DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,894,641

Văn Học trong nước: Tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú

19 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 20178)
Văn Học trong nước: Tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú


Văn Học trong nước - Tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú


Đọc các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú từ Hồ sơ một tử tù, Bên dòng Sầu Diện, Nháp đến Phiên bản, chúng tôi nhận thấy, bên cạnh việc xây dựng một cốt truyện hoàn chỉnh, sử dụng ngôn từ phù hợp, nhà văn đã dụng công trong việc tổ chức kết cấu tác phẩm một cách sinh động và hấp dẫn.

Kết cấu là toàn bộ tổ chức của tác phẩm, là phương tiện quan trọng nhất của khái quát nghệ thuật. Kết cấu có nhiều chức năng như bộc lộ chủ đề tư tưởng của tác phẩm, cấu trúc hệ thống tính cách, tổ chức điểm nhìn nghệ thuật của tác giả... Trong bài viết này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Đình Tú.


nhap-content

Điểm nhìn nghệ thuật (the point of view) là vấn đề cơ bản, then chốt của kết cấu. Điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng để xem xét, miêu tả, bình giá sự vật, hiện tượng trong tác phẩm. Trong tác phẩm tự sự, tương quan giữa nhà văn và chủ đề trần thuật hay giữa điểm nhìn của người trần thuật với những gì anh ta kể là điều đặc biệt quan trọng. Có nhiều người đề xuất cách gọi điểm nhìn là nhãn quan, điểm quan sát, tiêu cự trần thuật… nhưng theo chúng tôi, dùng khái niệm điểm nhìn là phù hợp nhất vì điểm nhìn còn thể hiện lập trường tư tưởng của nhà văn. Điểm nhìn nghệ thuật được xem như một camera dẫn dắt người đọc vào mê cung văn bản ngôn từ. Khi nghiên cứu điểm nhìn nghệ thuật, người ta chia điểm nhìn thành các loại như điểm nhìn tác giả, điểm nhìn nhân vật, điểm nhìn không gian, điểm nhìn thời gian, điểm nhìn tâm lý, điểm nhìn tư tưởng, điểm nhìn tu từ… Trong nghệ thuật trần thuật, sáng tạo của nhà văn trước hết thể hiện ở cách “ứng xử” với câu chuyện để tạo ra sự đa dạng của các điểm nhìn nghệ thuật. Đọc tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, chúng tôi nhận thấy tác giả đã thành công trong việc sử dụng điểm nhìn không, thời gian, điểm nhìn tác giả và nhân vật.

 

Với Hồ sơ một tử tùNháp, nhà văn chủ ý để cho nhân vật mình dịch chuyển giữa các vùng không gian khác nhau. Trong Hồ sơ một tử tù, là sự dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị và theo bước chân của nhân vật chính, không gian rộng mở đến khu đào vàng Lũng Sơn đầy tội phạm, dân giang hồ, bọn lục lâm thảo khấu. Còn ở Nháp là từ Phố núi đầy huyền thoại trẻ thơ ra đô thị phồn tạp, cám dỗ. Từ sự dịch chuyển không gian, tính cách nhân vật chính thay đổi. Ở Bên dòng Sầu Diện, trường nhìn của nhà văn đặt vào thị trấn An Lạc - thị trấn Nét Mặt Buồn nằm lọt thỏm giữa núi Cô Hồn và dòng Sầu Diện, trong đó, có những không gian nhỏ hơn như Xóm Đáy, xóm Khơ me, phố Tứ Phủ…

Trong không gian ám ảnh và có tên gọi gắn với huyền thoại tự tạo ấy, nhà văn kể câu chuyện về cuộc đời nhân vật Minh Việt từ khi ra đời đến lúc già cả. Và theo bước chân hành quân của Minh Việt, không gian mở rộng tận Sài Gòn nhưng không thật ấn tượng. Riêng trong Phiên bản, tác giả đã đặt nhân vật vào vùng đất nghịch “ngã ba sông” - nơi có truyền thống sinh ra những nữ tặc để kể câu chuyện về sự tha hóa của Diệu - Hương ga, từ một cô nữ sinh ngây thơ thành một siêu giang hồ. Cùng với quá trình tha hóa của Hương ga, không gian được mở rộng đến tận Sài thành. Đọc ở thế liên văn bản, Phiên bản gợi ta nhớ đến các vùng không gian trong tiểu thuyết Bỉ vỏ của nhà văn Nguyên Hồng. Trong cả bốn cuốn tiểu thuyết kể trên, nhà văn thường nhìn nhân vật cận cảnh, trường nhìn mở rộng theo sự dịch chuyển của nhân vật và sự thay đổi của không gian gắn với sự đổi thay của tính cách, số phận nhân vật. Như vậy, từ điểm nhìn cận cảnh và trường nhìn dõi theo sự di chuyển của nhân vật, trong các tiểu thuyết của mình, Nguyễn Đình Tú đã dùng kết hợp kiểu không gian điểm là “thị trấn Nét Mặt Buồn”, vùng đất nghịch ngã ba sông và không gian hình tuyến nông thôn; phố núi - phố thị.

