phục Dương Thu Hương. Cảm phục sự dũng cảm của

chị – sự dũng cảm đã phải trả giá rất đắt: một người yêu đời, rất cần tình bạn và

sự cảm thông, mà phải sống cô độc, một mình chống chọi với cả một Nhà nước.

Tôi cũng thật sự thương Dương Thu Hương, một người đàn bà như thế là khổ

lắm.

Hiện nay Dương Thu Hương đang ở Pháp.

Nghe nói tiểu thuyết Chốn vắng của chị được dịch và Những thiên

đường mù sắp được chuyển thành kịch bản phim.

Xin chúc mừng chị.


Chương XXIII: Lưu Công Nhân


Tôi quen Lưu Công Nhân từ hồi cùng học với nhau ở trường Trung

học kháng chiến, đóng tại Đào Giã, Thanh Ba, Phú Thọ (vốn là trường Chu Văn

An ở Hà Nội sơ tán lên từ thời kháng chiến chống Pháp).

Hiệu đoàn học sinh có ra đều kỳ một tờ nội san, viết tay.

Tôi hay vẽ vạch lăng nhăng, nên được cử đi trang trí, minh hoạ cho tờ

nội san này. Tôi gặp Lưu Công Nhân cũng đến làm công việc này.

Tất nhiên, không như tôi, Lưu Công Nhân là một tài năng thực sự. Tôi

nhớ anh thường lấy một mẩu cành cây chỉ bằng ngón tay, dùng dao cắt, gọt mấy

nhát, thành ngay một hình người nhỏ xíu xinh xinh.

Tôi với Lưu Công Nhân học cùng một khoá (1947 – 1950). Anh học

ban sinh ngữ, tôi học ban Toán Lý Hoá. Hình như anh đang học dở dang thì bỏ

đi học hoạ, khoá Tô Ngọc Vân.

Bẵng đi từ đó, tôi không lần nào gặp anh nữa, tuy có xem tranh của anh

ở bảo tàng mỹ thuật và biết anh đã là một hoạ sĩ nổi danh.

Sau 1975, tôi thỉnh thoảng có được mời vào dạy cho mấy trường đại

học ở Sài Gòn và Cần Thơ. Biết anh ở Sài Gòn, tôi tìm đến chơi.

Dưới đây, tôi tường thuật lại cuộc gặp mặt đầu tiên của tôi với Lưu

Công Nhân ở Sài Gòn. Anh nói nhiều, nói liên miên. Nên cuộc trò chuyện giữa

tôi và anh hầu như chỉ là một cuộc độc thoại của Lưu Công Nhân.

Tôi nhớ đấy là một ngày đầu năm 1983.

Lưu Công Nhân lúc này ở đường Tự Đức. Nhà hai tầng, rộng rãi và

khá sang trọng.

Tôi chờ đợi một thái độ lạnh nhạt và xem thường của ông bạn cũ. Vì

nghe nói hắn giầu lắm, danh vọng lắm, khinh người lắm. Điều này thì tôi đã có

kinh nghiệm rồi, nên coi như chuyện thường. Nó khinh mình thì cái giá trị thực

của mình thế nào thì vẫn thế thôi. Mà mình trông bộ dạng nhếch nhác thế này

nó khinh cũng là phải. Tôi cứ gõ cửa. Mình vào cốt để xem tranh của hắn, thế

thôi – tôi rất thích hội hoạ.

Nhưng tôi đã lầm. Lưu Công Nhân nhận ra tôi ngay. Hắn rất nhớ bạn

cũ. Hắn đọc nhiều sách lắm. Sách hội hoạ, điêu khắc của Pháp, đọc cả sách văn

học Việt Nam. Có đọc cả nhiều bài viết của tôi. Và cũng biết tôi có cuốn Nhà

văn, tư tưởng và phong cách và nói đang đi tìm mua. Hắn khen tôi viết về

Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng rất khá.

Lưu Công Nhân quả là một tay kiêu ngạo. Xem thường tuốt. Tự coi

mình là một maitre, cỡ quốc tế. Nhưng nụ cười thì rất tươi, hiền và trẻ cách lạ.

Tôi rất thích nụ cười của Lưu Công Nhân. Hắn người cao to. Cởi trần. Quần

đùi. Lưng gù gù, lòng khòng. Nhưng đẹp trai, ăn nói rất thoải mái, hay văng tục.

Mới gặp nhau đã mày tao luôn. Không ngờ Nhân còn nhớ tôi ngày xưa từ dáng

đi đến cả cái áo mặc thời kháng chiến.

Nhân nhận xét Nguyễn Tuân là hám danh ,nên mất cái hồn nhiên, tự

nhiên – nghệ sĩ chân chính phải tự nhiên như ruồi ấy chứ (Nhân hay nói “tự

nhiên như ruồi”). Đằng này kiểu cách, bộ dạng quá. Vào Sài Gòn tại sao phải

tìm đến Trịnh Công Sơn? Mà Trịnh Công Sơn cũng háo danh nốt, nên lấy làm

tự hào lắm.

Nhân chê Nguyên Hồng hèn. Trước Mười Hương, Nguyễn Đức Thuận,

tại sao lại nói năng có vẻ kính sợ quá, bái phục quá, tự hạ nhân cách nghệ sĩ

trước nhân cách chính trị. Đó là hai loại anh hùng, hai sự dũng cảm khác nhau

chứ!

Lưu Công Nhân nói, từng bỏ biên chế năm 1959, lúc biên chế còn đầy

tiền đồ. Phan Kế An sợ không dám, cho là biên chế còn có giá trị lớn trong

tương lai.

- Mình bỏ biên chế – Nhân nói- Đạp xe từ Thanh Hoá lên tận Nam

Quan, rồi từ Nam Quan về, xem kiến trúc thay đổi thế nào. Vẫn cổng chữ môn,

ngói âm dương, căn bản không khác gì. Thế mà càng lên đến gần biên giới,

càng thấy Tầu hơn. Rất lạ!

- Này nhiều thằng đến đây gạ xem tranh của tao. Tao đuổi. Nhưng cho

mày xem. Nào lên đây.

Hắn đưa tôi lên lầu. Tranh các loại treo la liệt. Hắn lại treo thêm lên

mấy bức nữa cho tôi xem.

Có một bức khá to, vẻ lằng nhằng như lửa lan ra tất cả tấm toan lớn:

“Khi bầy tranh nơi công cộng thì tao nói là bắn máy bay Mỹ. Thực ra là mon

rêve”.

Có bức vẽ thuốc nước, một cô gái chở đò ở một kênh rạch miền Nam.

Đẹp. Có tranh vẽ một thiếu phụ bế con. Mấy lá tre, cành tre lơ thơ. Một bức hoạ

mùa đông. Lá bàng đỏ, lốm đốm một chút xanh. Đỏ đúng màu lá bàng úa,

nhưng không rõ lá cành gì hết.

Nhân nói: “Mẹ tao mất, năm bà 82 tuổi – Hắn chỉ một bức tranh, nói:

“Hommage à ma mère. Bức tranh lệ. Nước mắt”. Nhưng tôi không nhìn ra gì

hết.

Một bức ký hoạ còn trên giá vẽ: nhà bè, kiểu nhà sàn, nơi một cái bến

sông của một vùng Hậu Giang, Tiền Giang gì đó.

Một bức sơn dầu lớn, vẽ cảnh chiều thu. Hơi buồn. Một quán tranh bên

đường, cạnh một cái lô cốt của Pháp thời kháng chiến. Cánh đồng lúa xanh tận

chân trời. Tôi thấy đẹp, rất thích.

Lưu Công Nhân còn lấy ra cho xem một số tranh thuốc nước vẽ đường

làng, cổng làng cổ kính và vắng vẻ của miền Bắc. Một số tranh vẽ bò của Lưu

Công Nhân. Nói chung, tôi rất nhạy cảm với cảnh nông thôn ngày xưa. Đẹp mà

buồn. Mà sao rất thương!

Lưu Công Nhân nói liên miên về lịch sử hội hoạ, về hội họa Việt Nam

và thế giới.

- Tranh lợn gà làng Hồ không phải tranh dân gian. Đấy là những

maitre, những artiste vẽ đấy chứ! Diệp Minh Châu tạc sao nổi tượng Phật

nghìn mắt nghìn tay! Đó là anonyme không phải folklore. Tinh thần anonyme là

285

truyền thống nghệ thuật Việt Nam.

- Nghệ sĩ nó có một cái gì rất tự nhiên. Ăn uống, nước trà, chơi hoa...

rất tinh tế, sành sỏi. Không phải cố làm ra thế, tự nhiên thế thôi. Các cụ ta là

thế. Bây giờ khác rồi. Không có. Dốt. Không ai dạy... Lo cho thế hệ sau quá!

Muốn học vẽ, không có sách mà học. Ăn phở lại cho mùi tầu vào, khó chịu quá,

không có cái tinh tế nghệ sĩ.

- Hội hoạ rất cần có phê bình. Nghệ sĩ đẻ ra phê bình. Phê bình đẻ ra

nghệ sĩ. Nghệ sĩ sáng tạo, phê bình tổng kết ra trường phái này, trường phái nọ.

Và giữa hội hoạ và văn học có ảnh hưởng lẫn nhau.

