DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,142,842

Phan Duy Nhân Trên Con Đường Từ Thức - Hà Khánh Quân

Sunday, May 4, 201412:00 AM(View: 4214)
Phan Duy Nhân Trên Con Đường Từ Thức - Hà Khánh Quân


Phan Duy Nhân

Trên Con Đường T Thc



 

 blank

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 





Trong bài viết Gởi Những Người Bạn Trẻ, nhà biên khảo Hoàng Nguyễn, cũng là thầy hiệu trưởng trường trung học Phan Châu Trinh – Đà Nẵng Nguyễn Đăng Ngọc, đã “hướng nhìn theo chiều hoài niệm”, gởi về các học trò cũ của ông những tình cảm, những suy nghĩ rất chân tình. Những người học trò cũ đó, được ông cho biết: “... tất cả đều trên 40 tuổi, cái tuổi không còn ngập ngừng gì nữa ở cuộc đời (tứ thập bất hoặc!), đã biết gánh chịu trách nhiệm cho ngày nay và hôm mai”. Bài viết không trực tiếp so sánh, đánh giá sự khác biệt của lễ nghĩa sư đồ, giữa thời kỳ điện toán với những niên khóa vừa quay gót không lâu. Nhưng cái ngụ ý của người viết, bạn đọc ai cũng hiểu ra.

 Cái tình bao la của người thầy không cho phép thiên vị trong đối xử. Xã hội Việt Nam chúng ta, con người vẫn thường trực bị đẩy vào hai thế đứng đối nghịch. Đám học trò của thầy Ngọc cũng không nằm ngoài sự chia phân ấy. Nhưng dù ở bên này hay bên kia lý tưởng, những người học trò vẫn được người giáo dục mình nhớ đến đồng đều và trìu mến. Học được tính bao dung chân tình của người thầy cũ. Tôi bớt hẳn nỗi ngại ngùng, bị người khác đội cho mình cái mũ không vừa đầu, để viết về một dòng thơ quí, mà tác giả đã ngã sang hướng nghịch chiều với quốc kỳ màu vàng của tôi.

 

 Khởi từ đầu thập niên sáu mươi, tại thành phố Đà Nẵng, lớp sinh hoạt thơ văn trung niên và sắp về già như: Thái Can, Vũ Hân, Quốc Dân,Việt Trữ, Hồ Mộng Thiệp, Trần Gia Thoại, Tô Như, Thanh Phương, Anh Đô, Hoàng Trọng Thược... hình như chỉ thu hẹp sinh hoạt trong địa bàn thành phố. Cùng lúc đó, trong đám học sinh, nở rộ việc thành lập thi đàn, bút nhóm. Có vóc dáng và nghiêm chỉnh nhất trong những tập họp này là nhóm Cùng Đi Một Đường. Tôi không rõ ai khởi xướng, ai giữ chân nhóm trưởng. Nhưng thành viên của nhóm, hết thảy, với tôi, đều bạn thân tình : Phan Duy Nhân, Huy Giang, Lam Hồ, Tô Yên, Hồ Cư. Trong năm tay viết, có đến ba nhân vật tập tành... khuynh tả. Và cả năm đều có bài đăng khá đều đặn trên các tuần báo, nguyệt san, tạp chí tại Sài Gòn.

 Huy Giang tên thật Nguyễn Đăng Trừng, hiện hành nghề luật tại Sài Gòn.

 Lam Hồ tên thật Nguyễn Hữu Nuối, viết mạnh và đều nhất thời bấy giờ, nhưng đã sớm gác bút khi hành nghề dạy học, hiện vẫn ở Đà Nẵng.

 Tô Yên tên thật Lê Văn Nghĩa, trở thành thiếu tá binh chủng Thiết giáp VNCH, đã hy sinh ở mặt trận Quế Sơn Quảng Nam năm 1972.

 Hồ Cư dùng tên thật làm bút hiệu, đã biệt tích khá lâu trong những ngày anh lên rừng “làm cách mạng”.

 Phan Duy Nhân là người tôi đang níu thơ anh để lang thang hôm nay.

 

 Tôi đã được đọc ba, bốn bài viết có liên quan đến Phan Duy Nhân trong mấy năm vừa qua, không lâu lắm. Những bài viết được thực hiện bởi những người bạn anh, hoặc ít ra khá thân với anh. Trên tạp chí Văn Học tại Hoa Kỳ, anh trai của nhà văn Hồ Đình Nghiêm, anh Hồ Đình Nam, hiện định cư tại Anh Quốc, viết một bài. Những bài khác của các nhà văn Phan Nhật Nam (tác giả Dựa Lưng Nỗi Chết, Dọc Đường số 1...vv) và Nguyễn Chí Thiệp (tác giả Trại Kiên Giam và Việt Nam Khát Vọng Dân Chủ Tự Do). Cả hai nhà văn nổi tiếng chống cộng này, đều là bạn học cùng trường Phan Châu Trinh với Phan Duy Nhân. Phan Nhật Nam cùng nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng (hiện ở Toronto, Canada) học trên Phan Duy Nhân một lớp. Nguyễn Chí Thiệp ngồi cùng với Phan Duy Nhân một dãy bàn, trong suốt bốn năm đệ nhất cấp. Quan hệ thân mật trong tình bạn học, những bài viết của hai ông nhà văn rất chân tình dù đưa ra nhiều điều đáng suy ngẫm.