Bên dòng Sầu Diện mở đầu bằng sự chào đời của Minh Việt, tiếp đó là câu chuyện về những ngày đã xa của Nguyên Bình, Mến…; những tháng ngày chưa xa của Việt, bè bạn, người thân rồi trở về hiện tại. Trong hồi ức của bố Việt, có câu chuyện về tuổi học trò, ngày đầu tham gia cách mạng, gặp lại người bạn học Tuấn Thành, cuộc gặp gỡ với Mến - mẹ của Minh Việt… Tiếp đó, Minh Việt kể lại những chặng đường, những bước ngoặt lớn của đời mình cho đến giây phút anh đứng ở núi Cô Hồn nhìn về An Lạc, nghĩ đến quá khứ.

Câu chuyện trong Hồ sơ một tử tù bắt đầu từ giây phút Bạch Đàn ra pháp trường. Đứng bên cọc bắn, hắn nhớ lại cảnh đưa Hiến lên đầu đài trong trò chơi thời trẻ con, nhớ về 20 năm trước, tuổi thơ khó nhọc nơi công trường đá Áng Sơn... Từ đó nhà văn kể về quá trình tha hoá của Phạm Bạch Đàn từ một sinh viên khoa triết giỏi, thông minh thành một tử tù trong 10 chương tiểu thuyết rất hợp lí. Bạch Đàn vốn là một người có bản tính bộc trực, thẳng thắn. Do sự dồn đuổi của hoàn cảnh, ý thức lệch lạc của bản thân và sự vô cảm của những người xung quanh, Bạch Đàn từng bước trượt dài vào con đường tội lỗi. Câu chuyện tha hóa của Đàn từ chuyện nhỏ là xích mích với bạn đến việc tham gia vào băng đảng đào vàng, đánh người, giết người, trốn tù... được tác giả kể chuyện từ hiện tại nhìn về quá khứ, mỗi chương tương ứng với một bước chân của kẻ tử tội trên đường đến cọc bắn.

Nháp bắt đầu từ câu chuyện Thạch điều tra một vụ án mạng và nhớ về Đại, trong chuỗi nhớ bất tận đó chuyện về Thảo, về Yến, về mẹ, về Toàn... lần lượt hiện ra.

Trong Phiên bản, câu chuyên bắt đầu từ cuộc đối thoại giữa “ta” với trăng ở thời điểm hiện tại, sau đó là những hồi ức về sự sa ngã của Diệu được kể theo thời gian đồng hiện song song xen lẫn qua khứ với hiện tại.

Nhìn chung, Nguyễn Đình Tú khước từ lối kể chuyện, câu chuyện anh kể cứ bện xoắn vào nhau theo kiểu đồng hiện kép. Đặc biệt, trong Nháp, anh đã để cho Thạch kể chuyện khá ngẫu hứng như nhạc jazz, cứ một đoạn kể chuyện mình lại nhớ chuyện của Đại. Bất cứ điều gì đó gợi nhớ đến Đại như mắt nâu, cây sấu… Thạch lại hồi ức. Tuy vậy, nhờ xử lý khéo léo và dẫn dắt hợp lý, người đọc không bị sa vào “ma trận thời gian” của các sự kiện, câu chuyện vẫn mạch lạc và hấp dẫn.

Tác giả của Phiên bản không xem mình là người kể chuyện toàn tri, là “chủ nhân ông biết tuốt”. Biết giới hạn của mỗi góc nhìn trong việc khám phá sự phức tạp và tinh tế trong mỗi con người, tiểu thuyết của anh thường sử dụng phối hợp điểm nhìn của người kể chuyện và của nhân vật. Sự phối hợp giữa ngôi kể thứ nhất (xưng tôi, tên riêng) và thứ ba (hắn, thị) khiến câu chuyện linh hoạt hơn. Anh biến mình trở thành người kể chuyện toàn tri một phần (partially omniscient). Nói như Scholes và Kellogg, anh đã sử dụng quyền năng của người kể chuyện một cách hợp lí theo kiểu một chứng nhân (eye-witness) hơn là một sử quan (histor).

