DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,401,787

TỪ NGUYỄN TRÃI ĐẾN ỨC TRAI - Trần Yên Hòa

Tuesday, February 1, 201112:00 AM(View: 18680)
TỪ NGUYỄN TRÃI ĐẾN ỨC TRAI - Trần Yên Hòa

TRẦN YÊN HÒA


TỪ NGUYỄN TRÃI ĐẾN ỨC TRAI


Nguyễn Trãi là đệ nhất công thần đời nhà hậu Lê. Ông hiệu là Ức Trai, nên khi nói về Nguyễn Trãi, người đời sau thường kính trọng gọi là Ức Trai tiên sinh. Sự nghiệp chính trị của ông rất lẫy lừng mà sự nghiệp văn học của ông cũng lẫy lừng không kém. Ông đã để lại rất nhiều thơ văn có giá trị, nhất là bài Bình Ngô Đại Cáo, đó là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước ta. Bình Ngô Đại Cáo đã phân định, xác nhận nước Đại Việt ta là một nước độc lập và tự chủ từ thời mới dựng nước. (chứ không cần đến Hồ Chí Minh tuyên bố trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, 1945)


ntrai

 Hình minh họa: Nguyễn Trãi đưa cha là Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt về Tàu


SỰ NGHIỆP CHÍNH TRỊ CỦA NGUYỄNTRÃI (1380-1442)

Nguyễn Trãi là con trai của Bảng Nhãn Nguyễn Ứng Long, hiệu là Phi Khanh nên cũng thường gọi là Nguyễn Phi Khanh, quê làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn (Chí Linh) tỉnh Hải Dương. Sau dời về làng Nhị Khê, huyện Thường Phúc, hiện nay là Phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông.
Nguyễn Trãi thi đỗ Thái Học Sinh (Tiến Sĩ) dưới thời Hồ Quý Ly, năm ông mới 21 tuổi. Khi quân nhà Minh với chiêu bài diệt Hồ phù Trần, đem quân qua đánh nước ta, để thực hiện mông thôn tính và đô hộ. Hồ Qúy Ly, Hồ Hán Thương bị bắt, Nguyễn Phi Khanh làm quan nhà Hồ nên cũng bị bắt. Quân Minh đưa cả vua tôi nhà Hồ về Kim Lăng (Trung Hoa). Nguyễn Trãi bịn rịn theo cha một bước không rời, định bụng theo cha để phụng dưỡng, nhưng Nguyễn Phi Khanh một mực không cho, khi quân canh lơ là, Nguyễn Phi Khanh nói nhỏ vào tai Nguyễn Trãi “Con về hãy lo trả nợ nước, sau là báo thù nhà”. Nguyễn Trãi đành gạt lệ chia tay cha ở cửa ải Nam Quan.
Sau một thời gian ẩn sĩ qui điền để nghiên cứu binh thư đồ trận, ông hay tin Lê Lợi dấy quân khởi nghĩa chống quân Minh ở đất Lam Sơn, đang chiêu hiền đãi sĩ, ông liền lặn lội đến hợp tác.
Ông dâng lên cho Lê Lợi, bấy giờ lấy vương hiệu là Bình Định Vương, một chiến lược Bình Ngô. Bình Định Vương biết rõ tài của Nguyễn Trãi liền phong cho ông chức Quân Sư. Trong suốt 10 năm kháng chiến gian khổ, lúc nào ông cũng cận kề Bình Định Vương, không khác nào hình với bóng, để tổ chức mọi việc như quân sự, chính trị. Mọi giấy tờ, văn thư giao thiệp với nhà Minh, cho đến các hịch vua truyền ra ngoài cho binh sĩ và dân chúng đều do ông thảo ra cả.
Sau 10 năm kháng chiến, chiến thắng quân Minh, ông vâng lệnh Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), thảo ra bài Bình Ngô Đại Cáo để báo cáo cùng quốc dân công cuộc kháng chiến thành công. Nguyễn Trãi được phong tước Quan Phục Hầu, được đổi sang họ nhà vua, tức là Lê Trãi, và giữ chức Nhập Nội Hành Khiển, được ra vào cung đình bất cứ lúc nào cũng được.

 

VỤ ÁN OAN

 Vua Lê Thái Tổ mất năm 1433, con là Thái Tôn lên nối ngôi. Vua Lê Thái Tôn còn nhỏ dại nên mọi việc đều ở trong tay quan phụ chính đại thần Lê Sát. Lê Sát lộng quyền làm những điều càn dỡ. Khi vua Lê Thái Tôn biết rõ liền trừ khử Lê Sát. Nguyễn Trãi nhận thấy nhà vua nhu nhược, không có chí lớn như vua cha, lại đam mê tửu sắc, ông liền xin về trí sĩ ở Côn Sơn, thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (năm Quí Mùi-1439), lúc bấy giờ ông đã 60 tuổi.
 Vào năm Nhâm Tuất (1442) vua Lê Thái Tôn đi tuần phương Đông, duyệt võ ở Chí Linh, Nguyễn Trãi liền ra đón nghinh tiếp xa giá nhà vua. Lê Thái Tôn mới đến chơi nhà chùa Côn sơn là nơi Nguyễn Trãi ở. Nhân thấy người tì thiếp của ông là Nguyễn Thị Lộ, nhan sắc lộng lẫy, lại có biệt tài về văn chương, vua Lê Thái Tôn liền phong cho chức Lễ Nghi Học Sĩ, ngày đêm hầu hạ bên cạnh nhà vua. Đến khi Đông tuần, xa giá vua Thái Tôn về đến Vườn Lê Chi, xã Đại Lai, huyện Gia Định, thình lình nhà vua nhuốm bịnh sốt. Thị Lộ hầu hạ suốt đêm, rồi vua Lê Thái Tôn mất.
Các quan hốt hoảng vội vã bí mật phụng giá về cung, nửa đêm về cung mới phát lễ tang. Tất cả đều đổ tội cho Thị Lộ có âm mưu giết vua, liền đem Thị Lộ ra giết chết. Lại có nhiều người trước đây đố kỵ với Nguyễn Trãi vì được Lê Lợi trọng dụng, đem lòng oán giận, nhân dịp nầy kết tội cho ông là chủ mưu cho Thị Lộ giết vua. Ông bị giết và cả 3 họ bị tru di.
Cái oán oan nầy mãi 22 năm sau, vua Lê Thánh Tôn xét lại thấy nhiều điều oan khuất cho vị khai quốc công thần, liền truyền huỷ bỏ án trước, truy phục chức cho Nguyễn Trãi, con cháu ông còn lại được mời ra làm quan, lại cấp cho tư điền để lo việc tế tự hàng năm.

SỰ NGHIỆP VĂN HỌC
 

Những tác phẩm của Nguyễn Trãi được kể sau đây:

- Nổi tiếng nhất là bài Bình Ngô Đại Cáo nghĩa là lời bá cáo về việc bình xong quân Ngô (tức nhà Minh bên Tàu) viết vào năm 1427.
- Lam Sơn Vĩnh Lăng thần đạo bi ký: nghĩa là văn bia của vua Lê Thái Tổ viết vào năm 1433.
- Băng Hồ di sự lục: nghĩa là chép lại việc của Băng Hồ tiên sinh (bút hiệu của Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi), viết năm 1428.
- Ức Trai Thi Tập gồm có hơn 100 bài thơ ngũ ngôn và thất ngôn, trong đó có bài Côn Sơn ca và Chí Linh sơn phú.
- Trung Quân Từ Mệnh Tập, nghĩa là tập ghi về thư từ mệnh lệnh trong quân.
- Địa Dư Chí viết về Địa Dư nước Đại Việt.


 Chúng ta đã đọc qua tiểu sử của Nguyễn Trãi, một vị khai quốc công thần đời nhà hậu Lê, có công lớn trong công cuộc kháng chiến chống quân Minh, đem lại tự do và độc lập cho tổ quốc. Nguyễn Trãi là nhà yêu nước, là vị anh hùng dân tộc, là nhà chiến lược, nhà tâm lý chiến tài giỏi nên trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ngành Chiến Tranh Chính Trị, đã phong Nguyễn Trãi làm Thánh Tổ.
Nguyễn Trãi là Thánh Tổ Ngành Chiến Tranh Chính Trị QL/VNCH.
 
HẬU DUỆ NGUYỄN TRÃI

Năm 1966, Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt được thành lập, với mục đích đào tạo những sĩ quan hiện dịch, văn võ toàn tài, giỏi vể chiến tranh tâm lý, đem chủ nghĩa quốc gia dân tộc, tự do, dân chủ chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản.
Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị đã đào tạo được 6 khóa Sinh Viên Sĩ Quan (từ khóa 1 đến khóa 6), đã cung ứng cho QL/VNCH khoảng 1000 sĩ quan hiện dịch. Trong thời gian từ 1969-1975 có khoảng 150 sĩ quan CTCT đã anh dũng hy sinh trong lúc chỉ huy hành quân tác chiến hay khi thi hành nhiệm vụ, thực hiện các công tác CTCT.

Rất tiếc là vận nước đã đến hồi sang trang. Sau 30-4-1975, một số anh em đã di tản được ra nước ngoài, còn lại tất cả đều bị vào tù cộng sản (tập trung cải tạo), ngươì nhẹ nhất cũng phải trên 5 năm., người nặng thì từ 8 đến 10 năm. Bởi vì, với cộng sản, sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị được đánh giá là “giặc nói” nên rất quan trọng, tội đáng “cắt lưởi”.

(Không biết Vụ Án Oan của Nguyễn Trãi có “vận” vào cho các hậu duệ của ông không mà khi các Sĩ Quan xuất thân từ ĐH/CTCT/ĐL ra trường bị bầm dập đủ thứ, vừa bị các đơn vị trưởng “đì” vì kỳ thị, không ngóc đầu lên được, nhưng đến khi đi tù cộng sản thì được cộng sản cho là có tội nặng nhất nên cũng bị “đì” dài dài, nhốt tù lâu hơn các sĩ quan tác chiến.)

Qua Mỹ một thời gian, anh em sĩ quan xuất thân từ Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị tập hợp nhau lại và thành lập Tổng Hội Ái Hữu Cựu Sinh Viên Sĩ Quan CTCT. Số hội viên hiện nay lên đến trên 500 người, Họ vẫn tôn Nguyễn Trãi làm Thánh Tổ.
Các khóa sinh viên sĩ quan CTCT lần lượt đều lấy tên Nguyễn Trãi, như Khoá 1 thì lấy tên là Khóa Nguyễn Trãi 1 và hội viên cũng được gọi tên Nguyễn Trãi, ví dụ như Nguyễn Trãi 1 Nguyễn Văn A, còn vợ của hội viên Nguyễn Trãi thì được gọi là Nàng Dâu Nguyễn Trãi, con thì là Hậu Duệ Nguyễn Trãi…
Với tâm nguyện của anh em hội viên cũng như của Tổng Hội là, lấy lời của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo làm kim chỉ nam:
Đem Đại Nghĩa để thắng hung tàn
Lấy Chí Nhân mà thay cường bạo


ĐẶC SAN ỨC TRAI.

sachbao1023-20


Đặc San Ức Trai là Tiếng Nói của Tỗng Hội/AH Cựu SVSQ/CTCT/Đà Lạt do Ban Chấp Hành Tổng Hội Chủ Trương. Vì Thánh Tổ Nguyễn Trãi có hiệu là Ức Trai và ông cũng có Ức Trai Thi Tập nên hậu duệ của Nguyễn Trãi, THAH/CSVSQ/CTCT/ĐL cũng lấy tên là Ức Trai để làm tựa đề cho Đặc San của mình.

Trong thời gian từ khi thành lập Tổng Hội đến nay, đã phát hành được khoản 15 Đặc San Ức Trai. Mới đầu với hình thức Bản Tin Ức Trai, nhưng từ năm 1997 đến nay, lấy tên là Đặc San Ức Trai, sách được in ấn kỹ lưởng, bài vở giá trị.

Xin giới thiệu Đặc San Ức Trai với quý bạn đọc. Như một tâm nguyện trong Lời Ngỏ hầu đóng góp tích cực cho cuộc đấu tranh chung của dân tộc, giải thể chế độ cộng sản độc tài, đi đến đa nguyên, đa đảng, cho một Việt Nam Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trong tương lai.”


TRẦN YÊN HÒA


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, October 24, 20208:41 AM(View: 50)
Đêm thứ nhất, sau khi trét xong cái vách đất biến ngôi nhà thành một cái hang lộ thiên khổng lồ, ông không thể nào chợp mắt được. Cái mùi xăng vẫn còn nồng nặc, rồi mùi của đất ướt ngai ngái, mùi của bóng tối đậm đặc, mùi của cây gỗ bị rang nóng… làm ông ngạt thở. Đã mấy lần ông chui ra ngoài hiên, ngồi đốt thuốc nhìn trời. Ngân hà giống con sông chảy qua làng trong mùa lũ, trông mênh mang cả một trời sao trắng đục. Ông thấy sao con công vẫn còn kéo cái đuôi óng ánh dài lê thê, sao con vịt xấu xí hếch cái mỏ lên trời và ông nghe thấy tiếng con chim heo kêu ụt ụt. Không có tiếng vạc kêu, cũng không có tiếng chim cú ném vào đêm tối những tiếng kêu dài ma quái. Đất trời vẫn yên hàn thanh tịnh, chỉ có lòng người vẫn không ngớt dậy lên những trận phong ba kinh hồn, lúc nào cũng để lại những tiếng dội âm ỉ như tiếng sấm rền trong mây. Cớ làm sao chỉ một bước mà mình đã lên địa chủ? Rồi một bước nữa là phản động. Đâu phải mình muốn bước mà mình bị đẩy lên, bị nắm tóc kéo lên chỉ sau một
Tuesday, October 20, 20209:29 PM(View: 101)
Cung Tiến từ nhỏ được xem là nhạc sĩ tài hoa, học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ Thẩm Oánh và Chung Quân. Năm 1952 theo thân phụ vào Sài Gòn học tại hai trường trung học Nguyễn Trãi và Chu Văn An. Năm 1953, sáng tác hai nhạc phẩm bất hủ Thu Vàng và Hoài Cảm. Theo lời anh “Lúc đi, nhớ tất cả những gì mà ở Hà Nội ghi vào ký ức mình”. Ca khúc Thu Vàng, điệu valse, khi nghe tưởng chừng như những bước chân chim nhảy nhót trên lá thu, và Hoài Cảm nhưng tâm trạng của kẻ tình si “Lòng cuồng điên vì nhớ. Ôi đâu người, đâu ân tình cũ… Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa” thật tuyệt. Thật khó tưởng tượng cậu học sinh lớp Đệ Lục (lớp 7) mà viết lên lời ca hay như vậy. Nhạc sĩ Cung Tiến sáng tác hai ca khúc Hương Xưa và Nguyệt Cầm. Thể loại nầy từ lời ca và giai điệu mang chất classical nên thường gọi là dòng nhạc bán cổ điển (semi-classic, semi-classical). Ca khúc Hương Xưa (1956) đã một thời nổi tiếng qua tiếng hát điển hình như Lệ Thu, Hà Thanh, Sĩ Phú, Duy Trác (Mai Hương trình bày với
Sunday, October 18, 20204:22 PM(View: 152)
Tôi chỉ là một công dân hạng hai cầm bút chứ không phải là nhà văn. Lại càng không phải là nhà văn có thương hiệu cho dù là cấp xã hay cấp nhà nước. Tôi viết trước hết cho các con tôi vì chúng rất mù mờ không hiểu cha ông chúng đã sống và đã chết như thế nào trong suốt hơn nửa thế kỷ dông bão vừa qua. Tôi có người bạn bảo bây giờ viết như Kinh Kha buồn. Nghĩa là biết chẳng tới đâu mà vẫn phải cầm lấy bút như cây chủy thủ. Tôi nghĩ còn hơn Kinh Kha buồn vì sông Dịch bây giờ chẳng những lạnh mà hoang vắng đến rợn người. Chẳng có một tân khách nào dám tiễn đưa. Cái đất Tần ấy lúc này đang ngút trời gươm đao bất trắc. Từ lúc nạn đói năm Ất Dậu đến nay có bao nhiêu triệu công dân hạng hai Việt Nam đã chết? Hai triệu? Năm triệu? Hay mười triệu? Chết vì đói, vì thủ tiêu, vì đấu tố, vì tố cộng, vì Mậu Thân, vì cải tạo, vì vượt biên… Cho dù ở bên nào họ cũng chỉ là những nông dân nghèo, cả đời khát khao mảnh vườn thửa ruộng. Chính vì vậy mà họ bị lừa phỉnh, bị lợi dụng, bị sai khiến.
Wednesday, October 14, 20208:35 AM(View: 237)
Cách đây hơn bốn mươi năm, khi còn ngồi trên ghế nhà trường cấp III, có một lần, trong buổi ngoại khóa, chúng tôi được thầy H. B. N. bình bài “Tiếng hát sông Hương” của nhà thơ Tố Hữu. Thầy bị cụt một tay, người chỉ được một mẩu, đuôi mắt trái lại có mụn ruồi to đùng nhưng giảng văn thì cực hay. Dường như những khi đứng trên bục giảng, thầy đã hóa thân vào tác phẩm, để rồi, trong phút xuất thần, chuyển tải cái nhân sinh quan cộng sản của một ông râu xồm mãi bên trời Tây vào con tim ngu ngơ của đám học trò nông thôn, quần âm lịch, chân đất, vốn chưa biết gì về nạn mại dâm. Theo sự phân tích rất logic từ mỹ học Marx-Lenin, thầy khẳng định, cô gái sông Hương là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị giày vò cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy nhiên, nỗi ô nhục ấy sẽ mất đi, người con gái vướng vào kiếp nạn ê chề sẽ được hoàn lương một khi Cách mạng vô sản thành công. Chân trời mới sắp mở ra. Những thân phận bọt bèo, lạc loài sẽ được sống trong một xã hội công bằng, hạnh phúc, đầy hoa
Sunday, October 11, 20203:27 PM(View: 188)
Vậy mà Lê mất đã một năm... Giờ này năm trước, tôi đang ở Việt Nam có chút việc, và cứ tưởng mình sẽ không đến dự kịp lễ tang của anh tại nhà quàn Peak Family. Nhưng may thay, cuối cùng công việc lại êm xuôi và tôi trở về Bolsa kịp đúng vào buổi sáng ngày di quan linh cữu của anh - nhà thơ của hằng ngàn bài thơ tình trong số đó có nhiều bài thuộc loại nằm lòng của rất nhiều bạn đọc Việt Nam, nhất là phái nữ. Dù phải trải qua chuyến bay dài, tôi cũng dễ dàng bỏ qua sự mệt mỏi để đến dự tang lễ và nhất là đến để đưa tận tay chị Hạnh Tuyền, vợ anh, chiếc cọ vẽ cũ của tôi. Trong một buổi sáng cà phê nào đó ở Little SG, anh đã từng ngỏ ý muốn tôi tặng một cây cọ đã dùng của mình cho bộ sưu tập những cây cọ vẽ cũ của các hoạ sĩ Việt Nam nổi tiếng mà chị cất công sưu tập bấy lâu. Và đó là lúc mà tôi thực hiện lời hứa với bạn mình, chỉ là không ngờ phải thực hiện ngay trước linh cữu bạn. Tầm 11 am, sau khi tìm được chỗ đậu xe, tôi đến nơi đang có rất nhiều người trong trang