 

 

 Thơ Phan Duy Nhân thường được “đi” trên tạp chí Bách Khoa, do ông Lê Ngộ Châu điều hành. Tòa soạn Bách Khoa nằm ở số 160 trên đường Phan Đình Phùng Sài Gòn. Dưới đây là Cuối Năm Rời Nhà Trọ, được tác giả xếp vào tập Ngậm Ngải Tìm Trầm. Nhưng tập này đến nay hình như vẫn chưa được xuất bản:

 

  lòng trống không mà mưa cuối năm !

 tre câm cam chịu nỗi cơ hàn

 chăn đơn đời ngủ không đành dậy

 tay vắt ngang mày đợi bóng trăng

 

 này lối thầm xưa ngùi kỷ niệm

 này vuông cửa sổ ngắm, chiều rơi

 mai sương như khói lên đầu ngõ

 giọt nến đêm dài thêm tủi thôi

 

 cau vút thân vời cao chín bậc

 thầm ru chim phượng ngủ trong lòng

 bạn bè mộng thấy dăm ba bận

 ai biết ta nằm đây nữa không ?

 

 mơ ước xa như người đã khuất

 cam thua cau mặt lật con bài

 mưa chiều tượng mỏi im như Phật

 từng giọt buồn rơi qua kẽ tay

 

 trang sách, vuông khăn, vài vạt áo

 vò lòng cúi mặt bước chân ra

 chỉ cần mưa ngớt cho đôi chút

 trời rộng xin đừng gió thổi qua !

 

 Cả bài thơ toát ra một nỗi buồn lặng lẽ, đơn độc. Hơi thơ như những nhịp đập bồi hồi của trái tim. Những buổi chiều cuối năm, vốn mang sẵn một nỗi buồn rất thiêng liêng, rất vô cớ. Ở đây, cái ngậm ngùi bát ngát ấy, lại được lan tỏa bởi nhiều nguyên nhân. Người khách trọ hẳn là kẻ cô độc đã lâu, không rõ vì lý do gì phải rời nơi cư ngụ tạm bợ của mình. Tác giả không nói. Và chúng ta, tưởng chỉ nên chú tâm vào cái hoạt cảnh chia ly, giàu tâm trạng của người ra đi.

 Với nỗi lòng trống không, chẳng chút tình nào đọng lại, người khách trọ buồn bã nhìn quanh. Ngoài trời dày kín những ngọn mưa sướt mướt. Cái lạnh của không gian thổi buốt cái lạnh trong lòng. Dù không đành rời bỏ nơi chốn hẩm hiu, nhưng biết không thể lưu lại, người khách trong những giây phút sau cùng, cố nằm nướng vắt tay ngang mày, nghĩ đến một ngày tươi sáng hơn. Và trong khoảnh khắc anh chợt nhận diện được những thân mật, những tình nghĩa, lâu nay đã sống bên cạnh mình. Đó chính là con đường, từng nâng đỡ những bước ngậm ngùi đi về. Đó chính là cánh cửa, từng thao thức chờ đợi để cùng chứng kiến, những buổi sớm mai sương đầy như khói, những đêm xuống chậm như từng vệt nhễu của ngọn đèn chong. Đời người rồi cũng mòn hao thầm lặng như sự đi đến vô tình của đêm, ngày. Để vượt qua những hoài nghi, hướng đến cái chí cao chín bậc của mình, không cách nào khác hơn là dựa vào cái mơ ước, vẫn nuôi trong lòng. Người khách trọ quyết thử thời vận thêm một lần nữa. Sá gì những giọt mưa, kể chi những nỗi buồn. Tất cả đang rụng xuống, lọt qua kẽ tay, khi con đường xanh mở ra trước mặt. Một chuyến khởi-hành-mới bắt đầu. Hành lý không khác những lần trước là bao. Vẫn một vuông khăn, một trang sách cùng vài vạt áo. Nhưng lần này có thêm được một tấm lòng, dù đã vò nhàu. Ý chí nuôi dưỡng một lý tưởng vẫn còn lóe lên niềm tin, chỉ cần mưa ngớt cho đôi chút...

 

 Người lữ hành trong Cuối Năm Rời Nhà Trọ không xa lạ. Đó chính là Phan Chánh Dinh ngoài đời. Anh sinh năm 1941 tại Quảng Trị, nhưng trưởng thành tại Đà Nẵng. Gia đình anh nằm trong thành phần lao động, nhưng vật chất khả quan, chỉ khá nghèo niềm vui, bởi anh có vài người em không tốt số trong cuộc sống. Nhờ thân phụ là một viên chức nhỏ của ngành hỏa xa, cả gia đình được chung sống trong căn nhà nhỏ, tường xây mái ngói, ngay trạm đổi đường tàu, chạy ngang đường Ông Ích Khiêm. Tuổi niên thiếu của anh ở đó, cùng những đường ray (rail), những sỏi đá và những cánh cửa màu lá già, thường trực đựng đày những dòng thơ anh viết, xóa mỗi ngày. Phan Chánh Dinh theo học tại trường Phan Châu Trinh. Trường trung học công lập này cho anh nhiều bằng hữu thân thiết.

 Cuộc đời thơ của Phan Chánh Dinh sinh động dưới hai bút hiệu Phan Duy Nhân và Dương Phù Sao. Mỗi bút hiệu không chỉ có ý nghĩa mà còn bao trùm cả hoài vọng của người mang nó. Ở bút hiệu thứ hai, thành hình theo lắp ghép: họ của người yêu, cộng một động từ, cộng một biểu tượng.

 Phan Duy Nhân bắt đầu làm thơ năm 1957. Một năm sau bài được đăng trên các tạp chí văn học tại Sài Gòn, nhiều nhất trên tờ Bách Khoa. Nhịp viết của anh bất ngờ lơi dần trong năm 1966. Cũng từ dấu mốc này, cuộc đời chính trị của một Nguyễn Chính, một Thiết Sử được mở ra với nhiều thay đổi dập dồn, bất ngờ.

 Con Đường Từ Thức của Phan Duy Nhân chọn cho mình, xem ra ngược chiều với vị quan đất Kinh Bắc ngày xưa. Một người lơ là danh phận, chỉ hết lòng với thơ phú. Một người tạm gác cái mơ mộng thi ca để đi tìm công danh, dưới hình thức thực thi lý tưởng. 

 Tuyệt đỉnh của chức vụ trên Con Đường Từ Thức của mình, Phan Chánh Dinh có trong tay Quyền Trưởng Ban Tôn Giáo của chính phủ (CHXHCNVN). Một chức sắc nghe còn khá lạ tai. Không rõ quyền hạn rộng đến đâu ? Sự thành công này, có thật sự giúp cho Phan Chánh Dinh sống một đời dễ chịu, từ vật chất đến tinh thần ? Ngày nay, câu trả lời, ít ra, đã rõ cho một trong hai lãnh vực thiết thực nêu trên.

 Chưa vào động Phi Lai, chưa gặp Giáng Hương, nhưng với chặng đường thơ đã qua, với thực tài, Phan Chánh Dinh đã làm nên một Phan Duy Nhân, óng ánh trong vườn thơ Việt Nam, đó là điều không thể không nhìn nhận. Nhìn lại chặng đường anh đã đi, chúng ta thấy: từ 1961 đến 1964, nhất là trong năm 1962, Phan Duy Nhân viết được nhiều bài thật xuất sắc. Tiêu biểu như bài Thơ Cho Mẹ Và Chị, trích trọn vẹn dưới đây :

 

 Đầy nước mắt đi trong chiều biển động

 Thân san hô sóng vỗ một đời tròn

 Trông cây tùng gặp bão cũng cong lưng

 Đời kiêu mạn chẳng còn tâm sự với

 

 Con nhớ lại sắt se lời mẹ dạy

 Những đêm qua ngõ hẹp phố phường sâu

 Đầu gối trên tay nghe đường máu chạy

 Trong tim con ngựa mỏi muốn quay đầu

 

 Những buổi sáng nằm vùi trên gác trọ

 Những chiều hôm mong đợi chẳng ai về

 Tình thuở trước đắp cao dần nấm mộ

 Trong lòng con cỏ mọc đã vàng hoe

 

 Ngã bảy ngã ba hẹn hò bè bạn

 Áo cơm nhau nhờ vả đến bao giờ

 Xương từng ống hút dần theo lũ quạ

 Ngó lui mình rỗng tuếch chúng bay xa

 

 Thơ với ngô khoai bánh mì giữa chợ

 Có kiên gan Lã Vọng cũng buông cần

 Khí phách văn chương công bằng cách mệnh

 Xưng lỡ anh hùng không lẽ đến xin ăn?

 

 Con đã ngấy những ngày thư viện đói

 Nói khôi hài kinh kệ những ai xưa

 Khi rách áo xem ra chiều thủ lợi

 Không manh tâm thiên hạ cũng nghi ngờ…

 

 Ngần ấy bụi con mang về với mẹ

 Hận nghìn đời trong đáy mắt chưa nguôi

 Thân đau yếu em quỳ bên gối chị

 Lòng lênh đênh muốn lặng cứ trôi hoài

 

 Con phiêu bạt ngỡ thân tàn ma dại

 Chẳng còn gì nguyên vẹn để đem dâng

 Xin mẹ rót cho con lời phủ dụ

 Ngửa hai tay xin chị nhận em cùng

 

 Cho ánh mắt đau buồn nay tỏ rạng

 Soi xuống lòng ẩn hiện ánh trăng trong…

 

 Vịn những dòng thơ của thể tám chữ, không quá gò bó ở kỹ thuật vần điệu, một người con trai nhà nghèo theo học ở thành phố, đã quặn thắt gởi tâm sự của mình về cho mẹ và chị. Nguồn thơ bát ngát, không bày tỏ những nhớ thương thường thấy ở những người con xa nhà. Nhưng uất nghẹn những suy tư về thân phận, về cuộc sống.

 Bằng kỹ thuật vẽ lại những hình ảnh thường mục kích trong đời sinh viên, (Những buổi sáng nằm vùi trên gác trọ/ Những chiều hôm mong đợi chẳng ai về... Ngã bảy ngã ba hẹn hò bè bạn/ Áo cơm nhau nhờ vả đến bao giờ...), lồng vào đó những xúc cảm, những suy nghĩ bi quan (Tình thuở trước đắp cao dần nấm mộ/ Trong lòng con cỏ mọc đã vàng hoe... Xương từng ống hút dần theo lũ quạ/ Ngó lui mình rỗng tuếch chúng bay xa) tuy có phần cường điệu, nhưng nhờ âm ngữ và hình ảnh, giúp những câu thơ trở nên linh động, có hồn. Phan Duy Nhân cũng dựng lại cái khí chất người xưa, để bày tỏ cái bản lĩnh, cốt cách của một nam nhi giàu ý chí, qua tám câu rất thu hút ( Thơ với ngô khoai bánh mì giữa chợ... Không manh tâm thiên hạ cũng nghi ngờ…) Nhưng cái buồn thâm trầm, đọc được rõ những xót xa, nằm ở ba đoạn tuyệt vời nhất, đó là khổ bốn câu thứ hai, và hai khổ cuối cùng. Lời mẹ dạy (con nhớ lại sắt se lời mẹ dạy) chính là cái phao để tác giả có đủ can đảm dàn trải, phơi bày những tâm sự. Thơ Phan Duy Nhân, hình như bài nào cũng có một ưu điểm khác, đó là sự trong sáng, một niềm tin lấp lánh ở cuối bài:

 

 Cho ánh mắt đau buồn nay tỏ rạng

 Soi xuống lòng ẩn hiện ánh trăng trong

 

 Những suy tư về một hiện thực xã hội không được hoàn hảo, đã thấy thấp thoáng trong bài vừa dẫn trên. Ở Đường Bay Của Thơ, dù vẫn còn rất nhẹ nhàng, Phan Duy Nhân cũng đã vẽ lên một tâm cảnh u buồn:

 

 “... giây phút ấy, tới cầm tay nỗi chết

 sau lưng anh phường phố vẫn điêu tàn

 máu một giòng, rơi hờn như giọt đá

 thơ một lời dội lại tiếng kêu van

 

 thôi từ đó xa bay ngoài hiện tại

 anh đưa tay bồng thân thể lên đường

 tiễn chân người, xanh xao cành lá lay

 em cúi đầu thân huệ vốn lưng ong”

 (Bách Khoa 123-1962)

 

 Không khó để hình dung hiện trạng xã hội trong thời chiến tranh. Vì thế, ở đây không phô bày, lặp lại nhiều tài liệu đã thành sách. Hậu quả của bom đạn không dành riêng ai. Vết thương nặng, nhẹ có thể khác nhau. Nỗi đau buồn tủi nhục của đất nước dù có chia đều, thế hệ trẻ hẳn phải gánh chịu trực tiếp và nặng nề hơn. Ý thức rõ được trách nhiệm này, những tay thơ như Phan Duy Nhân, Phan Trước Viên, Đynh Hoàng Sa, Phan Nhự Thức, Lữ Quỳnh, Thái Tú Hạp, Thành Tôn, Lê Vĩnh Thọ... , muốn dành cái quyền giới thiệu những thảm cảnh chiến tranh, đồng thời bày tỏ thái độ của mình trước cuộc chiến. Riêng Phan Duy Nhân căm phẫn đến mức nào ?

 

 “... cho anh một chỗ đứng nào trên hành lang

 để anh nhìn niềm bi thương đang diễn hành dưới đất

 ...

 anh quẳng ra khỏi vuông cửa sổ toa tàu

 trang nhật báo em cầm trên tay

 in đầy tin thời sự

 anh sinh ra bé nhỏ mọn hèn

 muốn giấu em chuyện người da vàng trên Trung Hoa lục địa

 buổi sớm lệnh còi đồng phục sắp hàng đôi

 anh muốn giấu em những hội nghị tài binh

 nâng cốc

 chế bom

 trên đầu dân thuộc địa

 anh muốn giấu em chuyện người mẹ kê đầu trên đường sắt

 ngăn con tàu chở lính sang Alger

 anh muốn giấu em những tin tức quê hương gần gũi

 những khuya xung phong những ngày nước độc

 những hận thù trói buộc

 những giới tuyến phân chia anh em bè bạn xứ sở gia đình

 ...

 anh buổi sáng vẫn mang giày mặc áo

 phố hôm nay - vẫn đó, phố bao giờ

 bước có nghìn lần nhịp gõ cũng còn khô

 sống vẫn đi vòng không ra ngoài cát bụi

 tuổi thơ người ta không ra ngoài nước mắt

 con tim người dây kẽm cũng còn chia...”

 (Văn Học 19 – 5-1964)

 

 Anh vẫn sử dụng ngôn ngữ giản dị. Điều nổi bật: những nét vẽ trầm uất mỗi ngày hình như được chăm chút rõ hơn. Khuôn mặt của thời cuộc được nhìn rộng từ thế giới, trước khi dừng lại với thực tại quê nhà. Những điều bi quan anh muốn giấu, chính là những điều anh khẩn thiết nói ra. Sự mâu thuẩn này không có gì lạ. Nó như một nghệ thuật buộc người nghe phải chú ý hơn. Nó cũng làm cho sự lặp lại được tự nhiên hơn, và chuyện đã xảy ra, được lặp lại cũng trở nên mới . Thật ra những hình ảnh bi thảm của cuộc chiến được dựng lên trong Con Đường Từ Thức (tên bài thơ), không có gì mới lạ. Thậm chí những hình ảnh bi thảm cũng chưa đủ mức bi thảm so với hiện thực ngoài đời. Giá trị của bài thơ, vẫn nằm trong thể cách bày tỏ tình cảm, bên cạnh những hình ảnh được dùng để đánh động sự chú ý của người đọc. Ngôn từ của Phan Duy Nhân không mới. Tùy theo ý tưởng, anh đặt bên cạnh những câu thật giản dị, một vài câu giàu chất thơ, từ đó cả chụm chữ đều ngát hương thi ca:

 

  “... anh không muốn môi em hồng mắt sáng

 mười lăm mười bảy ngây thơ

 mỗi lời sầu làm mát một mùa thu...”

 

 Trong bài tổng quan cho cuốn biên khảo Văn Học Việt Nam Hiện Đại – Thi Ca và Thi Nhân, tác giả Cao Thế Dung có đưa ra nhận xét:

 

 “... Về ý và kể cả ngôn từ, nhiều nhà thơ đã cố vươn cao để cho khác cái cũ – nghĩa là cái đã được nói trong thơ tiền chiến. Và đã thành công qua ý hướng đó như Phan Duy Nhân, Hà Nguyên Thạch, và những bản sắc mới gần đây như Tần Hoài Dạ Vũ, Luân Hoán, Thành Tôn...”

 (Thi Ca Và Thi Nhân trang 325)

 

 “Ý hướng đó” của ông Cao Thế Dung là gì ? Phải chăng đó là những mô tả, phân tích cùng nhận định về chiến tranh. Nguồn thơ có nội dung như thế, về sau được gọi là thơ phản chiến. Tôi nghĩ, dù có phản chiến hay chỉ nêu ra một hiện thực đau buồn của đất nước, nguồn thơ này, đã manh nha từ những bài viết nặng lòng yêu quê hương. Căn cứ vào đời chính trị tiếp nối liền sau đời thơ, có thể nói thơ Phan Duy Nhân không nằm trong dòng thơ phản chiến. Những người làm văn học đứng dưới cờ đỏ sao vàng, đã xếp anh vào hàng ngũ những nhà thơ dấn thân, cùng Trần Quang Long, cùng Phan Trước Viên... Theo định nghĩa trong Từ và Ngữ Việt Nam của ông Nguyễn Lân, “dấn thân là hy sinh thân mình” dĩ nhiên sự hy sinh này thường dành cho tổ quốc. Oái ăm thay, cũng phục vụ đích thực cho tổ quốc, và có thể giàu chính nghĩa hơn, nhưng không phục vụ vì một đảng phái độc tài, hai chữ “dấn thân” được thay bằng hai chữ “bồi bút”.

 

 Mùa hạ năm 1963, Phan Duy Nhân hành nghề gõ đầu trẻ, cho một vài trường trung học tư nhân tại Hội An, nơi cư ngụ của Ngân Hà, vợ anh sau này. Anh có viết một số bài ký tên Dương Phù Sao. Bài trích dưới đây, có lẽ đậm đà hình ảnh quê hương nhất trong thơ anh. Bài thơ khởi đầu bằng một cảnh sắc chợt đến trong tâm trí anh: Bến sông Hoài êm ả với dòng nước thì thầm đang nằm đợi những con thuyền ra khơi trở về. Bến sông đó cũng là cõi lòng của người anh yêu. Sự liên tưởng, thi vị hóa không khó lắm, bởi vì nỗi nhung nhớ của anh cộng thêm cái hiện thực, ngôi nhà người đẹp họ Dương nằm ngay bên bờ sông

 

 “anh nhớ quê hương phố chợ âm thầm

 tre cúi ngọn ưu phiền chiều xuống chậm

 nước thì thầm trôi vòng ôm xóm vạn

 bến ngậm buồn nghe ngóng mắt thuyền thon

 

 Đi xa đã nhớ, về gần lại nỗi nhớ như nhiều hơn. Tác giả thấy mình đang cầm trong tay những chiếc lá, những cọng rêu, những mùi hương, những ngọn khói. Đọt nắng vàng hình như cũng đậu lại, chia xẻ cái hạnh phúc: anh được người mẹ gắp chia lời dịu ngọt . Đẹp biết bao nhiêu, khi anh trân trọng đặt môi mình lên bậc cửa, nơi người mẹ già từng đứng quyến luyến mỗi lần anh đi xa. Nỗi nhớ nhung như chất men, lặng lẽ ngấm vào tim anh. Không đặt tay lên ngực, anh cũng nhận ra, đó là những giọt lệ, anh đang ủ trong vuông khăn, lận theo bên mình.