Trong Hồ sơ một tử tù, theo suốt 10 chương tiểu thuyết, câu chuyện về cuộc đời của tội nhân Phạm Bạch Đàn từ khi sinh ra cho đến lúc bị xử bắn được kể bằng giọng người kể (gọi hắn) và giọng nhân vật (xưng tên). Nhưng trong suốt quá trình kể, người kể chuyện thường lui vào “cánh gà”, nương theo điểm nhìn của nhân vật nên câu chuyện về quá trình tha hóa của Bạch Đàn như là lời tâm sự, dòng độc thoại nội tâm ám ảnh. Người kể chuyện chỉ lên tiếng khi cần phân tích, lý giải các sự kiện theo quan điểm của mình. Nhờ việc nhà văn chủ động xóa bỏ khoảng cách giữa người trần thuật với câu chuyện được kể, “thả rông” cho nhân vật tự “diễn xuất”, ngôi kể trong truyện biến hóa, đặc biệt là trường đoạn ông Thảnh kể về tiểu sử của cha con Bạch Đàn, Bạch Đàn tự kể về quá trình nhúng sâu vào tội lỗi của mình. Cách kể chuyện theo bước chân của tử tù theo mỗi chương thực sự lôi cuốn độc giả, kéo họ đi theo từng trang “hồ sơ” của nhân vật cùng sự phân tích của người trần thuật. Ở Bên dòng Sầu DiệnNháp, nhà văn để cho nhân vật luân phiên kể chuyện của mình lúc xưng tôi, lúc xưng tên. Minh Việt kể chuyện mình ra đời, bố anh - Nguyên Bình kể về tuổi học trò, mẹ Minh Việt - cô Mến kể về cuộc gặp gỡ Nguyên Bình… Trong Nháp, Thạch và Đại là người kể chuyện. Nhà văn đã xáo trộn câu chuyện của hai nhân vật chính, chọn giao điểm ở sự trùng lặp của cảm xúc, dự cảm, linh cảm và nếu câu chuyện của Thạch là bè nổi, thì chuyện của Đại là bè trầm.

Câu chuyện trong cuốn tiểu thuyết thứ tư, Phiên bản, được chia thành 31 khúc, kể bằng 3 ngôi khác nhau: ta, em và thị. Các khúc được người trần thuật kể với ngôi “thị” là mảng sự kiện tội - tình - tù gắn với hoạt động của Hương ga với các băng nhóm giang hồ. Các khúc nhân vật tự kể xưng “em” là dòng chảy nội tâm, suy tư của Diệu hướng về Nhân, nhằm bày tỏ nguồn cơn đưa đẩy cô vào vòng tội lỗi, còn ở ngôi kể xưng “ta” lại giống như cuộc đối thoại, tự vấn của nhân vật chính để vượt thoát tội lỗi, tìm về bản ngã, cũng là mong muốn của tác giả sau giai đoạn thân trung ấm (sự sống sau khi chết, trước khi thần thức người ấy đi tái sinh vào cõi nào đó), nhân vật sẽ được đầu thai làm người. Lối trần thuật đa ngôi này không mới nhưng nhờ thế đời sống nhân vật được soi chiếu từ nhiều phía, nhiều quan điểm khác nhau trở nên hấp dẫn hơn. Nếu tác giả chỉ sử dụng một ngôi kể, e chỉ thấy được một “phiên bản” Diệu. Ngoài việc dịch chuyển điểm nhìn từ người trần thuật sang nhân vật chính, tác giả còn sử dụng điểm nhìn của các nhân vật phụ hỗ trợ cho dòng tự sự chính như câu chuyện Đạo và bé Ly viết trong Bên dòng Sầu Diện, hay Tâm và Hồng Nhung tự kể chuyện mình trong Hồ sơ một tử tù...

