DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,142,820

MỘT LẦN NHỚ LẠI...- Nguyễn Vĩnh Giao (cựu hs TCV)

Sunday, May 4, 201412:00 AM(View: 3703)
MỘT LẦN NHỚ LẠI...- Nguyễn Vĩnh Giao (cựu hs TCV)

MỘT LẦN NHỚ LẠI...

Hồi Ức 30 Tháng 4

 

 

blank

 

 

Tối 29 tháng Tư, tôi theo chân những người lính Lực Lượng Đặc Biệt, lên một trong ba chiếc tàu Quân Vận đang chờ chúng tôi ở Tân Thuận. Giữa đêm, tàu theo sông Sài Gòn, đưa chúng tôi ra biển Đông.

Sáng 30, giữa lúc đất nước đang cúi đầu trước lệnh đầu hàng, chúng tôi ngồi co ro trên sàn tàu ngoài khơi Vũng Tàu. Vây quanh chúng tôi là gió mưa ngập trời. Mọi người lặng lẽ, nhìn lá cờ vàng treo ở cuối thân tàu. Cờ ướt sũng nước mưa, bay không nổi.

Rồi gió bảo cũng qua đi. Tàu chạy mãi, chạy mãi đưa chúng tôi càng lúc càng xa quê hương. Đến xế chiều, chúng tôi gặp một chiếc xà lan đang được một chiếc tàu kéo nhỏ kéo đến, trôi bồng bềnh. Chiếc xà lan nầy, trước đây được người Mỹ dùng để chở đạn dược từ Phi Luật Tân qua tiếp tế cho Việt Nam. Xà lan rộng như một sân banh, chung quanh được vây bọc, che chở bằng một bức tường bao cát dày, cao quá đầu người.

Chúng tôi được lệnh bỏ tàu Quân Vận, lên xà lan. Tôi leo lên đỉnh bức tường bao cát, nhìn xuống. Bên trong xà lan là người tỵ nạn, năm ngàn người, mười ngàn người, đầy kín, không một chổ cho tôi chen chân. Tôi ngồi rất lâu, nhìn đám người tỵ nan. Ở họ, tôi nhìn thấy tôi. Mệt mỏi. Thẩn thờ. Vô vọng.

Tôi leo xuống, ra ngồi ở một mép xà lan, nhìn biển, nhìn trời. Trên đầu tôi, mây xám một màu. Dưới chân tôi, đại dương sau thẳm. Trong cơn quốc biến, tôi ra đi vội vã, không nói được một lời từ biệt với ai, mà cũng không có ai để tôi hẹn một buổi tương phùng. Giờ đây, giữa bao la của biển trời, tôi như chiếc xà lan nầy, lạc loài, vô định. Bao nhiêu mộng ước tôi xây đắp một đời, bây giờ đành chôn vào đáy biển sâu.

Trời sẫm tối, chiếc tàu kéo cắt giây, nổ máy bỏ đi. Tôi nhìn theo chiếc tàu kéo, chút hy vọng được sống sót để có ngày nhìn lại quê hương cũng như ngọn đèn trên tàu, mờ dần, mờ dần. Bất chợt, chìm trong hoàng hôn tím thẩm, chiếc tàu kéo nổi lên một hồi còi dài. Tôi nghe tiếng còi tàu thê thiết mà tưởng chừng như tiếng oan hồn đang ơi ới gọi tên mình...



blank

 



CHIỀU DI TẢN


Chất đầy một chiếc xà lan

Mười ngàn người với mười ngàn nổi đau

Dưới chân, con sóng xua mau

Trên đầu mây phủ một màu tang thương

Ngậm ngùi từ biệt quê hương

Chôn mộng mơ giữa đại dương vô cùng

Ra đi không hẹn tương phùng

Vừa vẫy tay, đã nhớ nhung mỏi mòn

Nghe còi tàu xé hoàng hôn

Tưởng chừng như tiếng oan hồn gọi tên


Tôi và một số người đồng cảnh trên chiếc xà lan được một chiếc tàu hàng mang cờ Mỹ vớt lên. Sau gần hai ngày hải trình, tàu đưa chúng tôi đến căn cứ Hải Quân Mỹ ở Subic Bay, Phi Luật Tân.

Tôi theo đám người tỵ nạn xác xơ xuống bến. Sau khi làm xong một loạt những thủ tục tỵ nạn, an ninh lỉnh kỉnh, chúng tôi được đưa đến nơi tạm trú để chờ di chuyển đến các trại tỵ nạn. Khu tạm trú giống như một trại tù, chung quanh bao bọc bằng một lớp rào kẽm gai. Bên trong khu tạm trú, hàng trăm lều bố được Công Binh Mỹ dựng lên vội vã, bên trong mỗi lều là mấy hàng ghế bố cho người tỵ nạn ngã lưng.

Sau mấy ngày trên xà lan và tàu hàng, tôi mệt ngoài, nên vừa đến lều của mình, tôi ngã người lên ghế bố, thiếp đi. Khi tỉnh giấc thì đã quá trưa. Tư nhiên thấy đói khát vô cùng, tôi đến nhà ăn tìm thức ăn thức uống. "Nhà ăn" là một trại bố lớn, bên trong là mấy hàng ghế xếp và mấy thùng nước đá lớn dùng để chứa thức ăn, nước uống. Khi tôi đến đã quá giờ ăn; ngoài một cô gái Phi làm việc ớ đây, bên trong nhà ăn không một bóng người. Đã hết giờ làm việc, cô gái Phi ngồi ở một góc lều, một tay cầm một ổ bánh mì sandwich, một tay cầm một lon nước ngọt chưa mở, chuẩn bị ăn trưa. Thấy tôi đến, cô gái ngước lên nhìn, tay xua lia lịa. Tôi mở mấy thùng nước đá; thùng nào cũng trống trơn. Tôi đứng tần ngần, hết nhìn cô gái rồi lại nhìn quanh quất. Sau một lát, tôi thở dài, lắc lắc đầu rồi quay lưng định bỏ đi. Chưa ra khỏi lều, đã nghe tiếng cô gái gọi. Tôi quay lại, nhìn cô gái. Cô gái rời chỗ ngồi, đến bên tôi, rồi đặt vào tay tôi cả ổ bánh mì sandwich lẫn lon nước ngọt. Tôi nhìn cô gái, sững sờ. Cô gái nhoẻn miệng cười thật tươi, nhìn tôi, gật gật đầu rồi quay người bước đi. Tôi đứng sửng nhìn theo lưng cô gái Phi. Bữa ăn trưa hôm ấy của tôi, ngọt ngào tình người, ngon vô cùng.

Mấy ngày sau, tôi rời khu tạm trú. Khi ra đi, tôi vẫn chưa có dịp gặp lại cô gái để nói cám ơn bằng tiếng Phi mà tôi đã cố học từ một người lính Mỹ. Mấy mươi năm sau, khi nghĩ đến mấy ngày ở Subic Bay, tôi vẫn còn thấy rõ đôi mắt, nụ cười của cô gái, và lòng vẫn còn mang mang một chút ân hận. Nếu chúng tôi có thể giao tiếp bằng tâm linh, tôi hy vọng cô gái Phi năm nào có thể nghe tôi nói một tiếng, một lần. Salamat.




blank

 

 


GỞI NHỎ PHI Ở SUBIC BAY


Ta, thằng tỵ nạn xác xơ

Quê hương đánh mất, trơ vơ thân gầy

Gặp nhau ở nước non nầy

Bát cơm Phiếu Mẫu chính tay em mời

Mai biền biệt cuối chân trời

Vẫn còn nợ mãi một lời tạ ơn

 

 

Tiếp tục con đường lưu lạc, tôi được đưa đến trại tạm trú ở đảo Wake. Đây là một chùm đảo gồm ba đảo san hô nhỏ bé, nằm bên nhau thành hình cánh cung, trơ vơ giữa biển Thái-Bình. Một đầu cánh cung là một hòn đảo dài và hẹp, có phi đạo và đài khí tượng nhỏ. Đầu kia là một hòn đảo nhỏ, nơi nghỉ chân của các loài chim biển. Hòn đảo ở giửa, lớn nhất, chứa đầy những căn nhà gỗ nhỏ, thấp lè tè. Trong những năm đầu của Đệ Nhị Thế Chiến, đảo nầy là nơi trú thân của một đơn vị TQLC Mỹ. Sau khi chiến tranh chấm dứt, đảo nầy không người ở. Tôi và mấy ngàn người Việt đồng cảnh ngộ là những người đầu tiên đến cư ngụ ở đảo nầy sau khi bị bỏ hoang một thời gian rất lâu.

Tôi nằm trên chiếc ghế bố dành cho mình, liên tưởng đến một chiến binh Mỹ trẻ tuổi cũng nằm trong căn nhà gỗ nầy mấy mươi năm trước đây. Giữa hai chúng tôi có chỗ tương đồng: chúng tôi là những người thua trận. Nhưng người lính Mỹ năm xưa, sau chiến tranh còn có thể trơ về cố hương. Còn tôi, tôi đã thành một người vong quốc mất rồi..

Ớ trại tạm trú, ngày tháng dài lê thê. Tôi không biết làm gì, và cũng không có gì để làm. Chiều chiều, tôi thường đến ngồi bó gối một ghềnh đá ở cuối đảo. Tôi nhìn mấy con hải âu bay liệng xa xa, lòng tự hỏi không biết chúng từ đâu đến, và đêm nay, ngày mai, chúng sẽ đi về đâu.Tôi bất giác thấy mình chẳng khác gì mấy con hải âu nầy, lạc loài, cô đơn; có quê hương, nhưng quê hương đã quá xa, đã vuột khỏi tầm tay của mình. Tôi nhìn những con sóng bạc đầu vỗ tơi bời vào ghềnh đá dưới chân mình. Lòng tôi nào có khác gì ghềnh đá nầy, đã bị sóng của cuộc đời đánh cho nát tan đi rồi

 

 

TRÊN BỜ BIỂN ĐẢO WAKE


Ta ngồi bó gối nơi đây

Vây quanh chỉ nước cùng mây đậm màu

Thấy mình như cánh hải âu

Tấm thân vô đinh biết đâu là nhà

Quê hương giờ đã quá xa

Muốn tìm, chỉ thấy bao la biển trời

Đầu ghềnh sóng vỗ tơi bời

Lòng ta cũng bị sóng đời đánh tan



 

 

blank

 

 

Cuối cùng, tôi được đưa đến trại tỵ nạn chính ở Fort Chaffee, Arkansas. Đây là một trại quân rất lớn, thiết lập hồi Đệ Nhị Thế Chiến để huấn luyện chiến binh Mỹ trước khi họ được gởi ra chiến trường. Giống như đảo Wake, căn cứ nầy bị bỏ hoang trong hơn hai mươi năm. Tàn cuộc chiến Việt Nam, người ta tu bổ lại để làm nơi trú thân và huấn luyện cho mấy mươi ngàn người tỵ nạn trước khi họ hội nhập vào xã hội mới.

Đến Fort Chaffee, chúng tôi thật sự đã đến Mỹ rồi, nên trau dồi khả năng Anh ngữ trở thành cần thiết. Tôi đi học ở một của nhiều lớp Anh ngữ được tổ chức ở trại. Cô giáo của lớp tôi là một sinh viên năm thứ hai ở đại học New Mexico. Suốt mùa hè, cô cùng một số sinh viên từ các đại học khắp nước Mỹ được chính phủ trả lương để dạy dân tỵ nạn học Anh ngữ. Có hai điều đặc biệt làm cho đám học sinh tỵ nạn để ý đến cô sinh viên nầy. Cô rất đẹp, và cô nói tiếng Anh với khẩu âm New Mexico rất lạ tai. Những ngày đầu tiên, nhiều "học sinh" đến học, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, lớp học thưa dần, chỉ còn lại có mấy người. Cuối tháng Tám, cô giáo giả từ bọn tôi, trở lại trường. Tôi và cô đứng trên trước cửa lớp học, trò chuyện thêm vài phút trước khi chia tay. Tôi nhìn mặt cô giáo rạng rỡ dưới nắng chiều, bất giác buột miệng. "You are so beautiful today". Cô cười tươi, cám ơn tôi, rồi hỏi. "How do you say it in your native language?". Câu hỏi của cô làm tôi ngẩn người ra. Khi làm học trò ở quê nhà, tôi bập bẹ học Pháp Ngữ, Anh Ngữ, vì giỏi ngoại ngữ là một biểu tượng của trí thức, của một giai cấp cao hơn trong xã hội. Bây giờ, ở Mỹ, khi tôi có thể diễn tả cảm nghĩ mình bằng Anh Ngữ, tôi lại thấy câu nói dễ thương nhất, tha thiết nhất tôi có thể nói với cô bạn ngoại quốc xinh đẹp nầy lại là bằng tiếng Việt. "Hôm nay cô đẹp quá!"

Ớ Sài-gòn, tôi có cô bạn nhỏ thường gọi tôi là "Lord Giao" phỏng theo nhân vật chính trong truyện và phim "Lord Jim". Tôi hiểu và rất cảm kích."Lord" trong "Lord Jim" là một vương tước, nhưng "Lord" trong "Lord Giao" lại mang một ý nghĩa khác; với cô bạn nhỏ của tôi, tôi là một chúa tể. Ngày xưa khi hai đứa còn bên nhau, tôi yêu thích ngoại hiệu nầy. Nhưng đêm ấy, khi nằm co mình trong bóng tối đối diện với nỗi đau của mất mát chia lìa, tôi có một ước muốn rất nhỏ bé, rất bình thường. Ước gì cô bạn nhỏ đến ngồi bên giường lúc nầy, đặt tay lên trán tôi và gọi nhỏ. "Anh ơi"

 

 

HỌC ANH NGỮ Ở FORT CHAFFEE


Ngày xưa bập bẹ "Je, Vous"

Bây giờ lắp bắp "I, You" ngỡ ngàng

Đêm nằm nhớ kẻ quan san

Tiếng "Anh, Em" cũng lỡ làng, em ơi!!!

 

 

 blank

 

 

Cuối năm 75, tôi rời trại tỵ nạn, đến định cư tại một thành phố lớn ở Texas. Tôi tứ cố vô thân, lạc loài ớ một nơi xa lạ giữa một biển người xa lạ; hoàn cảnh của tôi lúc ấy thật chẳng khác gì trong hai câu thơ của một thi sĩ nào đó mà tôi không nhớ tên. "Cúi nhìn con phố bơ vơ. Đất xa lạ đất, trời ngơ ngẩn trời"

Ngày tháng theo nhau trôi đi, tôi sống lặng lẽ, vui buồn chỉ một mình mình biết, một mình mình hay. Tôi nhắn tin trên báo, mong tìm lại được một hai người bạn cùng lớp cùng trường ngày xưa. Một hôm, tôi nhận được một tấm postcard gởi đến tôi từ một phương trời xa. Một cô bé 16, cũng cô đơn như tôi, muốn làm quen. Bất ngờ và lãng mạn, chúng tôi quen nhau. Rồi yêu nhau. Rồi xa nhau. Chợt đến chợt đi, nhưng trong lòng chúng tôi, cuộc tình mong manh nầy đã là vĩnh cữu. Mấy mươi năm sau, tôi nghĩ cô bé PMT năm xưa chắc cũng như tôi, mỗi khi nhớ lại chuyện cũ, vẫn thấy trong lòng có chút ngọt ngào.

 

 

T. XƯA

 

Em gởi ta một lời chào

Gặp chi kẻ chẳng nơi nào trú thân

 

Em tặng ta một nụ cười

Quen chi kẻ đã là người tha phương

 

Em trao ta một chút tình

Yêu chi kẻ chẳng biết mình là ai

 

Em đến như một nhiệm màu

Phút ban đầu đến bạc đầu chưa quên

 

 



 Nguyễn Vĩnh Giao

(Lương Quang Bình chuyển cho Giao)



*



 

 


_________________________________________________




Mời đọc Quảng cáo


Mua Bán Nhà

 

 


L/l: Marvin Tran

(714) 768 - 8810




blank

 


Nha Khoa

 


blank