- Việt Nam không vẽ chân dung. Kiêng. Cho vẽ thì bị thu mất thần. Tàu

có truyền thống này từ lâu đời. Hiện còn để lại một bức tranh về một hoạ sĩ

đang vẽ một cô công chúa hay hoàng hậu gì đó. Một maitre râu dài ngồi vẽ, các

cung tần mỹ nữ xúm xít đứng xem.

Phương Đông không có réalisme kiểu Tây, nghĩa là vẽ giống

naturalisme. Phương Đông không bao giờ chịu nô lệ sự thật. Không chủ trương

vẽ hình xác, muốn truyền lại linh hồn của tạo vật.

Việt Nam không có dessin, vẽ chì than, ký hoạ. Phương Đông không có

esprit documentaire. Phương tây nó triển lãm dessin riêng của một hoạ sĩ và

coi là đã đủ là một phòng tranh rồi. Phương Đông vẽ là vẽ ngay trên lụa, đục

ngay vào gỗ, vào đá.

Thời Phục Hưng, Tây đã chịu ảnh hưởng phương Đông. Do route de

soie, tranh vẽ Tàu đã sang Tây lâu rồi.

Phục Hưng không hề ảnh hưởng tới Việt nam. Việt Nam chỉ chịu ảnh

hưởng tranh của Tây thế kỉ XIX, XX thôi.

Tính dân tộc là bản chất của nghệ thuật. Thằng Tây sang Tàu học lối

vẽ Tàu, dù thành thạo đủ ngón vẫn không vẽ ra được như tranh Tàu.

- Mỗi hoạ sĩ có một univers của nó. Để thể hiện cái univers ấy, nó cần

vẽ cái này, cái kia, dùng chất liệu này, chất liệu khác... Mình coi sơn mài là

quốc hoạ là vô nghĩa. Phê bình theo sujet là không đúng. Hội hoạ phê bình xã

hội khác. Thời Hitler chiếm đóng, palette của Picasso toàn màu tối, sau giải

phóng palette Picasso màu tươi sáng.

- Việt nam xưa thế mà tinh tế: có cái kiến trúc vui (proportion

heureuse). Có kiến trúc buồn. Có kiến trúc nghiêm trang khắc khổ.

- Vừa rồi nó bảo tao khai thành tích để phong giáo sư, phó giáo sư hay

khen thưởng nghệ sĩ ưu tú... Tao không thèm, gửi trả lại giấy tờ ngay lập tức.

Phó chứ đến giáo sư tao cũng coi ra cái gì. Cho đi nước ngoài, bắt làm hộ

chiếu, tao không thèm. Gọi cả nước Liên Xô sang đây tạo dạy cho, việc gì tao

phải đi học Liên Xô.

- Nghệ sĩ là người sáng tạo theo tài năng, sở trường của mình, không

cần biết giá trị đến đâu, thế nào. Nhưng thằng Critique thì phải làm công việc

đánh giá, xếp hạng theo vị trí của mỗi nghệ sĩ trong lịch sử nghệ thuật. Cần có

một cuốn Nhà văn, tư tưởng và phong cách trong hội hoạ. Mày làm được đấy.

Mày đi vào nghệ thuật hội hoạ đi. Hiện nay trong hội hoạ toàn thằng ngu,

không có chữ.

Mày cứ viết luôn về cái rencontre của mày với Lưu Công Nhân cũng

thành một bài có giá trị đấy. Hai maitre gặp nhau.

Nhân nói đến đó thì có một người đến nhờ vẽ bìa sách. Nhân lấy chì

sáp viết thoắng một chữ , rồi lấy bút lông chấm mực vạch đè lên trên mấy nét.

Xong rồi, nói:

Thế mà người ta khen đẹp đấy và tới tấp đến nhờ tao vẽ bìa.

Thấy đã muộn, tôi đứng lên, đi về. Lưu Công Nhân nói: “Phải có

équipe, có bè, có cánh, có thế. Thí dụ, Hoàng Ngọc Hiến bị đánh thì có Nguyễn

Tuân lên tiếng bênh vực. Và phải có giới thiệu nhau, bình luận sáng tác của

nhau.

Nhớ lại ngày xưa, đã có lúc tôi định xin học hoạ. Nếu học thì cũng

cùng một khoá với Nhân và trở thành đồng nghiệp của hắn. Không biết số phận

sẽ ra sao!.

* *

*

Sau cuộc gặp gỡ đầu tiên ấy, thỉnh thoảng vào Sài Gòn, tôi lại đến Lưu

Công Nhân chơi.

Mấy năm nay hắn yếu đi nhiều. Bị chứng run, gọi là bệnh liệt rung

(parkinson). Chân tay run rẩy, đi đứng khó khăn.

Nhưng hắn vẫn vẽ. Hắn tặng tôi một tập tranh, chỉ đề mấy chữ: vẽ, vẽ,

và vẽ...

Hôm ấy, tôi đến Nhân. Đâu vào đầu năm 2002. Hắn nói, nhiều khi

đứng mãi mà không nhấc chân đi được. Tay run. “Nhưng tao vẫn vẽ. Renoir vẽ

cho đến lúc chết. Lão bị goutte, không vẽ được, người ta phải buộc bút vẽ vào

tay, vào chân để vẽ.

Các thế hệ hoạ sĩ thường kỵ nhau. Renoir nổi tiếng trước Matisse.

Matisse khi nổi danh đem tranh đến cho Renoir xem, Renoir chê không ra gì.

Picasso cũng thế, không chấp nhận thế hệ sau mình.

Mình sang Balan, có một tay hoạ sĩ hỏi, ở Việt Nam có phê bình hội

hoạ không. Tao bảo có rất ít. Tay hoạ sĩ Ba Lan nói, thế là hạnh phúc. ở Ba

Lan, một hoạ sĩ có hàng trăm thằng phê bình. Sợ quá ! Khổ quá! Có ít phê bình

là hạnh phúc đấy!”

Lưu Công Nhân cho dân tộc Việt Nam bao giờ cũng mô phỏng nước

ngoài, xưa là Tầu – kể cả tranh khắc gỗ làng Hồ hay Hàng Trống cũng chịu

ảnh hưởng Tầu (đấy là những maitre vẽ chứ không phải dân gian). Sau này bắt

chước Tây, bắt chước Mỹ. Việt Nam không có création hoàn toàn. Bắt chước

không đạt tới nơi, thì thành bản sắc Việt Nam, thành hồn Việt Nam. Trong đầu

mỗi hoạ sĩ Việt Nam thế nào cũng có một mẫu ngoại quốc. Nhưng khác ngoại

quốc là có cái hồn Việt Nam.

Lịch sử hội hoạ Việt Nam không phải bắt đầu từ khi có trường Mỹ

thuật Đông Dương mà có từ tranh khắc gỗ vẫn gọi là tranh dân gian. Thực ra

đó không phải là dân gian mà là hoạ sĩ hẳn hoi, phải làm bản vẽ ngược lên gỗ

287

mới khắc được thành bản in chứ.

Tầu nó khắc ngà voi rất nhiều lớp lồng vào nhau rất tinh vi. Ta không

bắt chước được. Còn thì bắt chước tuốt: kiến trúc, chạm gỗ, ngói âm dương,

tượng Kim Cương, phật Quan Âm...

Trẻ con vẽ là hoạ trẻ con. Không nên cho trẻ con vẽ đã là có năng

khiếu. Phải trưởng thành mới biết. Vì vấn đề là mắt, không phải là trí óc như

Văn, Nhạc. Thần đồng không có ở hội hoạ. Lớp trẻ bây giờ không có ngoại ngữ,

không phát triển được. Phải tiếp xúc với nước ngoài mới mở rộng được tầm

mắt...

Lưu Công Nhân nói liên miên. Vả lại tôi có biết gì về hội hoạ đâu mà

nói. Cho nên vẫn chỉ có một thằng độc thoại. Mà hắn thì chỉ cần có một đối

tượng nào đấy để trút ra những suy nghĩ của mình.

* *

*

Mấy năm nay. Tôi không có dịp gặp Lưu Công Nhân lần nào nữa. Hắn

không còn ở Sài Gòn mà đã lên Đà Lạt. Nghe nói ở đấy, hắn có một biệt thự rất

đẹp.

Mùa xuân năm nay, tôi vào Sài Gòn, bỗng được tin Lưu Công Nhân

mất. Buồn vô cùng. Cứ thấy hụt hẫng, trống vắng thế nào!

Nhớ lần gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi ở Sài Gòn, Nhân có ý muốn tôi

ghi lại cuộc trò chuyện hôm ấy.

Nguyện vọng đó của Nhân, tôi đang thực hiện đây.

Tiếc rằng Nhân chẳng còn sống để mà đọc!

Quan Hoa, cuối thu năm 2006


Chương XXIV: Hữu Thỉnh


Hữu Thỉnh có máu làm quan, chỉ cố chí leo lên cho được một cái ghế

lãnh đạo thật cao. Hắn tin ở tướng số, ở tử vi. Đi đâu cũng xem giờ xuát hành và

thắp hương khấn vái.

Một hôm, Trung Đức, nhà ở Tràng Tiền , mời Thỉnh và tôi đến nhậu.