Từ Hồ sơ một tử tù đến Phiên bản, Nguyễn Đình Tú luôn có ý thức đổi mới cách kể chuyện. Điều này không chỉ thể hiện trên bề mặt các tiểu thuyết mà còn ở sự di động các điểm nhìn nghệ thuật. Văn chương nhiều khi chỉ là cách kể mới về những chuyện đã cũ. Khi viết tiểu thuyết, Nguyễn Đình Tú ý thức rằng, mình đang tham gia “trò chơi kết cấu” và đã phần nào thành công. Tuy vậy, trong các tiểu thuyết đã viết, anh luôn trình bày một cốt truyện hoàn chỉnh, với tiết tấu kể nhanh, dồn dập nên ít khoảng trống, khoảng lặng để người đọc suy ngẫm, đồng sáng tạo. Hy vọng, những cuốn tiểu thuyết sau anh sẽ dành nhiều khoảng lặng hơn cho người đọc tự trải nghiệm, không tạo áp lực “sự kiện” lên người đọc nhiều như thế nữa.

Lợi thế’ trong 'Phiên bản'

Nguyễn Đình Tú gia nhập làng văn bằng truyện ngắn nhưng trụ vững được nhờ tiểu thuyết. Với 5 tiểu thuyết đã ra mắt, anh sẽ còn gây nhiều bất ngờ cho bạn đọc và giới phê bình. Nói như thế có quá không? Tôi dám chắc là không!

Anh  đã có 5 tiểu thuyết: Hồ sơ một tử tù (2002), Bên dòng Sầu Diện (2006), Nháp (2008), Phiên bản (2009) và Kín (2010).

Còn nhớ cách đây vài năm, khi mới quen biết Nguyễn Đình Tú, tôi có cảm giác đây là con người hiền lành, chân chỉ hạt bột. Dường như đã là nghệ sĩ nói chung và nhà văn nói riêng, tôi thấy chẳng mấy ai quá trọng công danh. Nguyễn Đình Tú làm việc nghiêm cẩn.

phien-ban-content

Có thể nói Phiên bản là tác phẩm gây ấn tượng nhất trong số các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú mà tôi đã đọc. Trước hết tôi tự nhận mình là người “bảo thủ”, ví như khi đọc truyện ngắn hay tiểu thuyết thì vẫn cứ thích tác phẩm phải có chuyện. Tại sao không?! Hiện tại tôi đã có trong tay 4 trên 5 cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú và khi đọc, tôi thấy trước hết chúng hấp dẫn vì những cốt truyện khá điển hình. Xét về mặt cốt truyện, thì Hồ sơ một tử tù, Nháp, Phiên bản giống nhau ở tính chất phiêu lưu và tâm lý. Không phải không có người muốn hạ thấp ý nghĩa và giá trị của những tiểu thuyết được chế tác trên cơ sở một cốt truyện phiêu lưu - tâm lý, nên đã gán cho chúng một cái tên rất hình sự: Truyện vụ án. Chính nhà văn Nguyễn Đình Tú cũng đã hơn một lần bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề này: “Theo tôi đề tài nào cũng đáng được các nhà văn khai phá, và khi nó được công chúng đón đọc thì có nghĩa là anh đã thành công. Dostoevsky viết Tội ác và trừng phạt, Kafka viết Vụ án, chẳng lẽ hai ông đó là nhà văn của những truyện vụ án?

Nhưng dĩ nhiên sự hấp dẫn của một cuốn tiểu thuyết không hẳn là bởi có một cốt truyện hay, thậm chí là rất hay như Phiên bản. Điều cốt tử của tiểu thuyết, thiết nghĩ, là nhân vật và vấn đề của tác phẩm. Người đọc sẽ có nhiều liên tưởng về nhân vật Diệu (còn có hỗn danh là Hương ga) trong Phiên bản của nhà văn Nguyễn Đình Tú với Tám Bính trong Bỉ vỏ của nhà văn Nguyên Hồng. Hai nhân vật này có những nét tương đồng: ban đầu đều là những cô gái ngây thơ, trong trắng, nhiều khao khát hạnh phúc; về sau bởi nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan họ bị biến chất, tha hóa. Nhưng sự tha hóa của Tám Bính được cắt nghĩa bởi hoàn cảnh - cái hoàn cảnh mà đương thời nhà văn Vũ Trọng Phụng gọi là “một xã hội chó đểu” -sự tha hóa của Diệu ở VN hiện tại cũng vậy, cũng là "một xã hội chó đểu"