 

 khi anh về đôi chút lá phù dung

 đôi chút rêu mềm nằm ve vuốt ngói

 mượt đất thơm đường, bao dung lòng mẹ đợi

 bữa cơm chiều anh chị nắng chắt chiu

 ngày xuống bên thềm với gió dìu theo

 bao nhiêu nhớ bao nhiêu buồn thuở trước

 đôi đũa mẹ gắp chia lời dịu ngọt

 mến thương đời xao xuyến ngực như tơ

 anh muốn hôn lên bậc cửa mong chờ

 nơi chân mẹ dẫn lên lời quyến luyến

 xin một vuông khăn gói thầm nỗi hẹn

 ủ trong lòng từng giọt nước mắt khô

 chuyến xe qua chiều bữa đó mơ hồ

 

 Không những chỉ với: đôi chút rêu mềm nằm ve vuốt ngói , và đôi đũa mẹ gắp chia lời dịu ngọt , mà cả đoạn thơ cho thấy cái tài dùng chữ, trang điểm cho hình ảnh trong thơ Phan Duy Nhân. Bài thơ còn tám câu nữa. Và cũng như thói quen, cuối bài, là những nụ thơ trong sáng:

 

  “trời gió lộng, chim bay thèm trở lại

 nhớ mẹ cười mát lụa xuống vai con”

 

 Phan Duy Nhân nói năng trôi chảy, lưu loát. Anh rất có tài hùng biện. Nhờ có trí nhớ tuyệt vời, anh thuộc nhiều điển tích, nhiều mẩu chuyện trong cổ sử Trung Hoa, nên thường đưa vào câu chuyện mình kể, dẫn chứng điều mình đang nói. Nhờ đó, anh thuyết phục nhanh chóng những người đang lắng nghe. Trong lớp, vào giờ thực tập thuyết trình, anh gần như không bao giờ thua cuộc. Nhưng anh rất nhát gái. Trước năm 1975, trái tim của nhà thơ, hình như chỉ có một bóng dáng duy nhất: Dương Thị Ngân Hà. Người con gái này trở thành người bạn đời, và tạo nguồn cảm hứng cho Phan Duy Nhân, viết một chùm thơ tình mang tên Thơ Của Hà.

 Vẫn sử dụng thể thơ nhuần tay, những khúc tình ca cho Hà không thiếu những câu đẹp:

 

 “... đã mấy mươi năm anh chờ, em đợi ?

 hồn em trong thơm ngát một vuông khăn

 anh yêu thương thơ cũng mọc như rừng

 dẫu tới trăm năm em vẫn còn mười sáu

 để mắt vẫn rụt rè, chim nhìn chưa dám đậu

 hờn sâu xa anh thức dậy chập chờn

 em thơ ngây phải động chút u buồn

 ...

 anh sẽ cười buồn làm em rơi nước mắt

 thế giới chúng mình lênh đênh mùa mưa

 anh biến thành thuyền, em biến thành thơ

 ta sẽ dong chơi cùng vầng trăng mời mọc”

 (Thần Thoại, tạp chí Bách Khoa số 121, 15-01-1962)

 

 “... tay em dài mỗi ngón lá phong lan

 hãy góp cho nhau mươi cánh phương thảo trắng

 nước mắt làm mưa thu, môi hồng làm nắng sáng

 để anh dựng lâu đài trên ngực cao nguyên

 để anh ngó xuống đời bằng cặp mắt vành khuyên

 bằng đôi cánh bồ câu vỗ lên vầng trán biếc

 với buổi sớm tình ca, buổi chiều nhã nhạc

 với trái tim em, anh tiếp tục lên đường”

 (Bày tỏ Bách Khoa 126, 01-4-1962)

 

 Thơ tình Phan Duy Nhân có nhiều ý mới, nhưng hình như những dòng thơ hiện diện, bằng đường trí óc hơn là từ trái tim. Cái chân tình cũng thiếu vắng khá nhiều. Ở nhiều đoạn có nét óng mượt rất gần hơi thơ Nguyên Sa:

 

  “... anh chỉ còn đây lời rượu ngọt 

 cùng thơ tâm sự, mắt du thuyền

 tương lai thôi hãy mềm như lụa

 mà gói đời anh trong áo em...”

 (Thơ Cầu Nguyện Bách Khoa 124, 01-3-1962)

 

Có cả cái diễm tình của Đinh Hùng:

 

 “... vầng trăng dại rơi gầy trong giếng mắt

 thoáng mây bay trông rất đỗi ngập ngừng

 cây rũ lá vàng thơ buồn rụng cánh

 chân nai đi khe khẽ động chim rừng...”

 (Rừng Vàng, Bách Khoa, 125 – 15-3-1962)

 

 

 Nhìn tổng thể thơ Phan Duy Nhân, thật ra rất khó phân biệt rõ ràng từng chủ đề khác nhau. Tình yêu lứa đôi, tình quê hương, bàng bạc trong khắp niềm thao thức về thân phận con người. Những hoài nghi, những băn khoăn luôn luôn thắp sáng, từng dòng suy tư trong thơ anh. Nhưng cái xuất sắc nhất, chính là nguồn thơ khơi dậy tình yêu nước, đả phá những bất công xã hội. Tính chất mạnh mẽ trong từng dòng thơ có giá trị như những lời thúc giục, nếu không muốn nói là xách động.

 

 “... Độc lập, hòa bình, công bằng, nhân đạo

 Mắt em thơ hớn hở nụ cười tròn

 …

 Nòi giống Việt thương yêu đời sống Việt

 Triệu con người vươn lên từ cõi chết

 Yêu anh em, yêu xã hội công bằng

 Người yêu người xây dựng đến muôn năm

 (Tiếng Hát của Người Đi Tới)

 

 Vẫn còn đó anh em hàng triệu đứa

 Yêu thương nhau cùng mở rộng vòng tay

 Khi chết đi tim người xin để lại

 Anh mang theo khoảng trống lấp không đầy

 Thân băng hoại nhưng niềm tin hiện hữu

 Cùng tui em đi đốt lửa mặt trời

 Chúng ta sống bằng máu người đã chết

 Người nối người dĩ vãng nối tương lai

 Vì trên mặt đất nầy cây đã mọc

 Vì hoa đời anh hái cả hai tay

 Nên cuộc sống khác ngày giờ hý viện

 Vô duyên như giấc mộng chẳng tròn đầy

 ...

 Thân xác ấy thôi rồi tan rã hết

 Vào hư vô không giọt máu hồng tươi

 Tôi đã dặn khi giã từ cuộc sống

 Nhớ cho tôi xin lại trái tim người

 (Trái Tim Còn Lại)

 

 Nguồn cảm hứng này chắc chắn xuất phát từ trái tim. Sự uất ức thường dẫn đến những ngôn từ, hành động phản kháng mạnh mẽ. Nhưng đó chưa hẳn là lòng yêu nước. Ở tuổi mười tám, hai mươi, quả khó dằn lòng trước cảnh bị áp bức đồng bào ruột thịt. Nhưng Phan Duy Nhân đã mục kích những thảm cảnh gì ? từ đâu ? trong những năm đầu của thập niên 60, tại một thành phố yên bình như Đà Nẵng ? Lòng căm phẫn vì ngoại cảnh, vì yêu nước trong trường hợp Phan Duy Nhân thật đáng ngờ. Và nguyên nhân cụ thể, đủ để cho Phan Duy Nhân hãnh diện xác nhận, thể hiện qua bài viết của ông Dương Đức Quang, phổ biến trên trang tramhuong.com:

 

 “... Năm 14 tuổi Dinh đã biết cha mình là cơ sở hoạt động bí mật của cách mạng tại nội thành Đà Nẵng, thường xuyên đón cán bộ về họp tại nhà. Trong số cán bộ đó có ông Hồ Vinh, một thày giáo dạy Dinh, trong kháng chiến chống Pháp từng là phóng viên của báo Nhân Dân tại Khu V. Cũng chính qua cha và người thày giáo này mà Dinh sớm giác ngộ cách mạng, trở thành người liên lạc cho tổ chức cách mạng hoạt động bí mật tại Đà Nẵng. Tháng 2-1957, vì một kẻ phản bội tố giác, thày giáo Hồ Vinh bị địch bắt, bị tra tấn đến chết, nhiều cán bộ khác cũng bị bắt, tổ chức cách mạng bí mật bị phá vỡ, cha con Dinh phải tạm ngừng hoạt động. Những năm tháng học trung học tại trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng sau đó, tuy bị mất liên lạc với tổ chức nhưng sẵn lòng yêu nước, Dinh vẫn nung nấu một ý chí cách mạng, sẵn sàng “nổi loạn”, chống đối chế độ độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của Mỹ. Năm 15 tuổi, Dinh viết bài thơ yêu nước đầu tiên gửi đăng trên một tờ báo ở Sài Gòn, lấy tên là Phan Duy Nhân, nguyện là “một người con họ Phan vì nhân dân...”

 Phan Duy Nhân đã dùng cái tài thơ của mình để mở đường phục vụ cho lý tưởng của mình, điều này không có gì sai trái. Chỉ tiếc anh đã chọn lầm khuôn mặt để gởi vàng. Hậu quả: nhận được một chút quyền lực ngắn ngủi trong đời chính trị, nhưng đã hao hụt tình bằng hữu, một điều anh đã từng lo lắng:

 mở mắt cột đèn nhìn ca rô giữa phố

 bỗng ngại suốt đời xa lạ hết anh em

 (Bày Tỏ)

 

 Buồn hơn nữa, người đã hết lòng đề cao, biện giải cho anh, cuối cùng cũng phải chua xót, run tay:

 “... Hóa ra, Phan Chánh Dinh chẳng phải là “người cách mạng”. Anh lại càng không phải một “người làm thơ”, mà thật sự chỉ là kẻ “hành nghề bạo lực” một cách kiên trì và tài giỏi. Anh “không để lại trái tim” mà chỉ trải dài lềnh lầy dối trá, tàn nhẫn vô nhân tính...”

 (Phan Nhật Nam – Cơn cùng tận với khổ đau)

 

 Nhà văn Phan Nhật Nam rất chính xác ở nhận xét “...chẳng phải là “người cách mạng” và cũng rất tinh tế khi đánh giá Phan Duy Nhân: “... là người làm thơ gian lận với chữ nghĩa của chính mình”. Nhưng anh có vẻ nặng tay khi viết: “... anh lại càng không phải một ‘người làm thơ’...”. Những đức tính thông thường phải có dành cho người làm thơ, anh Nam có thể dẫn ra để bảo vệ nhận xét của mình. Có điều, đối phương cũng nhìn nhận những đức tính đó hoàn toàn thích hợp với mình.

 

 Theo tôi, Phan Duy Nhân đúng là một người làm thơ, hơn thế nữa, anh là một nhà thơ rất vững tay trong làng thơ Việt Nam. Thật tình tôi đã rất mừng khi Phan Chánh Dinh

vớt lại lưng lưng ly hạnh phúc lứa đôi, sau đứt đoạn vì hoàn cảnh. Tiếp đến anh vượt qua luôn chiều dài mười mấy năm im lặng (tính từ sau 1975) để trở lại với thi ca. Và điều quan trọng hơn, thơ anh vẫn còn nhiều người yêu thích:

 

 

 Mới gió Lào khô đã heo may Hà Nội
Chon von đỉnh núi giong buồm
Thuở trước thiền sư làm chính ủy
Câu thơ tới giờ còn mang gươm!

 Thơm dấu hài thêu khuya chuyện cũ
Giữa Hàng Đào cô Tấm có là em?


Ôi em đẹp với vô cùng mà đời ta có hạn
Gió lộng vẫn ngang trời
Trong đáy mắt hồ Gươm...

 (Vĩ Thanh - Hà Nội, những mùa sen 1990)

 

 Nhắm mắt để nhìn em thật rõ
Thanh thoát trong tôi một đóa hồng
Đêm sáng lên từ tia lửa nhỏ
Hồn tôi nắng sưởi giá băng tan...

 (Quán Tưởng, 2007)

 

 Em mến yêu anh là sự sống
Trong anh như nhựa tiếp cây đời
Vươn cành xanh lá qua giông bão
Anh uống tình Em mà thắm tươi!

 Những nắng gió trên đường đi tới
Những khuya trăng chia sẻ vui buồn
Em trong anh tim hồng trong ngực
Vượt lên cùng trăm núi nghìn sông...

 Anh viết những bài thơ bất tận:
Em cho anh thêm một tâm hồn
Anh làm nước sông dài chẳng cạn
Chảy từ nguồn sâu thẳm yêu thương

 Mỗi người có riêng mình thần thánh
Quan-thế-âm hay Ma-ri-a...
Anh cầu nguyện cùng em buổi sáng
Cho mỗi ngày mỗi bước đi xa.

 Là Em và thơ và triết học
Yêu Em vô hạn tới vô cùng...
Say đắm cho Em thành có thật
Đến trọn đời vằng vặc vầng trăng.

 (Ngưỡng Vọng) 

 

 Dưới trang phục mới của đời thường phảng phất mùi kinh kệ, thơ Phan Duy Nhân vẫn còn mang gươm. Hy vọng mũi gươm này đã biết xoay chiều hướng đến một kẻ thù đích thực của dân tộc. Để nhà văn Phan Nhật Nam thở phào xóa đi những nghi vấn về bạn mình. Và hai chữ hào kiệt được tác giả Dựa Lưng Nỗi Chết, có cơ hội dùng lại. Mong thay. (1)

 

Hà Khánh Quân

(Luân Hoán) 

(từ: luanhoan.net)


(1) PNN từng gọi PDN là kẻ hào kiệt

 

Ghi Chú:

 

Mời Xem Bài Cơn Cùng Tận Của Khổ Đau - Phan Nhật Nam (mục bài viết từ bốn phương 2011)




*



 

 


_________________________________________________




Mời đọc Quảng cáo


Mua Bán Nhà

 

 


L/l: Marvin Tran

(714) 768 - 8810




blank

 


Nha Khoa

 


blank