Hữu Thỉnh tự khoe tướng của mình rất tốt: “Em lông mày lưỡi mác, em còn

lên” – Thỉnh vừa nói vừa chọc chọc ngón tay lên cao. Lúc ấy Thỉnh mới là uỷ

viên chấp hành Hội nhà văn. Thỉnh xoay ra xem tướng tôi: “Anh có cái nốt ruồi

bên trái mũi. Nếu ở vào giữa sống mũi thì anh đi tù rồi. Nếu ở đầu mũi, anh đi

ăn mày!” Thỉnh nói dứt khoát như thế.

Năm 1983, tôi và Thỉnh từ Hà Nội đi Hải Phòng dự cuộc hội thảo về

Nguyên Hồng, nhân ngày giỗ của ông (Nguyên Hồng vốn là chủ tịch Hội văn

nghệ Hải Phòng). Đi đến chân cầu Phú Lương, Thỉnh cho đỗ xe, xuống thắp

hương cho vợ chồng Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ một cách rất thành kính.

Thắp hương hai chỗ: chỗ bị tai nạn và chỗ quàn tạm thi thể hai vợ chồng.

Từ ngày ấy, không biết có phải nhờ trời phật phù hộ không mà Thỉnh

cứ lên vùn vụt. Từ uỷ viên chấp hành lên Tổng thư kí. Xuýt nữa vào nhà đỏ.

Thực ra mẹo của Thỉnh là lấy lòng cả làng, nịnh tuốt. Đối với người già, Thỉnh

tổ chức chúc thọ đầu năm, lập Hội nhà văn cao tuổi. Đối với bọn làm thơ đang

chẳng có ai thèm đọc, hắn tổ chức Hội thơ xuân. Thỉnh đúng là một “Thiên tài

hiếu hỷ” – Nguyễn Huy Thiệp nói đúng. Ai có cha già mẹ héo, ai ốm đau hay

gặp tai nạn gì, Thỉnh đến ngay và có phong bì. Vừa rồi, họp đại hội nhà văn lần

thứ 7, tôi bị ngã. Hôm sau Thỉnh đã đến thăm rồi.

Thỉnh có cách phát biểu ca ngợi người khác rất tâm huyết. Được khen

một cách đầy tâm huyết, ai chả thích!

Nhớ một lần gặp tôi ở khách sạn nổi Hồ Tây – hôm ấy Hội Nhà văn có

liên hoan gì đó. Thỉnh ôm lấy tôi, nói lớn: “Nhà phê bình nghệ sĩ!”. Những lời

lẽ tâm huyết như thế, chắc Thỉnh ban phát cho nhiều người.

Từ Đại hội nhà văn lần thứ III, Thỉnh là uỷ viên cháp hành phụ trách

công tác nhà văn trẻ. Anh thường mời tôi cùng đi bồi dưỡng những cây bút trẻ ở

các nơi. Tôi để ý thấy Thỉnh rất chú ý mời các vị đàn anh trong đoàn lên tiếp

các quan chức cấp tỉnh, còn mình thì giữ phận đàn em, rất khiêm tốn.

Một lần, tại Mộc Châu, tôi ở cùng phòng với Thỉnh. Có một cây bút trẻ

đến đọc thơ cho Thỉnh nghe. Hai tay ngồi trên cái giường một, còn tôi ngồi ở

cái bàn cạnh cửa sổ. Thỉnh thoảng tôi lại giật mình vì Thỉnh vỗ đùi nói lớn:

“Tuyệt!”. Đối với một cây bút cấp tỉnh, cấp huyện, được một nhà thơ trung

ương, uỷ viên chấp hành Hội, khen thơ mình như thế thì sướng quá rồi còn gì!

ở Vĩnh Phúc, có anh giáo viên dạy chuyên văn tên là Khoái biết Thỉnh.

Anh nói với tôi, Thỉnh nịnh cả vợ nhà văn địa phương. Đến thăm một nhà văn ở

Vĩnh Yên, gặp vợ anh này, tự nhiên Thỉnh kêu to: “Ôi, Xuân Quỳnh!” – Chị

này chẳng hiểu gì cả. Hoá ra Thỉnh khen chị ta xinh đẹp như Xuân Quỳnh.

Thỉnh thoảng Thỉnh lại điện cho những cây bút địa phương gửi bài đến

để anh đăng trên báo trung ương. Đối với các cây bút tỉnh lẻ, được đăng bài trên

báo trung ương là danh giá lắm!.

Nhưng có điều này thì Thỉnh lại cứng rắn hơn ai hết, nguyên tắc hơn ai

hết: đừng đụng đến cái ghế của anh ta, đừng cản trở con đường thăng quan tiến

chức của anh ta. Về mặt này Thỉnh sẵn sàng đổi trắng thay đen, trở mặt như bàn

tay, thậm chí sẵn sàng làm những điều bậy bạ, vô nguyên tắc, sẵn sàng vất vỏ

chân lý, đạo lý.

Trên kia tôi đã nói đến chuyến đi Hải Phòng với Thỉnh dự cuộc hội

thảo về Nguyên Hồng. Lúc ấy Nguyên Ngọc bắt đầu bị cấp trên để ý. Lãnh đạo

tỏ ra khó chịu về cái vai tổng biên tập báo Văn nghệ khá bất trị của anh, và

muốn tìm người thay. Một trong những người được các vị nhắm tới là Hữu

Thỉnh. Hôm ấy, cùng Thỉnh đi dạo trên hè phố Hải Phòng, Thỉnh nói với tôi dứt

khoát: “Em với anh Nguyên Ngọc, đời nào em lại muối mặt ngồi vào chỗ anh

ấy”. Vậy mà chỉ ít ngày sau, đã thấy Thỉnh nhận chức Tổng biên tập Văn nghệ.

Con người này, đúng là không thể tin cậy được.

Thỉnh ngang nhiên bợ đỡ Mai Quốc Liên và Trần Mạnh Hảo, vì biết

cấp trên đang tin dùng hai tay này. Mặt khác đó là những kẻ rất hung hăng và to

mồm, biết cách nịnh trên nạt dưới, rất có thể gây khó dễ cho Thỉnh. Thỉnh còn

cho Văn nghệ trẻ đăng nhiều bài rất nhảm nhí của Hoàng Xuân Tuyền, vu cáo

những người biên soạn sách giáo khoa, vì thấy xu thế đánh vào ngành giáo dục

đang được trên khuyến khích. Nhớ hồi Bộ giáo dục chủ trương biên soạn hai bộ

sách giáo khoa môn văn PTHT (sách cải cách giáo dục) và bị lãnh đạo cho là có

vấn đề. Chính Thỉnh, trong quốc hội, đã gào lên như là phẫn nộ lắm: “Một nước

thống nhất, mà sao lại có hai bộ sách giáo khoa?” - ý nói có một âm mưu chính

trị muốn chia rẽ đất nước. Không biết Thỉnh có tìm hiểu gì không, nhưng điều

chắc chắn là hắn thấy chiều hướng quốc hội (tất nhiên cũng là chiều hướng của

Đảng) như thế, nên tập tức tỏ thái độ hưởng ứng kịp thời.

Thỉnh ra sức che chắn cho Trương Vĩnh Tuấn (phụ trách Văn nghệ trẻ)

vì Tuấn rất cần cho Thỉnh, tuy Tuấn là thằng cha láo lếu, mất dạy (hình như

thằng cha này xoay tiền rất giỏi). Hắn phát biểu như một thằng điên khùng:

“Tôi căm thù những người viết sách giáo khoa” – Hắn nói thẳng với cô Hoàng

Hoà Bình như thế, khi Bình đề nghị hắn giải thích về những bài xuyên tạc sách

giáo khoa trên Văn nghệ trẻ. Những chuyện như thế nếu có ai gặp Thỉnh trực

tiếp phê phán thì Thỉnh lại tìm cách xuê xoa, nói là đi vắng, không biết, và hứa

sẽ xử lý”.

Thỉnh kết nạp hội viên hay tổ chức giải thưởng hàng năm của Hội cũng

rất bừa bãi, cốt củng cố cho chắc cái ghế của mình. Thỉnh bầy ra cái trò bầu đi

bầu lại giải thưởng Hồ Chí Minh một cách vô lối cho Hồ Phương và Hà Minh

Đức. Tuy thừa biết Hồ Phương và Hà Minh Đức viết lách như thế nào, nhưng

mặc, Thỉnh cứ tổ chức bầu đi bầu lại, cốt tỏ ra quan tâm tới quyền lợi của anh

em. Nịnh trên, nịnh dưới – thực chất là lừa dối anh em bằng những lời đường

290

mật, đó là đường lối chiến lược cơ bản của Thỉnh.

Nhưng xem chừng con đường hoan lộ của Thỉnh cũng chỉ đến thế thôi,

tuy Thỉnh đã phải trả giá bằng biết bao công sức và mồ hôi của tâm não, cũng

như... biết bao hương khói khấn vái Trời, đất, thần, Phật...

Cách đây dễ đến sáu, bẩy năm, trong một cuộc họp có mặt Thỉnh, Đỗ

Chu nhìn tướng Thỉnh, nói với tôi: “Thỉnh trán hóp dần lên trên, không lên

được nữa đâu!”. Không biết Thỉnh có thấy tướng mình như thế không?

* *

*

Tôi viết xong bài về Hữu Thỉnh được ít lâu thì Nguyễn Văn Hạnh ở Sài

Gòn ra đến chơi. Hạnh nói cũng vừa gặp Thỉnh. Anh hoàn toàn tán thành những

nhận xét của tôi về Thỉnh, đặc biệt là những thủ đoạn lấy lòng tất cả mọi người

và thói hứa hão, hứa đầu lưỡi, sau đó quên ngay.

Nhưng Hạnh có nói điều này khiến tôi phải ngẫm nghĩ. Có lẽ những

nhận xét của mình về Thỉnh có phần thiếu công bằng chăng?

So sánh Thỉnh với những ông Tổng thư ký tiền nhiệm xem., người ta

dễ có ấn tượng Thỉnh thua kém, rất thua kém. Nhưng thử nghĩ mà xem, các ông

Nguyễn Đình Thi, Vũ Tú Nam, Nguyễn Khoa Điềm có gì hơn Thỉnh nào? Các

vị đã làm được gì có ích cho đồng nghiệp của mình? Đã làm được gì để bảo vệ

anh em những lúc bị quy chụp chính trị bừa bãi, thậm chí bị tù oan? Đã làm gì

để giúp Hữu Loan trong những ngày khốn khổ ở Thanh Hoá? Đã làm gì để bênh

vực Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Phùng Quán, Lê Đạt... trong vụ Nhân văn –

Giai phẩm? Đã làm gì để cứu Nguyễn Hữu Đang, Thuỵ An, Trần Thiếu Bảo,

Trần Dần, Hoàng Cầm, và sau này Dương Thu Hương khỏi đi tù? Đã làm gì để

giúp đỡ gia đình Nguyên Hồng trong những ngày đói khát ở Nhã Nam? Đã làm

gì để bảo vệ danh dự cho Trần Độ, đến lúc chết vẫn còn bị vu cáo?...v.v...

Té ra tất cả, từ Nguyễn Đình Thi, Vũ Tú Nam, Nguyễn Khoa Điềm đến

Hữu Thỉnh đều là một lũ bù nhìn, đều vô tích sự như nhau cả thôi.

Nhưng riêng Hữu Thỉnh thì có điều này cũng nên tính công cho hắn

chứ: Thỉnh quả có cố gắng tạo cơ sở vật chất cho Hội. Như gần đây hắn đổ khá

nhiều tâm huyết vào việc xây dựng trụ sở mới, trại sáng tác mới của Hội và Bảo

tàng nhà văn ở Quảng Bá. Tôi vừa lên xem, rất hoành tráng.

Các vị Nguyễn Đình Thi, Vũ Tú Nam, Nguyễn Khoa Điềm đã làm

được gì tương tự như thế chưa?

Vậy thì nếu so sánh, ai hơn ai?


Chương XXV: Nguyễn Huy Thiệp


Thiệp có tài bịa chuyện như thật. Không phải chỉ trong văn đâu, trong

đời sống cũng vậy.

Ngày khánh thành pho tượng Phật của anh, anh mời tôi đến đánh chén.

Anh hỏi tôi khi đứng ngắm pho tượng: “Anh thấy mặt tượng giống nam hay

giống nữ?”. Tôi nói, giống nữ. Thiệp bảo: “Thế là nam tính của anh mạnh. Nếu

thấy giống nam là nữ tính mạnh” (Có người lại thấy giống Phạm Thị Hoài).

Thiệp đưa tôi xem bức ảnh chụp buổi lễ gọi là hô thần nhập tượng và

nói, hôm ấy chúng em mời thế nào mà có hai vị Hoà thượng cùng đến một lúc,

mà vị nào cũng quên không mang chuông mõ. Em và Hồng Hưng (Hồng Hưng

là hoạ sĩ kiêm điêu khắc, cùng làm tượng với Thiệp) phải chia nhau mỗi người

một ngả đi mượn ở những ngôi chùa quanh vùng. Đến đâu cũng thấy nhà chùa

đã sắp sẵn chuông mõ giao cho, nói là: “Đêm qua đức Phật báo mộng, có người

đến thu chuông mõ”.

Thiệp lại kể, khi tượng Phật sắp hoàn thành, bỗng thấy có một bà nhà

quê ở đâu đến, thấy tượng vội sụp lậy như tế sao. Hỏi thì nói, bà ta có con bị

ốm. Mời thầy cúng đến. Ông thầy nói, bà yên tâm, gần đây người ta đang xây

tượng Phật, ma quỷ sẽ phải chạy hết, nay mai con bà khỏi thôi. Quả đúng như

vậy.

Một hôm khác, tôi nhớ là ngày giỗ ông thân sinh của Thiệp. Anh mời

chúng tôi đến uống rượu. Hôm ấy khá đông khách. Thiệp cho biết, ở Hà Nội, có

những bà đồng cứ nhận mình là Ngô Thị Vinh Hoa – một nhân vật huyền thoại

của Thiệp trong truyện Phẩm tiết. Thiệp nói, hôm ấy, anh ra Hà Nội, gặp một bà

đồng đang đi với ông tiến sĩ Hoàng Phương, một chuyên gia về khoa học thần

bí. Đó là một trong những bà đồng tự nhận mình là Ngô Thị Vinh Hoa. Trông

thấy Thiệp, bà ta bỗng lăn đùng ra đất, mồm hộc máu. Thiệp hoảng hồn, bỏ

chạy vì sợ liên luỵ.

Thiệp viết thì hay, nhưng nói chuyện thì không hấp dẫn lắm. Anh có tật

nói lắp. Người đen, có vẻ phong trần – Hồi Thiệp mới xuất hiện, nổi lên như

cồn, nhiều kẻ sinh đố kỵ. Khi Thiệp viết Phẩm tiết, bị quy là xúc phạm Quang

Trung, nhiều tay liền xúm vào đả kích, chửi bới. Đỗ Chu, trong một cuộc họp ở

Hội nhà văn, nói: “Mặt nó như cái ruộng nẻ, nó dám xúc phạm anh hùng dân

tộc, sao không bỏ tù nó đi!”.

Thiệp vốn là một giáo viên dạy sử, nhưng thực sự là con người của

cuộc đời phong trần, bụi bặm, thực sự vật lộn với cuộc sống để mưu sinh. Anh

từng buôn gỗ, có lúc làm trang trí nội thất thuê, có thời gian vẽ gốm cho lò gốm

Bát Tràng, rồi vẽ bìa sách cho nhà xuất bản Giáo dục... Khi mới được chuyển từ

Sơn La về Hà Nội (Nhà xuất bản Giáo dục), Thiệp xin với Nguyễn Đức Nam,

Giám đốc nhà xuất bản, cho vợ anh, đang dạy học ở Từ Sơn, về Nhà xuất bản.

Thiệp mặc cả với Đức Nam sẽ có cách đưa được con Nam từ Hà Tây về Hà

Nội. Nam nói, chuyện của tao, tự tao giải quyết được. Thiệp phải dắt gái

cho Nam ba lần, Nam mới đồng ý. Hiện vợ Thiệp vẫn chữa morát cho nhà xuất

bản Giáo dục.

Thiệp hai lần mở quán ăn. Một lần ở Gia Lâm, gọi là quán Nhà Sàn

Hoa Ban. Một lần ở số 1 Láng Hạ, gọi là nhà hàng Hưng Thịnh. Tôi có được

mời dự lễ khai trương. Quán Hoa Ban thì do quan hệ giữa chủ đầu tư và Thiệp

không hợp thế nào đó, nên Thiệp bỏ. Còn quán Hưng Thịnh thì không hiểu sao

vừa mở được ít ngày đã sập tiệm.

Vừa rồi, Thiệp viết bài Trò chuyện với hoa thuỷ tiên, bị bọn làm thơ

ghét lắm. ở đại hội nhà văn lần thứ bẩy, anh nói với tôi, tưởng chúng nó không

bầu mình làm đại biểu, thế mà hoá ra cũng đủ phiếu.

Nguyễn Khải cho biết, ở trong Nam, có một người đàn bà họ Đinh,

kinh doanh rất giỏi, giầu lắm. Chị này rất quý Nguyễn Huy Thiệp. Thỉnh thoảng

Thiệp vào Sài Gòn được cung phụng sướng như vua.

Thiệp là một trong những nhân vật hấp dẫn đối với khách nước ngoài.

Tôi đến anh, thường gặp, khi thì một ông Tây, khi thì một ông Tàu hay một bà

Nhật, khi thì một trí thức Việt kiều ở Pháp, ở Mỹ về nước...

Hoàn cảnh ấy khiến Thiệp sinh chủ quan, kiêu ngạo. Tôi cho đấy là

dấu hiệu thiếu bản lĩnh. Trong nhiều bài viết, Thiệp cứ xưng xưng tự khoe là

người tài, người nổi tiếng, là nhà văn lớn. Một lần có một doanh nhân trẻ mới

phất lên. Anh ta quen một người học trò của tôi và tỏ ra cũng thích văn chương

nghệ thuật. Có lẽ do ảnh hưởng của anh học trò của tôi (một nghiên cứu sinh),

anh doanh nhân này muốn đóng vai Mạnh Thường quân, mời tôi, Hoàng Ngọc

Hiến và Nguyễn Huy Thiệp đi chơi một chuyến lên vùng Xuân Mai, Hoà Lạc.

Anh ta nhờ tôi mời hộ. Tôi gọi điện cho Hiến. Hiến nhận lời ngay. Tôi gọi điện

cho Thiệp. Thiệp từ chối: “Anh phải cẩn thận, nhiều kẻ nó muốn lợi dụng

chúng mình đấy!” – Thiệp khuyên tôi qua điện thoại như vậy. Tôi nghĩ bụng, rõ

vớ vẩn. Nó lợi dụng mình để làm gì chứ! ở cái nước này, trí thức văn nghệ sĩ có

giá gì đâu mà sợ bị lợi dụng. Đúng là Thiệp càng ngày càng thấy mình to quá,

lớn quá, quan trọng quá.

Vào những năm 80 của thế kỷ trước, Nguyễn Huy Thiệp nổi lên như

một sự kiện quan trọng, có tiếng vang ra cả nước ngoài. Người đầu tiên giới

thiệu Thiệp một cách công phu là Hoàng Ngọc Hiến với một bài viết có cái đầu

đề khá kiểu cách: “Tôi không chúc anh thuận buồm xuôi gió” (Bài giới thiệu

tập truyện Tướng về hưu lần đầu tiên in ở NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh,

1988). Năm 1990, Thiệp nhờ tôi viết lời tựa cho một tập truyện ngắn khác của

anh. Bài viết của tôi không được dùng vì Thiệp nói, có lệnh của công an không

cho in lời tựa cho tác phẩm này (Thiệp từng bị công an theo dõi, có thời gian bị

khám nhà và quản thúc). Tôi gửi bài viết cho tạp chí Sông hương, đăng vào năm

1991.

ý kiến của tôi và Hiến khác nhau. Hiến cho rằng trong truyện của

Thiệp có sự đối lập giữa các nhân vật nam và nhân vật nữ: Nữ là chính diện,

nam là phản diện. Từ đó cho rằng tinh thần phê phán xã hội của Thiệp là xuất

phát từ quan điểm gọi là “thiên tính nữ”. Tôi không tán thành ý kiến ấy, vì thấy

không có sự đối lập này trong nhiều tác phẩm tiêu biểu của Thiệp. Nhận xét của

tôi là sự đối lập về tư tưởng – tiêu cực và tích cực của các nhân vật trong truyện

của Thiệp - không phải giữa nam và nữ, mà giữa những nhân vật sống gần với

tự nhiên (thường ở trong nhà, thậm chí trong xó bếp, hoặc ở nông thôn hay

trong thẳm rừng), nên vẫn giữ được bản chất thiên nhiên, bản chất tạo hoá tự

nhiên của mình, với những nhân vật đi vào xã hội, bị xã hội hoá - trong tác

phẩm của Thiệp, xã hội hoá đồng nghĩa với tha hoá. Tôi đưa ra một loạt dẫn

chứng và khẳng định hầu như không có ngoại lệ: Tướng về hưu, Những bài học

nông thôn, Những người thợ xẻ, Không có vua, Trái tim hổ, Muối của rừng...

Hôm ấy, sau cuộc nhậu ở nhà Thiệp, khánh thành pho tượng Phật, tôi

và Hiến tranh luận với nhau. Hiến vẫn giữ ý kiến của mình. Anh nói: “Cậu nên

nhớ, con khỉ dạy cho ông Diểu bài học làm người (trong truyện Muối của rừng)

là con khỉ cái nhé – nghĩa là vẫn đúng với luận điểm “thiên tính nữ”.

Thiệp ngồi quan sát tôi và Hiến tranh luận. Anh chỉ cười.

Hình như càng ngày, Thiệp càng cố tình tạo ra trong tác phẩm của

mình những cảnh đời quái đản, tăm tối, với những con người, từ thế xác tới tâm

hồn, như chui từ bùn rác, cống rãnh lên – Một thái độ hư vô chủ nghĩa, nhạo

báng tuốt, nói ngược lại tuốt, cố tình gắn cái cao cả với cái thấp hèn, cái to tát

với cái bé mọn, cái trinh trắng với cái bẩn thỉu tục tĩu... Một thứ nihilisme –

Dieu est mort – kiểu Nietzsche. Và hành văn cũng theo lối phán truyền của

Nietzsche (style parabolique). Hình như Thiệp có hứng thú (và có sở trường)

ném ra những lời như sấm ngôn, như thánh phán, với những mệnh đề triết lý tù

mù, bí hiểm, có thể suy ra nhiều nghĩa. Tôi ngờ rằng, chưa chắc Thiệp đã có tư

tưởng gì thật sự nên mới làm ra thế để loè thiên hạ, đồng thời che giấu bản chất

còn mù mờ của tư tưởng mình. Người đọc có thể thấy đây đó những điều có vẻ

loé sáng, nhưng không bao giờ thấy có ngọn lửa chân lý hẳn hoi.

Gần đây đã có không ít người nói đến dấu hiệu đuối sức, cạn tài của

Thiệp. Tôi cho chỗ hay nhất của Thiệp vẫn là lối viết táo bạo nhưng chân thật,

hồn nhiên, bản năng. Gần đây Thiệp có truyện Ông Móng viết về cái chợ đêm

bán phân người ở Hà Nội. Người ta khoắng tay vào thùng phân để kiểm tra.

Phân cũng làm hàng giả. Nên mua phân cũng phải khoắng tay để kiểm tra. Cuộc

sống thật quyết liệt, tối tăm, một nhân loại cùng khổ đến thế là cùng. Đúng là

những nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp, là thế giới nghệ thuật của Nguyễn Huy

Thiệp. Cứ phải xục xuống bùn, xục sâu xuống tận đáy cho đục ngầu hẳn lên...

Tôi thấy truyện này rất tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách Thiệp – một chủ

nghĩa hiện thực “không có vua”... Tài nghệ và tư tưởng của Thiệp đã tìm được

một đề tài thích hợp.

Có lẽ nhược điểm của Thiệp là thường thuật kể theo các hành vi ngoại

hiện của nhân vật, ít đào sâu vào đời sống nội tâm của các vai truyện. Vì thế

không viết được tiểu thuyết chăng? Ngày xưa Nguyễn Công Hoan cũng có

nhược điểm này. Nhưng dù sao tiểu thuyết của cụ Hoan cũng không quá dở như

của Thiệp.

Cuối năm 1988, Nguyễn Minh Châu bấy giờ đã mệt lắm. Anh vào

Nam chữa bệnh không có hiệu quả lại trở ra Bắc. Tôi đến thăm anh ở 108. Anh

nói với tôi: “Bây giờ có ai nghiên cứu về cái đề tài này cũng hay đấy nhỉ: Từ

Đỗ Chu đến Nguyễn Huy Thiệp”. Anh không nói gì thêm nữa. Tôi chắc anh

nghĩ đến hai cái mốc đánh dấu hai thời kỳ văn học nước ta, bằng hai tài năng trẻ

cùng viết truyện ngắn: Đỗ Chu là người thể hiện chất thơ của miền Bắc xã hội

chủ nghĩa, còn Nguyễn Huy Thiệp thì thể hiện chất văn xuôi phàm tục và chất

bi hài của chủ nghĩa xã hội hiển lộ ra từ thời kỳ đổi mới.


Chương XXVI: Trần Đăng Khoa


Trần Đăng Khoa từ bộ dạng, cách nói năng (lẫn lộn n với l), đến thói

quen ăn uống đều đặc nông dân: chỉ thích món thịt lợn kho, cá kho, rau muống

luộc, lòng lợn chấm mắm tôm, không thích thịt bò, gà vịt, hải sản, không thích

bia...

Vào khoảng năm 1975, báo Phụ nữ Việt nam có đặt tôi viết một bài về

trường ca Tiếng hát người anh hùng của Trần Đăng Khoa. Bài ấy, tôi ký tên con

gái tôi: Nguyễn Thị Thanh Thuỷ. Nội dung cơ bản của bài viết là khẳng định

Trần Đăng Khoa là nhà thơ nông dân. Tất cả tài năng của anh đều do nông thôn

bồi dưỡng nên. Thành công hay thất bại của tác phẩm đều là do Khoa hoặc nói

bằng tâm hồn và ngôn ngữ nông dân của mình, hoặc mượn ý tưởng, cách nói

của tầng lớp xã hội khác.

Tôi tiếp xúc với Khoa lần đầu tại nhà Khoa ở Nam Sách. Lúc ấy Khoa

học lớp Tám ở trường cấp III Nam Sách (Hồi ấy cấp III gồm 3 lớp 8, 9, 10).

Một đoàn sinh viên sư phạm Hà Nội về đấy thực tập. Tôi về thăm đoàn thực tập

này và nhân tiện tạt về nhà Khoa một lát.Tôi thấy Khoa ứng xử, tiếp đón, nói

năng với khách rất đàng hoàng, chững chạc, không có vẻ một cậu học trò lớp

Tám. Về sau này chính Khoa nói với tôi: “Người ta cứ bảo em hồi nhỏ rất hồn

nhiên, nay không còn hồn nhiên nữa. Không đúng. Hồi nhỏ em chẳng hồn nhiên

gì cả.Nói dối như ranh. Và Khoa kể chuyện này: “Một lần có một cuộc hội nghị

y tế toàn miền Bắc họp ở tỉnh Hải Hưng. Các ông phụ trách hội nghị đưa Khoa

đến để khoe “thần đồng” của tỉnh. Thường họ đề ra cho em làm thơ để thử tài.

Ông Phạm Ngọc Thạch, bộ trưởng Bộ Y tế, tặng em một cái bật lửa. Không

hiểu sao lại tặng mình bật lửa? Tặng trẻ con, lại tặng bật lửa để làm gì! Đúng

là dớ dẩn. Em nghĩ bụng thế. Nhưng em lại phát biểu trước hội nghị: “Bác tặng

em cái bật lửa là rất có ý nghĩa. Đây là ngọn lửa tượng trưng cho lý tưởng cách

mạng. Em nguyện sẽ mang ngọn lửa này trong suốt cuộc đời mình...” Cả hội

trường vỗ tay ầm ĩ, khen thằng bé giỏi quá!

Từ ngày Khoa học trường viết văn Nguyễn Du, tôi tiếp xúc với Khoa

luôn. Có năm Khoa đến ăn Tết với gia đình tôi, quan hệ rất thân mật.

Khoa đúng là có tài, rất thông minh. Có lẽ Khoa có ý thức mình là thần

đồng nên chịu khó đọc sách, đọc sáng tác, đọc phê bình, để có một vốn tri thức

đàng hoàng, có thể ăn nói với đời. Khoa tỏ ra rất hoạt bát. Mồm mép ghê gớm,

phát biểu rất có chủ kiến, đầy tự tin, có phần kiêu ngạo nữa. Những năm gần

đây, tôi với Khoa thường được mời tham gia hội đồng chung khảo của những

cuộc thi sáng tác văn học do Nhà xuất bản Giáo dục, Hội nhà văn hay tổ chức

Văn hoá doanh nhân của Lê Lựu tổ chức. Tôi thấy Khoa rất to mồm, nhiều khi

tỏ ra muốn áp đặt tư tưởng của mình đối với hội đồng.

Khoa thường nói giọng khẳng định dứt khoát, nhiều ý kiến sắc sảo,

nhưng cũng lắm nhận định không chính xác do vốn kiến thức còn lắm lỗ hổng.

Tuy thế tôi vẫn thích nghe Khoa nói. Tôi thích người nói thẳng thắn, có chủ

kiến riêng, dù không đúng cũng gợi cho mình suy nghĩ.

Dưới đây, tôi tường thuật vài đoạn Khoa nói chuyện với tôi (tôi muốn

ghi lại đúng giọng điệu, khẩu khí của Khoa):

“Văn học đang đổi mới. Không thể viết như cũ được nữa. Tất cả cũ

rồi, Các nhà thơ thời chống Mỹ vẫn khá hơn cả, song cũng tắc rồi. Nguyễn Duy

triển lãm thơ bằng cách vất thơ vào rổ rá, cối xay... là vớ vẩn lắm rồi! Nguyễn

Huy Thiệp cũng tắc. Vàng Anh cũng hết – một hồi ta đề cao hơi quá. Phạm Thị

Hoài có khá hơn.

Nhưng cái mới chưa có, chưa xuất hiện. Văn xuôi có khá hơn. Thơ thì

có lẽ thời buổi này không phải là thời của thơ. Đây là thời của truyện, của kịch,

của phim, của tivi...”

“ Hồ Xuân Hương không có. Không có Hồ Xuân Hương! Đàn bà

không tả cái của đàn bà hấp dẫn như thế “Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng”,

đàn ông mới nói thế: “Cô gái ngủ ngày” là đàn ông viết”.

“Em đã ghép mười câu thơ của mười nhà thơ lại thành một bài hoàn

chỉnh. Chứng tỏ thơ ta một thời rất giống nhau, cùng một gương mặt. Em cũng

ghép lại những câu thơ của Huy Cận lại thành một bài thơ về vũ trụ. Lại ghép

bốn nhà thơ, mỗi ông bốn câu, thành một bài hoàn chỉnh.

“Ngoài sân rơi cái lá đa, Lá rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”. Nhiều

người khen, Thực ra không hay lắm, câu thơ trung bình thôi. Chỉ tả cảm giác.

Thơ hay là nói cái nội tâm, cái tình, cái hồn. Như câu “Mái tranh ơi hỡi mái

tranh, Trải bao mưa nắng mà thành quê hương”.

“Phê bình văn học chỉ có ba người: Hoài Thanh, Nguyễn Đăng Mạnh,

Lê Ngọc Trà. Trà thực ra là nhà lý luận. Cụ Mạnh lý luận không phải chỗ

mạnh. Chỗ mạnh là phê bình tác phẩm. Cụ rất tinh”.

Em không thích bài Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi, cả bài Lá Diêu Bông

của Hoàng Cầm. Chả có gì hay. Cụ phản biện đi, hay ở chỗ nào?”. Tôi nói:

“Thơ hay không phân tích, không giảng được”. Khoa: “Không phải thế. Nếu

hay là cụ phân tích được hết”.

Khoa khen bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, không có gì mà hay. Tôi

nói: “Đấy cậu nói không có gì mà hay đấy thôi!” Khoa: “Không phải, hai

chuyện khác nhau, cụ đánh tráo khái niệm”. Nhật có bài thơ tên là Tiếng thu.

Có bốn câu khác hẳn. Nguyễn Vỹ dịch ra giống thơ Lưu Trọng Lư, rồi người ta

tưởng là Lưu Trọng Lư ăn cắp. Một vụ án văn học, oan cho Lưu Trọng Lư”.

“Nhà cổ Hà Nội không gọi là nhà cổ được. Một trăm năm, cổ gì! Tốt

nhất là phá hết khu phố cổ Hà Nội đi. Hội An mới thực là nhà cổ”.

Khoa khi nói hay đế chữ “đấy!” như là một thứ dấu chấm câu vậy:

“Thầy hình dung không?

Em nói thật với thày, đấy!

Nguyễn Khải, Chế Lan Viên thông mình, là đầu bảng - đấy!

Cụ Mạnh viết ra tấm ra món. Thẩm văn rất tinh. Có văn. Nhiều người

có ý mà không có văn. Có ý mà không tải được ra văn, cứ tải ra chữ lại hỏng -

đấy! Cụ Hiến phát hiện thì đúng, nhưng triển khai ra thì như hụt hơi, như ngắn

lưỡi - đấy! TĐX tiếp xúc tay bo thì rất khá. Nhưng viết ra thì không ra sao cả -

đấy! Phải có mắt xanh, ông Xuân Diệu gọi là đầu mày cuối mắt”.

Phạm Xuân Nguyên thông minh, nhưng thẩm văn kém.

Mai Quốc Liên cũng vậy - đấy

Sử có học, nhưng thẩm văn xoàng...”

Nói chung Khoa không thích văn trí thức như văn Nguyễn Tuân,

Nguyễn Đình Thi. Khoa nói dứt khoát với tôi: “Đấy rồi thầy xem, mươi năm

nữa người ta không đọc Nguyễn Tuân nữa đâu!”.

Trong Chân dung và đối thoại, Khoa chê Nguyễn Tuân không biết

uống nước trà. Bà Ân con gái cả của Nguyễn Tuân tức lắm. Bà nói: “Cái thằng

ấy chỉ biết ăn cua ăn cáy chứ nó biết uống trà là cái gì mà dám chê ông cụ tôi.

Tôi đã phục vụ ông cụ uống trà, tôi biết chứ. Pha trà phải kén nước giếng ở một

ngôi chùa là chuyện có thật (trong truyện Nguyễn Tuân gọi là chùa Đồi Mai).

Rồi hầm củi ủ than để đun nước pha trà như thế nào... Nó biết cái gì mà dám

nói láo!”. Hôm ấy, dự lễ trao giải thưởng Nguyễn Tuân cho sinh viên Đại học

Sư phạm Hà Nội, bà nói sôi sục. Anh Nguyễn Xuân Đào, con trai út Nguyễn

Tuân, phải can mãi.

Nhưng Khoa là tay chống chế rất giỏi. Trong Chân dung và đối thoại,

Khoa chê cụ Ngô Tất Tố, trong Tắt đèn cho chị Dậu bán con, so sánh với

Fantine củaV.Hugo bán tóc, là vô nhân đạo. Khoa bị phê phán là không hiểu

ngày xưa người nông dân phải bán vợ đợ con là chuyện phổ biến. Khoa chắc

thấy mình đuối lý nên tìm cách chống chế. Hôm ấy tôi và Khoa được trường

chuyên Hùng Vương (Việt Trì) mời lên giao lưu với học sinh. Khoa nói: “Tôi

không phải không biết chuyện bán vợ đợ con của nông dân nghèo ngày xưa.

Chính tôi có một bà cô phải bán con. Nhưng cụ Ngô Tất Tố cho chị Dậu đem

con đến nhà Nghị Quế, khi nó bắt cái Tý ăn cơm của chó, lẽ ra phải thôi, đem

con về, chấm dứt luôn truyện ở đấy. Ai lại mẹ thấy con phải ăn cơm của chó mà

chịu được!”.

Tôi biết đấy là mồm mép chống chế của Khoa, chứ trong Chân dung

và đối thoại , Khoa có viết thế đâu!

Khoa có một hồi được mời đi nói chuyện khắp. Người nghe rât thích.

Khoa biết cách nói rất hấp dẫn. Một trong thuật hấp dẫn của Khoa là giỏi hài

hước.

Khoa ghét cái gì là chế giễu rất ác.

Thí dụ, Khoa định nghĩa thơ Lê Đạt: Người ta nói “Tôi đi ăn cơm”, thì

Lê Đạt viết “Cơm đi ăn tôi”.

Trong một cuộc nói chuyện, Khoa dẫn thơ của Hoàng Hưng, Dương

Tường để giễu cợt:

Anh lang thang em...

Anh mini em...

Anh xanh xao em...

Anh tiết canh em...

Khoa cố tình tách những cụm từ ấy ra khỏi văn cảnh, biến chúng thành

298

khôi hài.

Khoa có cách diễn đạt rất tinh quái khi nhận xét lối phê bình của

Nguyễn Hoà: “Nguyễn Hoà là tay phê bình nghiệp dư, nhưng là nhà bóp dái

chuyên nghiệp. Hoà thực hiện được hai “cú” rất ngoạn mục: bóp vú Hà Minh

Đức và bóp dái Đoàn Thị Đặng Hương”.

Khoa kể câu chuyện này cũng vui: có một cô gái ở Sài Gòn kém Khoa

hàng chục tuổi, nhưng vẫn tưởng Khoa là một em thiếu nhi làm thơ. Cô gửi thư

cho Khoa gọi Khoa là em, muốn kết nghĩa chị em và khuyên Khoa chăm học,

nghe lời cha mẹ, tập thể dục buổi sáng...

Nghe Khoa nói, chỉ nên tin một nửa. Rất có thể chỉ là bịa cho vui.

Khoa đặc biệt có tật nói dối. Nói dối chẳng để làm gì cả. Một thói quen thế thôi.

Thí dụ Khoa khoe, tập II Chân dung và đối thoại đã viết xong. Có một bài viết

về Nguyễn Đăng Mạnh. Có những bài trả lời những người phê phán Chân dung

và đối thoại tập I... Sách in như thế nào, bìa ra sao, nhuận bút bao nhiêu. Khoa

còn nói cho biết cả nội dung các bài viết nữa. Khoa nói với tôi chuyện này dễ đã

sáu, bẩy năm rồi mà tới nay vẫn chẳng thấy mặt mũi tăm hơi gì. Mà khi nói,

Khoa toàn báo cho biết sắp in đến nơi.

Tôi nhớ cách đây dăm năm, mồng một Tết, Khoa có đến tôi (ở Quan

Hoa, Cầu Giấy). Khoa có kể cho vợ chồng tôi nghe anh sắp viết một vở kịch

vui: “Thị Nở cưỡi trâu ra tỉnh”. Cho đến nay vẫn chưa thấy viết.

* *

*

Người ta thường xì xào về chuyện sinh lý của Khoa, giống như Xuân

Diệu. Đã có người làm vè chế giễu.

Nhưng Khoa đã lấy vợ. Tôi có được mời tới dự. Ngay hôm cưới, Lê

lựu, bạn chí cốt của Khoa, vẫn không tin Khoa có thể làm ăn được gì. Anh nói

với tôi ngay ở tiệc cưới như thế. Nhưng vợ Khoa có mang và sinh con gái. Khoa

được thể nói phét: “Mình từng rắc con nhiều nơi, con rơi con vãi của mình nay

đã lớn, có thể bồ bịch với Trần Đăng Xuyền được”. Khoa nói với tôi hôm ấy ở

Cần Thơ, có mặt Trần Đăng Xuyền.

Khoa bây giờ là tay khôn ngoan có tiếng, đối đáp rất sắc sảo. Tô Hoài

nói, Khoa là quân sư quạt mo của Hữu Thỉnh. Trong ban chấp hành Hội nhà văn

khoá 7, Vàng Anh hay gây sự với Hữu Thỉnh. Khoa là người đứng ra gỡ bí cho

Hữu Thỉnh.

Theo chỗ tôi biết, Khoa còn là quân sư quạt mo cho Lê Lựu nữa trong

việc điều hành tổ chức Văn hoá doanh nhân.

Hai tay nông dân này hợp nhau trên mọi phương diện.



Kết luận


Tôi năm nay 77 tuổi. Tuổi âm lịch 78 (canh ngọ)

Nhìn lại, thấy cuộc đời mình cũng có thể xem là may mắn. Đất nước

đánh nhau 30 năm, hàng triệu người chết. Mình không chết. Thế là một cái

may.

Xã hội mình, pháp luật lỏng lẻo. Bao nhiêu người bị bắt oan. Mình

không bị bắt. Thế là hai cái may.

Nhớ lại hôm có mấy nhà văn Thuỵ Điển sang Việt Nam, đưa tin thất

thiệt tôi bị bắt. Tôi được Hội nhà văn mời ra gặp mấy ông Thuỵ Điển. Trên

đường về, tôi tạt qua Nhà xuất bản Giáo dục, thuật chuyện này với Nguyễn

Khắc Phi, lúc ấy làm tổng biên tập. Phi nói gọn lỏn: “Anh bị bắt là đáng lắm!”.

Như vậy, chuyện tôi bị bắt là một khả năng thật sự, nghĩa là rất có thể xảy ra.

Hồi ở Đồng Xa, vào năm 1987, tôi từng “được” một anh A25 đến thăm

hỏi. Họ cũng luôn đến lục lọi hồ sơ lý lịch của tôi ở phòng tổ chức Đại học Sư

phạm Hà Nội. Các vị ở phòng tổ chức cán bộ cho biết như vậy. Nhưng rồi cũng

chẳng sao. Vẫn được đủ thứ: giáo sư, nhà giáo nhân dân, giải thưởng Nhà

nước... Đúng là số tôi có quý nhân phù trợ.

* *

*

Có lẽ tôi có gien của ông bố: ham chơi, vui đâu chầu đấy, thích hưởng

lạc. Từ 14, 15 tuổi đã tập hút thuốc lá. Rồi thích đọc văn NguyễnTuân viết về

những thú hưởng lạc. Tôi chủ trương, trời cho hưởng cái gì, không bao giờ từ

chối, không việc gì phải từ chối. Nhưng không có thì thôi. Tôi có thể sống kham

khổ mà vẫn vui. Và thực tế, tôi đã sống như vậy. Thuở nhỏ, bố mẹ và các anh

chị cho tôi là một thằng bé rất dễ tính về chuyện ăn uống. Tôi có thể ăn cơm

nguội với muối trắng mà vẫn thấy ngon. Có một lần, nhà có quả bưởi sần, múi

khô, mọi người chê ăn như nhai rơm. Thế mà tôi vẫn chén hết. Lớn lên, trong

chiến tranh, tôi từng phải ăn cháo sắn, thậm chí ăn củ chuối trừ bữa. Tôi rất ghét

những tay cay cú, cố đấm ăn xôi, của trời muốn vơ vét hết...

* *

*

Đánh giá con người, tôi có hai tiêu chuẩn. Một là tiêu chuẩn đạo đức.

Hai là tiêu chuẩn thẩm mỹ. Có những loại người tôi rất ghét, tuy không ác, thậm

chí còn tỏ ra tử tế đối với tôi nữa. Ghét vì tầm thường, nhạt nhẽo, vô duyên,

nhàm chán, phi thẩm mỹ. Tất nhiên loại người này không thể hoàn toàn lương

thiện được. Song đó không phải nét nổi bật của họ. Tôi rất lấy làm thú vị khi

tình cờ tìm được cách diễn tả loại người này, nhân đọc Thần khúc của Dante.

Nhà thi hào được Virgile dẫn xuống địa ngục. Ông thấy có một hạng người bị

giam trong một khu riêng. Từ xa đã nghe chúng khóc rống lên thảm thiết.

Họ là ai mà cực độ đau thương?

300

Những linh hồn nhàm chán,

Sống không hèn nhưng chẳng dám khen chê,

Không phản Chúa nhưng cũng chẳng trung với Chúa,

Chỉ vì mình, chỉ vì chúng mà thôi!

Thiên đình tống chúng đi

để Thượng giới khỏi giảm phần tươi đẹp

Địa ngục thẳm sâu

cũng chẳng thèm nhận chúng

Vì sợ đám tội đồ lại có cớ để vênh vang...


Khúc III Thần khúc địa ngục.


Có người đề nghị tôi thử chỉ cho xem một người nào đó trong khoa

Văn Đại học Sư phạm Hà Nội, đúng với tiêu chuẩn “phi mỹ học” nói trên.

Thực ra đưa tiêu chuẩn này, tôi, khởi sự, đâu phải xuất phát từ lý thuyết. Tôi

bao giờ cũng từ thực tế cuộc sống mà khái quát lên, sau đó mới tìm trong sách

vở cách diễn đạt phù hợp. Cho nên tôi có thể chỉ ra ngay mấy mẫu người người

tiêu biểu trong thực tế. Đó là NTH và BVB. Trớ trêu thay, họ lại là cán bộ khoa

Văn, nên suốt đời nghiên cứu và giảng dạy văn học, nghĩa là luôn tiếp xúc với

cái đẹp và bàn về cái đẹp mà chính họ là kẻ phản lại. Nhưng thôi, bọn người

này chỉ nghĩ đến đã đủ chán đời lắm rồi, chả nên quan tâm làm gì! Còn vô lý thì

trên đời này thiếu gì chuyện vô lý!

Ngoài ra có một loại người, tôi cũng không ưa. Cũng là một dạng “phi

mỹ học”, tuy không đáng ghét lắm. Tôi gọi là những người có “bộ mặt thoả

mãn”, lúc nào cũng tươi rói và sáng bóng lên, thể hiện sự thoả mãn hoàn toàn

với bản thân mình. Bộ mặt như muốn nói với mọi người: tôi là người tài đức

vẹn toàn, không có gì phải phấn đấu thêm nữa. Tôi chỉ muốn có dịp dạy dỗ mọi

người về những điều hay lẽ phải. Đương nhiên là tôi phải được mọi người kính

trọng. Ai không kính trọng tôi thì hoặc là kẻ hỗn láo, hoặc là quá ngu xuẩn. Bộ

mặt như thế ở đứa trẻ con thì rất hồn nhiên, đáng yêu. Nhưng ở người lớn thì

thật khôi hài. Tôi có đọc một cuốn sách về tâm lý học, sách này nói về một thứ

bệnh gọi là autosuffisance. Có lẽ chính là bệnh của loại người này chăng? Loại

người này không bao giờ tự vấn xem, trong biển học mông mênh, đâu là giới

hạn của mình, đâu là chỗ ngu dốt của mình. Không được người ta coi trọng, loại

người này rất dễ nổi nóng. Lúc đó anh ta thường tìm ra những cái chẳng đâu

vào đâu của mình rồi đề lên như là chỗ ưu việt, hơn đời: này ngày xưa tôi học

giỏi nhất lớp nhé, có lúc đã được làm trưởng lớp nhé! Thi tốt nghiệp đại học, tôi

đỗ đầu nhé! Lúc tôi bắt đầu dạy đại học và nghiên cứu thì anh còn ngồi ghế sinh

viên nhé!... Nhìn loại người này lúc nổi nóng, thấy không hơn gì một đứa con

nít.

ở khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội có ai như thế không? Tất nhiên

là có, vì chính từ họ mà tôi khái quát ra loại người này. Nhưng thôi nói ra làm

gì. Loại người này, ngoài cái tật nói trên, bụng dạ cũng không đến nỗi xấu. Chỉ

cần được phỉnh nịnh, được tâng bốc là lập tức có thể làm nhiều điều tốt cho bạn.

* *

*

Tôi cho rằng, con người ta dù tài giỏi đến đâu cũng phải hiểu cái giá

của mình thế nào trong con mắt của người đời. Đừng có chủ quan, tự thị. Những

giá trị vật chất, dù ở đâu, với ai, cũng không thay đổi bao nhiêu. Nhưng những

giá trị tinh thần thì khác, giá trị, thân phận anh trí thức thì khác. ở chỗ này, được

coi là vàng bạc, là kim cương, thậm chí vô giá. Nhưng ở chỗ khác, chỉ đáng vất

đi. Trần Đức Thảo, không ít người coi là một đại trí thức, một triết gia cỡ quốc

tế. Nhưng ở Việt Nam, thời Nhân văn – giải phẩm, các ông lãnh đạo chỉ coi như

một thằng chăn bò (ở nông trường Ba Vì).

Đối với đời sống thông thường cũng thế. Quan hệ với giới này, người

này, anh có thể rất được quý trọng. Nhưng quan hệ với giới khác, người khác,

anh cũng chẳng là gì hết, thậm chí bị khinh bỉ. Tôi cho đó là chuyện thường. Mà

khinh hay trọng cũng đều có lý của nó cả. Cho nên bị ai khinh bỉ, chẳng nên tức

tối, buồn khổ làm gì. Còn được ai quý trọng thì phải coi là một sự may mắn,

một ân huệ đời đã ban tặng cho mình.

Và khinh trọng thì cái giá trị thực của mình vẫn thế thôi.

* *

*

Phương châm sống của tôi là phải biết quý trọng cái tài, cái đẹp, lòng

tốt. Người tài, người đẹp, người tử tế là những của quý hiếm trên đời. Không

biết quý trọng ba loại người đó là thiếu văn hoá, là thô bỉ. Viết nghiên cứu,

dựng chân dung văn học, tôi chỉ viết về người tài, người tốt, và chỉ coi là nhà

văn thật sự, những cây bút có tư tưởng, có cá tính và phong cách riêng. Đó mới

là những người có thực tài. Mà trong lĩnh vực văn chương, người tài là người

tạo ra cái đẹp. (Tôi gọi người tài là nhân tài, người đẹp là thiên tài – vì đó là sự

sáng tạo của Tạo hoá, là tài của Tạo hoá).

* *

*

Nhiều người nhận xét, tôi tuy tuổi đã cao, nhưng tính vẫn trẻ, văn cũng

trẻ. Chu Văn Sơn gọi tôi là Cụ Mết. Đỗ Lai Thuý và nhiều người khác không

tán thành. Quả là tôi không thích giao du với cánh già. Chỉ thích chơi với đám

trẻ. Tôi rất ghét thói gia trưởng, tính hách dịch, đầu óc bảo thủ. Đó cũng thường

là tính cách của bọn già. Rất may là tôi làm nghề dạy học, luôn luôn được tiếp

xúc với tuổi trẻ. Cho nên tôi rất yêu nghề dạy học.

Thực ra có hai việc, hay gọi là hai nghề, mà tôi rất thích: dạy học và

nghiên cứu, phê bình văn học. Hai nghề không tách rời nhau và có chỗ thống

nhất: cùng được phát biểu những tìm tòi, suy nghĩ riêng của mình.

Lên lớp được nói những điều tâm đắc với thế hệ trẻ, sướng lắm!

Viết xong một bài văn vừa ý, ngồi đọc lại, sửa câu này, chữ khác cho

thật hoàn chỉnh, cũng rất sướng..

Cả hai công việc trên tôi đều đạt được một số thành tựu. Điều tôi cảm

thấy sướng nhất là được khá đông giới sáng tác yêu mến và rất nhiều học trò

quý trọng.

Nhưng cả hai công việc trên đều có vinh, có nhục, có sướng, có khổ.

Suy nghĩ về một vấn đề gì đó, lắm lúc thấy bí, bất lực, cảm thấy tài năng đã bỏ

mình mà đi rồi. Buồn vô cùng! Dạy học cũng vậy. Không nghĩ ra cái gì mới mẻ,

hay ho để nói với học sinh, cũng buồn vô cùng!

Nhưng buồn nhất, thậm chí cảm thấy chán đời, chán mình, là có những

lúc bỗng nhiên nhìn lại công việc của mình, thấy vô nghĩa quá! Văn chương

đúng là chuyện vớ vẩn. Tản Đà gọi thứ văn hay nhất, thứ văn đích thực là văn

của mình là “văn chơi”. Thảo nào các bậc thánh hiền ngày xưa đều cho rằng

“lập thân tối hạ thị văn chương”.

Vậy mà không hiểu sao các nhà lãnh đạo cộng sản cứ ra sức bơm to vai

trò của thứ trò chơi này khiến nhiều kẻ trong đám cầm bút tỏ ra rất vênh vang,

vênh vang một cách vô lối hết sức. Trong lĩnh vực này, nói như Giả Bình Ao,

“Thiên tài và thằng hề (...) dường như không thể phân biệt rõ”.

Có lẽ Nguyễn Khải nói đúng: các ông cộng sản quan trọng hoá văn

chương vì các ông ấy chủ yếu làm cách mạng bằng tuyên truyền. Mặt khác lại

rất sợ sự thật. Văn chương hay đụng đến sự thật. Cho nên, các ông ấy quản lý

rất chặt mấy thằng viết văn, tuy bọn này có làm được trò trống gì đâu và chúa là

hèn nhát.

* *

*

Tập hồi ký của tôi, trong phần tư liệu riêng, không thấy có mặt một cán

bộ giảng dạy đại học nào – trừ Hoàng Ngọc Hiến. Có người hỏi tôi, vì sao vậy?

Đây là loại người cậu tiếp xúc hàng ngày, am hiểu nhiều nhất. Trong đó cũng có

nhiều tay hấp dẫn đấy chứ! Đúng như thế thật. Nhưng tôi không nghiên cứu họ,

không quan sát, ghi chép gì về họ.

Duy có hai người tôi rất quý trọng. Hai người đồng tuế (canh ngọ).

Cũng tuổi già mà tính vẫn trẻ. Cả hai đều giống nhau ở chỗ, tuy chuyên môn rất

giỏi – một người chuyên về lý luận, gần đây rất say triết học cổ phương Đông

(Hoàng Ngọc Hiến), một người chuyên về văn học trung đại Việt Nam (Phạm

Luận) – nhưng chẳng được phong bất cứ một chức vụ khoa học nào. Sự có mặt

của hai ông bạn này trên đời khiến tôi rất yên tâm. Nghĩa là không cảm thấy cô

đơn, tuy chúng tôi ít khi gặp nhau. Mà có gặp thì cũng không trao đổi tâm sự gì.

Chúng tôi đều không thích tâm sự. Đúng như Xuân Diệu nói: “Chúng mình

hiểu nhau mà không cần phải nói ra”.

Hoàng Ngọc Hiến, tôi đã viết ở trên rồi. Còn Phạm Luận, tôi thấy chỉ

cần nói một câu: đấy là một đấng trượng phu quân tử của thời hiện đại, một cốt

cách đường hoàng, một phong thái thung dung , thật sự coi thường danh lợi:

Bạc tiền gió thoảng thơ đầy túi,

Danh lợi bèo trôi, rượu nặng nai.

(Tản Đà)


Hết

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address