Nếu đọc lại tác phẩm của Nam Cao một cách kỹ lưỡng, chúng ta sẽ nhận thấy tác gia này rất quan tâm tới việc phân tích một cách nghệ thuật hoàn cảnh sống của con người để tìm ra mối dây liên hệ biện chứng giữa sự hình thành và phát triển của tính cách với hoàn cảnh (kiệt tác Chí Phèo là một ví dụ tiêu biểu). Nếu coi con người là một phiên bản của Chúa như tinh thần của Kinh Thánh thì sẽ thấy được những tiên tri trong đó là xác tín. “Hỡi các từng trời, hãy nghe; hỡi đất, hãy lắng tai; vì Đức Jehova có phán rằng: Ta đã nuôi nấng con cái, trưởng dưỡng chúng nó, song chúng nó dấy loạn nghịch cùng ta” (Kinh Thánh - Cựu ước: Các sách tiên tri). Cũng vậy trong Phiên bản có lời tiên tri của người bà nói với mẹ của Diệu: “Đất này dữ, trai hay gái đều thành nghịch tặc cả. Kiếp này coi như nó thế, có tránh cũng chả được. Thôi đừng khóc nữa, lên nhà đi ngủ đi”. Bà nói thế là vì bà đã biết nhà văn Nguyễn viết chuyện về cô Tám (ngụ ý chỉ nhà văn Nguyên Hồng và nhân vật Tám Bính trong tiểu thuyết Bỉ vỏ). Bà còn nhắc lại lời nhà văn Nguyễn: “Đất này nghịch quá, trước đây tôi tưởng tôi viết xong chuyện cô Tám là hết chuyện. Nhưng tôi nhận ra là không phải thế. Có lẽ tôi phải khảo sát lại để viết một cuốn khác về đất này. Còn nhiều cô Tám lắm!”. Dường như món nợ văn chương này của nhà văn Nguyễn đã đựợc một nhà văn thế hệ 7X người Hải Phòng trả hộ bằng một tiểu thuyết độc đáo có tên Phiên bản.

Trong Phiên bản, nhà văn Nguyễn Đình Tú cũng đã nhiều lần viện dẫn Kinh Thánh để tô đậm ý tưởng của mình khi viết (trang 135, 136, 389...). Khi xây dựng nhân vật Diệu, tôi thấy Nguyễn Đình Tú đã sử dụng phép ngẫu nhiên như là cách thức để khắc họa tính cách và số phận nhân vật này. Mở đầu cho những ngẫu nhiên trong số phận của nhân vật Diệu là việc bói hoa trúc đào trong buổi học cuối cùng trước khi quăng thân vào gió bụi cuộc đời. Bói để củng cố niềm tin là cả nhà sẽ đi thoát với giấc mơ đổi đời ở những miền đất hứa xa xôi (theo một kế hoạch vượt biên bằng đường biển). Nhưng rõ ràng là cái ngẫu nhiên này đã không đem lại may mắn cho gia đình cô. Sau cái tai họa khủng khiếp trên biển, chỉ một mình cô sống sót trở về trong đau đớn, ê chề. Và từ giờ phút đó cho đến ngày từ giã cõi đời, cái ngẫu nhiên cứ bám riết, cứ níu kéo và chi phối nghiệt ngã cuộc đời của Diệu. Nếu tin vào định mệnh thì có nghĩa là tin vào sức mạnh của cái ngẫu nhiên. Nhưng miêu tả cuộc đời và số phận một con người mà chỉ dựa hoàn toàn vào cái ngẫu nhiên thì khác nào những cầu thủ thiếu kinh nghiệm lạm dụng phép lợi thế trong bóng đá. Đó là chỗ yếu của các cầu thủ trẻ mới ra sân cỏ lần đầu. Nhưng rõ ràng nhà văn Nguyễn Đình Tú không còn là một cầu thủ trẻ mới ra sân bãi lần đầu. Vậy nguyên cớ gì mà nhà văn lại triệt để lợi dụng cái ngẫu nhiên để kể về cuộc đời và số phận của nhân vật Diệu? Tôi nghĩ đây là một lối viết nước đôi của nhà văn - tất cả đều chông chênh - như cách nhận định của nhà phê bình văn học Đoàn Ánh Dương, mà theo tôi là hết sức sắc bén: “Phiên bản không vạch ra cho người ta con đường sáng rõ để đi tới hạnh phúc (...). Phiên bản không chủ đích vào việc lột hiện con đường đến hạnh phúc, đến sự thức nhận tội lỗi và cải hối (...). Tiểu thuyết là một phản tỉnh nhận thức, bằng cách lột hiện tất cả sự phi lý và trớ trêu của cuộc đời”. Vì thế có thể nói, trong Phiên bản, Nguyễn Đình Tú đã lồng ghép cái ngẫu nhiên và cái phi lý thành như một thực thể sống và nhấn chìm nhân vật của mình vào trong đó. Vì thế nên không là vô cớ khi có người xếp tiểu thuyết Phiên bản của nhà văn Nguyễn Đình Tú vào phạm trù văn học phi lý.

Phiên bản là một tác phẩm văn chương, như tôi hiểu, được viết theo tinh thần mà văn hào Mỹ W. Faulkner (1897- 1962) đã khẳng định trong bài diễn từ của ông tại lễ nhận giải thưởng Nobel văn chương năm 1949: “Bi kịch ngày hôm nay của chúng ta là nỗi sợ hãi chung và phổ quát mà chúng ta đã chống đỡ lâu đến mức ngay cả giờ đây chúng ta vẫn có thể chịu đựng nó. Không còn những vấn đề của tinh thần nữa. Chỉ còn một câu hỏi: Bao giờ ta sẽ nổ tung đây? Vì lẽ đó, người cầm bút trẻ tuổi hôm nay đã lãng quên những vấn đề của tâm hồn con người trong cuộc xung đột với chính nó, điều duy nhất có thể tạo ra tác phẩm hay, bởi chính đấy là điều duy nhất đáng để viết, đáng để thống khổ và nhọc nhằn” [2].

Vấn đề mà nhà văn Mỹ nhấn mạnh ở đây - những vấn đề của tâm hồn con người trong cuộc xung đột với chính nó - có thể hiểu là quá trình tẩy rửa tâm hồn (hay là thanh lọc hoặc thanh tẩy tâm hồn). Rõ ràng chủ đề thanh tẩy được nhà văn Nguyễn Đình Tú triển khai quy mô và hệ thống từ Hồ sơ một tử tù, Nháp, đến Phiên bảnKín. Lẽ đương nhiên khi triển khai chủ đề này nhà văn sẽ có cơ hội tạo cho tác phẩm của mình có được cái cảm hứng văn hóa và nhân văn - cái cảm hứng có thể nói là rất quan trọng, thậm chí có thể coi là thước đo tầm vóc năng lực sáng tạo.

Một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn còn nhờ vào nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Nhà văn Ma Văn Kháng trong bài Phiên bản, một mệnh đề mang tính tường luận lý thú, in đầu tiểu thuyết đã nhận xét: “Cuốn sách có 31 khúc, được sử dụng với 3 ngôi kể khác nhau, giống như một bản nhạc nhiều bè, khai mở nhiều lối đi vào chiều sâu tâm lý nhân vật”. Một khi có nhiều giọng kể tức là có nhiều góc nhìn, nhiều quan điểm và vì thế cũng sẽ trở nên cởi mở trong đối thoại. Hay nói cách khác Phiên bản là tác phẩm có tính đối thoại, nó phù hợp với tinh thần đối thoại của thời đại. Tôi nghĩ đối thoại trong Phiên bản là đối thoại ở cấp độ lớn - hiểu là sự đối thoại về những vấn đề lớn của cõi người, kiếp người; về nhân tình thế thái, về ý nghĩa của sự sống và cái chết, về tội ác, về khát vọng hoàn lương của con người...

Đọc Phiên bản của nhà văn Nguyễn Đình Tú tôi chợt nhớ tới ý kiến của nhà văn Bùi Hiển (1919- 2009) trong bài tiểu luận văn học rất thú vị Cánh cửa sổ mở ra cõi mung lung: “Đúng ra có thể nói: mở vào. Vì cái chốn mung lung cần phải soi rọi vào ấy, lại chính là tâm hồn, tâm thức, tâm linh, là những điều gì diễn ra trong tầng sâu ý thức, trong bộ não, trái tim con người trước khi thể hiện ra ngoài (mà cũng có thể không thể hiện) bằng cử chỉ và hành động (...). Văn học, với chức năng của nó là khám phá bản thể con người (song song với việc khám phá ngoại giới), lẽ tự nhiên nó rất khát khao soi tìm vào những miền uẩn áo của nội tâm, vào những động cơ thầm kín đến mức tăm tối của những ứng xử ý thức: các hiện tượng mà người ta gọi siêu tâm lý” [3].

Tôi cứ nghĩ trước khi đặt bút viết Phiên bản cũng như các tiểu thuyết khác, có lẽ nhà văn Nguyễn Đình Tú cũng đã từng trăn trở với câu hỏi có tính nghề nghiệp, có tính nghệ thuật: Hướng về đâu, tiểu thuyết?

Trần Tố Loan và Bùi Việt Thắng

BVN-TH

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn