DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,747,986

Nguyễn Hưng Quốc và văn học, kể cả Văn học Miền Nam - Nguyễn Tà Cúc

02 Tháng Tư 201512:00 SA(Xem: 5112)
Nguyễn Hưng Quốc và văn học, kể cả Văn học Miền Nam - Nguyễn Tà Cúc

Nguyễn Hưng Quốc và văn học,

kể cả Văn học Miền Nam



Image result for nguyễn hưng quốc

nguyễn hưng quốc

 

Tôi rất cảm kích được quý độc giả quan tâm tới những vấn đề mà tôi trình bày trong cuốn sách mới xuất bản [1]. Chính thế, đây là một số vấn đề chưa ai bàn đến hay bàn đến một cách quy củ với nhân chứng và tài liệu dẫn chứng. Phải nói tôi là người hết sức may mắn được nhiều nhà văn Miền Nam và học giả cũng như nhân sự liên hệ trong và ngoài nước giúp trong việc đưa những vấn đề này ra công luận một cách công tâm. Như đã thấy, đây là lần đầu tiên những trang Kinh Thánh trong cuốn Kinh Thánh của dịch giả/tác giả/nhà thơ Phan Khôi ra mắt độc giả và người nghiên cứu qua sự giúp đỡ rất rộng lượng của gia đình ông mà giáo sư/thứ nam Phan Nam Sinh (Việt Nam) là người đại diện. Tôi cũng may mắn được các nhà văn gạo cội của Miền Nam như Mặc Đỗ, Viên Linh, Nhật Tiến hay Văn Quang,Thụy Vũ...sẵn lòng trả lời phỏng vấn để soi sáng những vấn đề mà chỉ có họ mới có thẩm quyền bàn luận đến. Đó là lý do tôi cũng hạn chế vào một vài vấn đề trong cuốn sách này để những tác gia khác mà tôi nhắc đến có thể lên tiếng cho công bằng. Rồi họ có lên tiếng hay không, không phải trách nhiệm của tôi và cả của độc giả nữa, vì một lý do rất giản dị: tôi viết về những vấn đề này không phải chỉ trong tinh thần phê bình mà còn trong tinh thần khám phá uẩn khúc của những vấn đề - xưa nay tưởng chừng, hay vẫn được xem là sự thật - với tài liệu và nhân chứng. Một khi trình bầy vấn đề trong tinh thần ấy thì sự phản bác, nếu có, chỉ là sự phản bác cũng phải căn cứ trên tài liệu và nhân chứng.


Image result for nguyễn tà cúc

nguyễn tà cúc


Viết, nhất là viết phê bình, không phải là một cuộc chạy đua để lấy lòng độc giả, nhất là độc giả cùng thời. Viết, tự nó đã là một hoạt động rất cô độc. Anh ngồi trang nghiêm một mình trước trang giấy trắng. Anh đặt tài liệu, nhân chứng vào một bên bàn cân. Anh đặt sở học và hết thảy mọi điều anh biết cùng bản lãnh nghiên cứu và lòng công tâm của anh lên bàn cân bên kia. Anh không cần lo rằng độc giả sẽ nghĩ sao về những dòng anh sắp viết. Anh chỉ cần phải lo những dòng ấy có xứng đáng được viết ra hay không. Anh phải giữ sao cho cán cân thăng bằng. Nếu không, anh sẽ thất bại. Anh sẽ không khám phá nổi điều gì đủ mới xứng đáng cho người đồng thời đọc, nói chi đến người muôn đời sau?

Trong văn chương, tôi thấy có một thành ngữ rất thấm thía: "Ngoa ngôn ngụy ngữ". Hình như có người trong giới văn nghệ tin rằng họ đủ sức lường gạt độc giả - và cả nhà phê bình - bằng thứ ngoa ngôn ngụy ngữ đó. Thay vì nói thẳng vào vấn đề, họ bẻ chệch ra một hướng khác. Thay vì lên tiếng phản bác một cách thẳng thắn và đích danh, họ trả lời có khi rất óng chuốt nhân danh nhiều thứ cao quý nhất trên đời nhưng thực tế vẫn né tránh. Bất cứ sinh hoạt văn nghệ nào, ở đâu, mà cho phép thứ thái độ đó tồn tại thì sẽ sớm tàn rục; thế nên chúng ta, người viết và người đọc, không thể đồng lõa bằng sự im lặng. Tôi nhận thấy rất rõ ràng rằng Văn học Miền Nam có một truyền thống nữa cần được nhắc lại ở đây: không tác gia Miền Nam nào tránh được búa rìu dư luận hay từ các tác gia khác nếu không xử sự cho đúng tư cách của một người cầm bút. Hãy lấy thí dụ Nguyên Sa: danh tiếng, quen biết rộng, từng có báo trong tay mà khi núp sau bút hiệu khác để tấn công các tác gia khác, ông đã bị họ chỉ đích danh và cảnh cáo như Phạm Công Thiện trên tạp chí Tư Tưởng-Cơ quan ngôn luận của Đại học Vạn Hạnh, Trần Phong Giao trên tạp chí Văn và Nguyễn Nhật Duật trên tạp chí Khởi Hành, Bộ cũ.

Ngoài ra, quý độc giả [nhất là từ Việt Nam] nhắn hỏi tôi sinh hoạt văn nghệ bên này có gì khác với sinh hoạt của Văn nghệ Miền Nam? Chà, câu hỏi này khó trả lời quá, giản dị vì tôi không từng sinh hoạt trong thời Miền Nam để mà so sánh. Nhưng tôi có thể trả lời chắc chắn như sau: ở đâu thì cũng thế thôi, cũng có sự phân biệt rõ ràng giữa các "đẳng trật" người viết nghĩa là đẳng trật muôn đời mà tôi nói tới đây thì không ai quyết định được mà chỉ được quyết định bằng tác phẩm. Tôi muốn nói rằng, thời nào cũng thế, thời Văn học Miền Nam hay thời Văn học Hải ngoại thì cũng có người thành tâm, có người cặm cụi, có người viết mãi mới ra một chữ kiểu Thanh Tâm Tuyền, có người làm vè ào ào xuất bản đăng báo và tràn ngập lưới rồi mạng mà không được bẩy bước thành thơ kiểu Hà Thượng Nhân, có người viết sử mà lèm bèm đa sự như có một nỗi tư thù nào hối hả thúc sau lưng, có người viết tản mạn để khoe khoang ái tình lớn bé với các người tình văn nghệ bé lớn, có người viết giới thiệu với dụng ý để bêu lên những tên tuổi, thủ bút hay hình ảnh của người-nổi-tiếng dính dáng với họ. Thế nên, tuy tôn trọng cái vườn cúc không chỉ có cúc vạn thọ kiểu Phan Khôi, nhưng một người viết phải tự đánh giá để chọn "đẳng trật" mà giữ sao cho ngòi bút được trong sạch tuy không có nghĩa là quặt quẹo vì thiếu nội lực hay vì không dám bầy tỏ quan điểm của mình.

Sau hết, còn câu hỏi về cuộc Hội thảo Văn học Miền Nam mới đây tại Quận Cam thì cũng rất khó trả lời vì tôi không đến. Nhưng chẳng nhẽ người ngoài quan san đã hỏi mà người láng giềng ngay đây lại không cố trả lời với tất cả thành tâm và thiện chí? Với thành tâm và thiện chí ấy thì tôi cho rằng cuộc hội thảo này thất bại. Thất bại, không phải do tôi phán đoán, cũng không phải do Vương Trí Nhàn từ Việt Nam - đã thất vọng mà nhận xét rằng các diễn giả "còn thiếu sức khai phá gợi mở" vv - mà chính vì cuộc hội thảo này không đạt được mục đích do chính ông Nguyễn Hưng Quốc (người đại diện bốn tổ chức gửi thư mời) đặt ra: nó hầu như vắng bóng hết thẩy các nhà văn Miền Nam quanh đây hay tại Hoa Kỳ *, đối tượng của ông Quốc và của cuộc hội thảo.

Đúng thế, một cuộc hội thảo về một nền văn học mà số người lập ra nó còn cư ngụ quanh đây không có mặt trong vai trò diễn giả hay khán giả vì bất cứ lý do gì thì không thể nào nói là thành công hay không thất bại được. Vào ngày 25.11.2014, ông Quốc cho đăng bài viết này trên blog của ông, thú nhận nhà văn Miền Nam được mời đã "không thể tham dự":

- "Tháng bảy năm ngoái, tôi sang California dự cuộc hội thảo về Tự Lực văn đoàn.[...]Tuy nhiên, điều gợi cho tôi nhiều suy nghĩ nhất là sự vắng mặt của một số cây bút nổi tiếng trước năm 1975 [...] Nhìn dáng đi lẩy bẩy của Doãn Quốc Sỹ và nghĩ đến sự vắng mặt của nhiều người khác, kể cả nhà văn Võ Phiến đang ở rất gần toà soạn Người Việt, nơi tổ chức cuộc hội thảo, tôi ngậm ngùi nghĩ: một thế hệ nữa sắp sửa biến mất. Chính từ cảm giác ngậm ngùi ấy, tôi nảy ra sáng kiến tổ chức một cuộc hội thảo về văn học Miền Nam 1954-75 trước khi tất cả những người đóng vai trò tích cực trong việc xây đắp nó vĩnh viễn ra đi. Ngày hôm sau, trong lúc tán gẫu với nhà thơ Đỗ Quý Toàn và nhà thơ Trần Dạ Từ, tôi nêu lên ý kiến ấy; cả hai anh đều tán thành. Hôm sau nữa, tôi nói chuyện với nhà văn Phạm Phú Minh; anh Minh cũng tán thành. Những ngày kế tiếp, hầu như gặp ai, tôi cũng hỏi dò, và mọi người đều nghĩ đó là việc cần làm. Một số người nhấn mạnh: Nếu ở hải ngoại, mình không làm thì có lẽ còn lâu, lâu lắm, may ra mới có người làm. Mà họ làm, chưa chắc đã xuất phát từ thiện chí. Có khi nhằm xuyên tạc nữa không chừng. Ừ, vậy thì làm. Trong việc chuẩn bị, công việc khó nhất là mời các thuyết trình viên. [...] Thư mời gửi đi, hồi âm nhận được phần lớn rất buồn: rất ủng hộ cuộc hội thảo, nhưng sức yếu, lại bệnh, không thể tham dự được. Đọc những bức email hồi âm như vậy, thú thật, tôi thấy hiu hắt thế nào." [Nguyễn Hưng Quốc, Muộn còn hơn không: Hội thảo về văn học miền Nam 1954-1975, http://www.voatiengviet.com/content/blog/2532776.html]


Đọc đoạn trên, tôi thấy ngay cái vụng về của ông Quốc. Thứ nhất, tuy không phải là bác sĩ gia đình của họ, ông tiên đoán rằng các nhà văn Miền Nam đều "sắp sửa biến mất" rồi "vĩnh viễn ra đi" nên cần tổ chức ngay một cuộc hội thảo để họ có dịp tham dự DO CHÍNH ÔNG TỔ CHỨC vì theo cái nhầm thứ hai thì nếu người khác làm "chưa chắc đã xuất phát từ thiện chí. Có khi nhằm xuyên tạc nữa không chừng." (!!!) Làm như các nhà văn Miền Nam sẽ không biết nhận ra ai là kẻ có thiện chí để mà tham dự. Hay chỉ cần thiện chí là có thể tổ chức được! Bất nhã hơn, ông còn nói chắc như đinh đóng cột, khi trả lời một cuộc phỏng vấn với Đinh Quang Anh Thái, rằng nếu "Nếu để vài năm nữa, chưa chắc đã còn ai" (ngày 19.11.2014). Thế mà xưa nay chúng sinh cứ tưởng ông Quốc là nhà phê bình chứ không phải Lốc Cốc tử. Nếu là nhà phê bình có dăm bẩy chữ thì chắc chắn ông Quốc phải biết trong tự điển có chữ "yểu mệnh" để Thúy Kiều phải khóc Đạm Tiên: "Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương." Có phải non tuổi hơn rồi cũng sẽ thọ lâu hơn đâu: Nguyễn Nhược Pháp qua đời rất trẻ đấy thôi.

Tuy không muốn cũng mang tiếng là Lốc cốc tử nhưng tôi nghĩ rằng cả một đoạn phát biểu trên lộ ra một thứ bất cẩn đáng tiếc khiến gây ra phản ứng dây chuyền mà có lẽ ông Quốc không ngờ được: có thể là không ai muốn tham dự một cuộc hội thảo mà chính người tổ chức coi như một đám cưới chạy tang. Tinh thần "đám cưới chạy tang ấy" còn bầy tỏ qua những lá thư riêng ông Quốc gửi đến cho những nhà văn Miền Nam có lẽ cùng lúc và cùng nội dung với những tác gia khác được mời. Theo đó, nếu tôi không nhầm, các nhà văn này sẽ được (chỉ) 20 phút trình bày và 10 phút trả lời khán giả (như ông vậy?) trong khi chính ông lại phát biểu rằng họ không còn sống bao lâu nữa! Than ôi, ông Quốc quên rằng ở đâu thì cũng có phải có lễ nghi. Quả là một sáng kiến hy hữu vì tính cách hỗn quân hỗn quan qua cái cách phát biểu thiếu cẩn trọng và thiếu văn hóa tối thiểu - công khai nhắc đến sự "lẩy bẩy" của Doãn Quốc Sỹ và bàn tán về sự sẽ vắn số của các nhà văn khác tuồng như họ không hề có mặt với những lời ai điếu ngay từ khi họ còn sống ("ngậm ngùi, hiu hắt" vv) - đầy hớ hênh này. Không ai sẽ có bổn phận gì với ông Quốc cả dù ông nhân danh bất cứ một điều cao đẹp nào để tổ chức. Dĩ nhiên, quý độc giả có thể bẻ lại rằng tôi không phải nhà văn Miền Nam thì tại sao lại có thể nói thay cho họ được? Có thể là tôi sai đấy, nhưng tôi đã căn cứ sự nhận xét này qua kinh nghiệm của chính tôi và qua sự nghiên cứu về Văn học Miền Nam.

Và đó cũng là một truyền thống khác của Văn học Miền Nam: nó có lễ nghi trật tự hẳn hòi trong tinh thần tri ân và kính trọng những nhà văn đi trước đã dấn thân để không những sáng tác mà còn giúp đỡ người cầm bút khác hay thế hệ đi sau. Một thí dụ điển hình là Mặc Đỗ. Mặc Đỗ đã đăng thơ của Bùi Giáng và Cung Trầm Tưởng từ Hà nội. Khi vào Nam, ông được Mai Thảo mời viết bài nhận định chung đầy ưu ái cho loạt nghiên cứu về giới nhà văn trẻ trên tạp chí Văn, mở đầu bằng "Chủ đề Số đặc biệt sáu nhà văn trẻ" (Mang Viên Long, Trần Hoài Thư, Mường Mán, Định Nguyên, Phan Cung Nghiệp, Phạm Quang Phước) ra ngày 1 tháng 3, 1972, chỉ 3 năm trước khi Miền Nam mất. Là một nhà văn từng có một sự nghiệp lẫy lừng - Mặc Đỗ tham dự điều hành Tạp chí Phổ Thông, cơ quan phát biểu của Hội Cựu Sinh Viên Luật, Hà nội; xuất bản nhật báo Tự Do (1954), lập nhà xuất bản Quan Điểm, có sáng tác trên hầu hết các tạp chí nghệ thuật lúc bấy giờ lại là một dịch giả tiên phong - nhưng ông hết sức khiêm nhượng khi viết bài "Những người viết trẻ" (trang 1-7, sđd) để giới thiệu chung về hiện tượng truyện ngắn qua lớp nhà văn trẻ này:

-"Là cổ thụ có một nỗi khổ có ai biết không? Cổ thụ hay được chim non, sáo đá bay đến đậu và ỉa bậy lên vô tội vạ. Triết lý đúng nhất của cổ thụ là cười. Là cái cây đàng lên hào hứng hơn chứ" (trang 4, sđd)

Nhưng nói thế không có nghĩa "cổ thụ" sẽ im lặng vô điều kiện! Sau 1975, tại Hoa Kỳ, Mặc Đỗ sẽ mắng Võ Phiến bằng một câu bất hủ đi vào lịch sử Văn học Hải ngoại [khi Võ Phiến nhại một câu của Phan Cự Đệ, công thần của văn học Cộng sản, để phỉ báng nhóm Quan Điểm]: "Kiến thức của ông nhà văn quèn, công chức tỉnh nhỏ học hành đến đâu, lương tâm chức nghiệp (phê bình) có tương xứng không, liệu có đủ tin? Tư cách hạng bét mà dám đứng ra xin tiền để làm một công việc xét định về tác phẩm của bao nhiêu người khác, xét định không những về tác phẩm mà còn về con người và đời sống, hoạt động của những người khác (làm vậy là định bôi xấu, vu cáo người chứ không phải phê bình văn học)...." (Nguyễn Tà Cúc phỏng vấn Mặc Đỗ)

Một thí dụ khác là Viên Linh, người duy nhất của Văn học Miền Nam có sự nghiệp vừa là một nhà thơ nhà văn có tài vừa là một một chủ nhiệm chủ bút kỳ cựu. Viên Linh, khi điều khiển tạp chí Khởi Hành, đã đặc biệt chú ý đến một lớp nhà văn thơ trẻ, nhất là lớp mặc áo lính, như Cung Tích Biền, Nguyễn Hải Chí (họa sĩ CHÓE), Cao Thoại Châu, Lâm Hảo Dũng, Nguyễn Ái Lữ, Kiêm Minh, Nguyễn Tôn Nhan, Ngô Nguyên Nghiễm, Ngụy Ngữ, Nguyễn Bắc Sơn, Từ Hoài Tấn, Trần Yên Hòa, Nguyễn Miên Thảo, Đặng Tấn Tới, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên vv. Thêm vào đó, còn có Tần Vi, một nhà thơ nữ có tài, xuất hiện rất nhiều lần và ra bìa trên Khởi Hành như Nguyễn Bắc Sơn, khiến cho người viết có cảm tưởng rằng nếu Miền Nam không mất thì sẽ vượt rất xa. Quả là một sự đáng tiếc mà Miền Nam mất quá sớm dẫn đến hậu quả hiển nhiên là nhiều nhà văn thơ thuộc thế hệ cuối chưa thể để lại một sự nghiệp dầy dặn hơn hay chứng tỏ được tài năng sẽ tiến bộ ra sao cùng thời gian sau 20 năm ngắn ngủi này. Họ sẽ phải chứng minh lần nữa sau khi ra khỏi nước - như Hà Thúc Sinh, một trường hợp hết sức thành công của Văn học Hải ngoại - nhưng sự tương kính giữa 3 thế hệ văn nghệ cầm bút [nếu có thể nói một cách giản dị từ thế hệ Nhất Linh, rồi thế hệ Mặc Đỗ, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Văn Quang, Hà Huyền Chi, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Nhật Tiến, Võ Phiến, Viên Linh... với thế hệ Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Xuân Hoàng, Du Tử Lê, Tuệ Mai, Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng là gạch nối để chấm dứt với thế hệ Trần Phù Thế, Tần Vy, Mang Viên Long,...] đã bầy tỏ rất rõ trong sinh hoạt phong phú nhưng lễ nghi trật tự của văn nghệ Miền Nam.

Tôi đã tổng hợp một số tin tức và có thể đưa ra một danh sách dĩ nhiên không đầy đủ nhưng cốt ý chỉ để cung cấp cho quý độc giả, nhất là độc giả trong nước, môt khái niệm về các nhà văn/thơ Miền Nam đã định cư tại Hoa Kỳ& ngoài Việt Nam. Đa số những người cầm bút này còn đang hoạt động, có khi mạnh mẽ, qua đủ loại hoạt động văn nghệ bền bỉ.

- Tại California và vùng phụ cận: Linh Bảo, Minh Đức Hoài Trinh, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh, Đỗ Tiến Đức, Viên Linh, Hà Huyền Chi, Ngô Thế Vinh, Nhất Tuấn, Nguyễn Đình Toàn, Hà Thúc Sinh, Thành Tôn, Lê Tất Điều, Trần Dạ Từ, Đỗ Quý Toàn, Túy Hồng, Nhã Ca, Trùng Dương, Du Tử Lê, Phan Nhật Nam, Trần Văn Nam, Nguyễn Văn Sâm, Phan Lạc Tiếp, Lữ Quỳnh, Trần Yên Hòa... Giới hội họa có Duy Thanh, Đinh Cường, Nguyễn Đồng, Nguyễn Thị Hợp, Nguyên Khai, Bé Ký, Hồ Thành Đức và Huỳnh Hữu Ủy (phê bình). Xa hơn, ngoài California và ngoài Hoa Kỳ: Mặc Đỗ, Uyên Thao, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Thạch Chương, Nguyên Vũ, Trần Phù Thế rồi Lê Tài Điển (họa sĩ), Tần Vi, Đỗ Khánh Hoan và Nguyễn Hữu Hiệu (dịch giả) vv...Trong khi đó, chỉ có khoảng 3 người trong số này đã phát biểu trong cuộc hội thảo vừa rồi do ông Quốc làm đại diện: Trần Thanh Hiệp, Đỗ Quý Toàn và Du Tử Lê... Riêng nhà thơ Thành Tôn thì là một trường hợp rất đặc biệt: dù bản thân tôi chưa có kinh nghiệm này nhưng nhiều bạn văn đã nhờ anh cung cấp văn thơ (theo Trần Văn Nam, khi dời Miền Nam sau 1975 định cư tại Hoa kỳ, Thành Tôn đã mang theo nhiều sách báo Miền Nam) để giúp họ làm tuyển tập hay nghiên cứu. Thành Tôn xuất bản tập thơ Thắp tình vào năm 1969.

Nhưng điều làm tôi vẫn ngạc nhiên nhất là không hiểu ông Quốc đã "hỏi dò" những ai lúc trước để rồi dẫn đến nông nỗi thê thảm là sau này hầu như không có nhà văn Miền Nam nào tham dự? Ngay cả người mà ông "tán gẫu" và "tán thành" với ông ngay từ đầu mà ông nêu tên như Trần Dạ Từ hình như cũng vắng mặt như một diễn giả? Đằng khác, chính vì sự thất bại của cuộc hội thảo mà một điểm khác nổi bật: rất nhiều nhà văn Miền Nam không sắp sửa biến mất mà trái lại còn làm việc rất hăng, có thể hăng hơn ông Quốc là đằng khác. Tựu chung, theo tôi, cả một cuộc hội thảo được tổ chức với nhiều thiện ý và công lao của bao nhiêu người liên hệ đã không đạt được kết quả mong muốn chỉ vì người đại diện đã vô tình không bầy tỏ được tinh thần khiêm nhượng mà quan trọng hơn, có lẽ vẫn chưa chứng minh được khả năng hay bản lãnh về Văn học Miền Nam đủ để tăng phần khả tín cho ban tổ chức. Ông Quốc vừa cho đăng lại một bài viết cách đây hơn mươi năm trên Hợp Lưu để kết án và tấn công những người vô danh (!), chỉ vì họ đã không đồng ý với ông trong vấn đề Võ Phiến, bằng một thứ chữ nghĩa khiến người ta phải cau mày. Bài này vẫn còn là một dấu hỏi về khả năng phê bình và kiến thức của ông về Văn học Miền Nam. Ông mở đầu như sau:

"Trong một cuộc tán gẫu về văn học quanh một bàn nhậu ở Việt Nam, dịp tôi về thăm nhà vào cuối năm 2000, một người nghe đâu cũng làm thơ hỏi tôi: 'Nghe nói hình như anh có viết một cuốn sách về Võ Phiến?' [...]Tuy nhiên, tôi vẫn không ngớt ngạc nhiên về thái độ của nhà thơ ấy, một thái độ thô bạo và ngây thơ lạ thường. Thô bạo ở chỗ sẵn sàng công kích bất cứ ai nói khác điều mình nghĩ, và ngây thơ ở chỗ cả tin vào một vài câu trích dẫn bâng quơ đâu đó đến độ suồng sã nhảy xổ ra tranh luận về những cuốn sách anh chưa hề đọc. Thái độ thô bạo và ngây thơ như vậy, tôi ngờ là xuất phát từ một sự ngộ nhận về phê bình và dẫn đến hậu quả là làm cho công việc phê bình các hoạt động phê bình cứ loanh quanh mãi trong vòng đàm tiếu vu vơ và vô bổ....[Nguyễn Hưng Quốc, "Văn học, trước hết, là văn bản", ngày 18. Tháng 11. 2014]"

Lập tức ông bị 2 độc giả chất vấn ngay:

Không có gì để kiểm chứng nguyên văn đối thoại giữa ông và 'nhà thơ'. Những gì ông kể lại chỉ là sự 'tóm tắt' của ông. Không những thế, ông cò(n) ăn gian, không dám nêu danh cái 'nhà thơ' kia là ai, ít nhất là bút danh. Và ông gọi đây là phê bình văn học ư? Ông mâu thuẫn chính ông... [Nhô từ Hoa Kỳ]

Mượn ý kiến của chỉ một nhà thơ bá vơ nào đó để biện luận cho cái cảm nghĩ của mình văn học là văn bản thì cũng lạ...[Song Đao từ Paris]

Chính ra, bài thượng dẫn và bài "Đánh giá một nhà phê bình", đăng cùng một blog vào ngày 21.11.2014, là hậu thân của bài " Phê hình phê bình" mà ông Quốc viết xong từ ngày 30.4.2001 và đã xuất hiện trên Hợp Lưu số 62, tháng 12.2001 & 1.2002, trang 23-38 (Khánh Trường chủ biên). Trên Hợp Lưu, ông Quốc có viết một đoạn gần 500 chữ mà nay ông bỏ ra khi cho đăng lại trong "Văn học, trước hết, là văn bản". Trong đoạn bỏ ra này - rất phi văn nghệ và phản tinh thần phê bình vì không những ông không dám nêu đích danh mà lại còn không trưng bằng chứng để phản bác - ông đã hết lời nguyền rủa một số người vô danh bằng một thứ chữ nghĩa và luận điệu cũng phi văn nghệ không kém chỉ vì họ không khen ngợi bộ Văn học Miền Nam của Võ Phiến:

"Vài ba tháng trước khi tình cờ gặp nhà thơ kể trên, tôi được một nhà văn thuộc loại khá có tiếng tăm ở California chuyển cho xem một xấp tài liệu của một diễn đàn văn nghệ được tổ chức qua hệ thống internet. Nội dung của xấp tài liệu ấy là cuộc thảo luận tập trung vào một bài phê bình bộ Văn học Miền Nam của Võ Phiến [...] Tuy nhiên, điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là cả người đồng ý và bênh vực bài phê bình lẫn những người không đồng ý và phản đối bài phê bình ấy đều thú nhận là họ chưa hề đọc bộ Văn học Miền Nam của Võ Phiến. Chưa hề đọc bộ sách, tất cả những cứ liệu người ta dùng để thảo luận với nhau một cách say sưa và... uyên bác là một số câu trích dẫn cụt đầu cụt đuôi trong bài phê bình nọ, một bài phê bình vốn đầy ác ý đối với Võ Phiến và được viết bởi một người, theo tôi, có một trình độ hiểu biết và cảm thụ văn học khá tầm thường. Chỉ dựa trên một nguồn tài liệu cực kỳ nghèo nàn và chắp vá như thế, những người tham gia vào diễn đàn nhiều khi phải suy diễn thêm, phải kết hợp với một số tin đồn họ thu nhận được đâu đó, cuối cùng, cuộc thảo luận càng lúc càng đi xa những gì Võ Phiến thực sự viết [...] Tôi cho một việc làm như thế, dù xuất phát từ những động cơ đầy thiện chí, vẫn là một chuyện ngồi lê đôi mách, một việc làm vô cùng nhảm nhí. Không những nhảm nhí, nó còn phản văn học...[Nguyễn Hưng Quốc, trang 24-25, sđd]"

Trong bài này, ông cũng có một câu nữa: "Tinh thần trách nhiệm cũng đòi hỏi nhà phê bình phải sẵn sàng bảo vệ các quan điểm của mình" (trang 34, sđd). Đúng thế, tôi - người đầu tiên viết một bài dài gần 30 trang với đầy đủ tài liệu dẫn chứng - đăng trên Diễn đàn trên mạng Người Mới (cuối 1999), nhắm chứng minh sự sai lầm, thiếu khả năng mà đầy tính kỳ thị địa phương của nhà văn Võ Phiến - đã trả lời cả Võ Phiến lẫn ông Quốc trong bài "Phê bình phản phê bình" (Khởi Hành Số 85, tháng 11.2003) có đoạn mở đầu như sau:

"Khoảng nửa năm sau khi sáu cuốn về Văn Học Miền Nam bị phê bình, nhà văn Võ Phiến, qua một cuộc gọi là phỏng vấn trên tờ Văn Học vào tháng năm, 2000, đã cần đến gần 10 trang - hơn nửa cuộc phỏng vấn - để thống trách cái “dư luận nêu ra, công khai hay ở chỗ riêng tư” đã phê bình ông. Tương tự, hơn hai năm sau, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc - con gà trọi (mượn chữ Hoàng Ngọc Hiến, Hợp Lưu số 54, trang 11) của Võ Phiến - trong một bài có tựa đề 'Phê bình phê bình' dài dằng dặc mười lăm trang đăng trên tờ Hợp Lưu số 62 (trang 23- 38), cũng léo nhéo về những người đã chê Võ Phiến mà tịnh không không dám chỉ đích danh một người nào, chỉ khi thì “nhà thơ nọ”, lúc thì “nhà văn thuộc loại khá có tiếng tăm ở California” rồi thì “diễn đàn văn nghệ được tồ chức qua hệ thống internet”, “tờ gì đó ở Mỹ” và “một bài phê bình vốn đầy ác ý đối với Võ Phiến và được viết bởi một người, theo tôi, có một trình độ hiểu biết và cảm thụ văn học khá tầm thường” vv và vv..." Người ta không ngạc nhiên rằng một người mang tiếng là “nhà phê bình” như Nguyễn Hưng Quốc, một nhà văn xuất hiện trên dưới nửa thế kỷ như Võ Phiến và một tạp chí mang tiếng “sáng tác nhận định văn nghệ” như tờ Văn Học mà lại không có can đảm và sự lương thiện tối thiểu vói đồng nghiệp và độc giả để nêu đích danh những người bị họ nhắc đến. Vì chắc chắn cái “dư luận” ấy, cái “diễn đàn trên internet” ấy, “tờ gì đó ở Mỹ”... phải đã thuyết phục được nhiều người, đã đe dọa không nhỏ đến uy tín Võ Phiến (và cả Nguyễn Hưng Quốc) nên mới buộc được (các) ông phải ra lời, dù là ra lời một cách hết sức không “văn hóa”. Bài này không những sẽ nói đến sự không lương thiện và thiếu can đảm ấy mà còn nhắm đến một vấn đề chung: trách nhiệm của người phê bình, nhất là phê bình về Văn học Miền Nam, một nền văn học chưa có đủ người viết về nó một cách chính xác và quy mô. [Nguyễn Tà Cúc, trang 34, sđd]

Còn ông Quốc có làm được đúng tôn chỉ do chính ông sáng tác hay không thì dành cho độc giả nhận xét. Mà ai là người từng phê bình Võ Phiến? Đồng thời với Võ Phiến thì đó là những nhà văn Miền Nam kỳ cựu và từng phê bình công khai khiến Võ Phiến phải im lặng chứ không phải một anh nhà thơ vô danh tiểu tốt nào ở Việt Nam để bá tánh không kiểm chứng được. Ngoài Mặc Đỗ và Mai Thảo còn có cả nhà văn/đạo diễn Đỗ Tiến Đức, từng đoạt giải nhất Văn học Nghệ Thuật với cuốn Má Hồng và từng giữ chức Giám đốc Nha Điện ảnh Việt Nam Cộng hòa, hiện sống tại Fountain Valley, California. Ông đã lên tiếng bác bỏ chức vụ "Phụ tá Giám đốc Nha Điện ảnh" của Võ Phiến do Nguyễn Hưng Quốc viết ở trang 23 trong cuốn Võ Phiến do Nhà Văn Nghệ xuất bản vào năm 1996.

Tiếp đó, người từng phê bình Võ Phiến mà đồng thời với ông Quốc thì là Thụy Khuê và xa hơn một chút, Hoàng Nguyên Nhuận. Ông Quốc đã "ăn gian" không những bằng cách sử dụng những kẻ vô danh để chứng minh một luận đề do ông định trước mà lại còn né tránh chính đối tượng Võ Phiến là tâm điểm vấn đề. Trong bài, không hề thấy ông phân tích hay dẫn chứng "văn bản" của Võ Phiến để giải thích tại sao, thí dụ, Võ Phiến đã loại hẳn Cung Trầm Tưởng, Hà Huyền Chi và Du Tử Lê [2] ra khỏi cuốn Thơ-Văn học Miền Nam. Trong khi đó, những người nêu trên đã nghiên cứu trước tác của Võ Phiến rất kỹ rồi mới viết ra nhận định của họ.

Nhận xét của Thụy Khuê, Pháp:

[…] Bộ Văn Học Miền Nam, rất đồ sộ và công phu của Võ Phiến, rất tiếc là đã không làm được công việc hướng dẫn người đọc. Trong phần Tổng quan, Võ Phiến đã vẽ ra một cách rất sống động và đầy đủ những sinh hoạt văn học miền Nam, với những giai thoại, những nhận xét dí dỏm về nhóm này, nhóm kia, nhưng ông không vẽ được nội dung tư tưởng của những xu hướng văn học thời ấy. Về phần tuyển tập (6 tập), sự lựa chọn các tác giả và các tác phẩm, còn nhiều điều để bàn cãi [...] Về văn của Vũ Khắc Khoan, ông đánh giá: "Nó phảng phất lối viết văn của Nhất Linh thời "Hồng nương! Hồng Nương!" "và ông mượn lời của Uyên Thao để xác nhận "Mai Thảo và Vũ Khắc Khoan là những tay văn chương ưỡn ẹo". Về kịch Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan, ông dẫn lời Cao Huy Khanh: "Ông Vũ giống hệt Thành Cát Tư Hãn" rồi ông lại dẫn lời Vũ Khắc Khoan mô tả Thành Cát Tư Hãn "sừng sững, lầm lì, khốc liệt và hầu như vô giác" để đi đến kết luận của Võ Phiến: "Ôi! Hãi quá! Người sao mà khủng khiếp quá thể." (Văn Học Miền Nam, sđd, trang 1748).

Tóm lại là ông ít đưa ra ý kiến của riêng ông mà hay dùng những ý kiến của người này, người kia để chế diễu, châm biếm những đối tượng văn học mà ông không thích. Ở Bình Nguyên Lộc, ông cho Bình Nguyên Lộc là một "tác giả tốt bụng, có hảo ý muốn làm vui người đọc" và còn thêm: "hảo ý không thuộc về nghệ thuật", ông mượn lời Cao Huy Khanh để nói cuốn Đò Dọc là "sự thành công duy nhất và quá hiếm hoi của Bình Nguyên Lộc". Ở Nhật Tiến, ông mượn lời Nhật Tiến trả lời phỏng vấn "tôi chỉ là nhà giáo hơn là một nhà văn" để xác định: Nhật Tiến nói đúng, ông chỉ là nhà giáo. Lối viết châm biếm, mỉa mai (đời), ưu điểm của tùy bút nơi ông, lại trở thành châm biếm, mỉa mai (cá nhân), điều tối kỵ trong phê bình văn học. Một cách phê bình như thế, không những không giúp gì cho sự tìm hiểu văn học miền Nam, mà lại còn có hại cho sự nghiệp văn học của Võ Phiến.” (Thụy Khuê, Vấn đề đoạn tuyệt với quá khứ để lên đường, http://thuykhue.free.fr/thumucindex.html)

Cho tới nay, kể đã gần 15 năm, Võ Phiến vẫn chưa phản bác được - bằng VĂN BẢN - tại sao ông đã phạm vào những điều tối kỵ trên mà tệ hơn nữa, còn xúc phạm tới đời riêng của Nguyễn Thị Hoàng và Kim Lefèvre, một người không hề thuộc Văn học Miền Nam. Võ Phiến còn không phản bác được, xá gì ông Quốc?!

Còn một chuyện nữa, tưởng cũng cần nói ra luôn để ông Quốc biết trí nhớ của ông có thể kém nhưng cộng đồng văn chương thì không. Năm 1984, Viên Linh làm một bài thơ dài, có tới 12 đoạn, đăng trên Văn. Bài thơ này có đoạn kết như sau: "[...]Ba sinh hương lửa có gần/Gửi em đầy đủ/Thân /Tâm/Ý/Lời-Gửi em tiếng khóc/câu cười/Văn Chương. Hạnh Phúc. Cuộc Đời, v.v.” Đỗ Quý Toàn có nhận xét rằng đây là lần đầu tiên ông thấy hai chữ "vân vân (vv)" được dùng trong thơ Việt. Ông Quốc đã lấy lại hai chữ này vào một cái tên cho một cuốn sách viết về thơ nhan đề Thơ, v.v ...và v.v...do nhà Văn Nghệ xuất bản, 1996) mà không hề ghi xuất xứ của nó ngay trong đầu cuốn sách như cái lệ văn chương lâu nay vẫn thường. Thế nhưng khi bị hỏi đến, biết là không chối được, ông đã phải nhận. Khi người phỏng vấn (Nguyễn Mạnh Trinh) đặt câu hỏi, ông Quốc phải nói rõ:

Chữ vân vân, dưới dạng viết tắt là vv...một lần được Viên Linh sử dụng tài tình trong mấy câu thơ[...] Chữ ‘vv..’ thật xuất thần. Nó rất lạ: có lẽ trong thơ ca VN chưa bao giờ có chữ ‘vv...’ nào lại nằm ở cái vị trí chênh vênh, cheo leo, ngặt nghèo đến vậy. Nó nằm ở cuối câu. Câu ấy nằm ở cuối bài. Nó xuất hiện ở dạng viết tắt, ngắn ngủi nhỏ nhoi, đứng kề liền sát bên cạnh những ‘Văn Chương, Hạnh Phúc, Cuộc Đời’ được viết hoa to lớn uy nghi. Nhưng, nói như Đỗ Quý Toàn trong cuốn Tìm Thơ Trong Tiếng Nói, nó làm cho các tiếng long trọng như Văn Chương, Hạnh Phúc, Cuộc Đời’ bỗng nhẹ thênh...’ " [...] Hai chữ “v.v...” ấy cứ ám ảnh tôi mãi. Lâu lâu tôi lại lẩm nhẩm đọc thầm. Chủ yếu là để nghe cái âm vang nhiệm màu của hai chữ ‘vv...’ ở cái vị trí lắt lẻo ấy...Rồi một hôm, tôi chợt nẩy ra ý nghĩ: giá mà hai chữ vv... ấy xuất hiện ngay ở bìa sách, chắc là đẹp mắt lắm...Ừ, thì Thơ v.v...Tại sao không chứ?..." [Hợp Lưu số 32, "Nói chuyện với Nguyễn Hưng Quốc", trang 203-204]

Vâng, tại sao không nhỉ?! Nhưng khi xuất bản cuốn sách này, ông lẳng lặng không đăng lại đoạn thơ hay câu thơ và tên tác giả Viên Linh của 2 chữ “v.v...” ấy ở đầu sách cho người ta biết như lệ thường mà ở Tây hay ta vẫn thế. Thay vào đó, là một câu rất mơ hồ trong trang "Cảm Tạ": "Viết quyển sách này, tôi mắc nợ nhiều người. Nợ người này một ý, người kia một câu, người nọ một chữ...” Áng chừng nhỡ có ai căn vặn đến, ông sẽ kêu rằng ông có nhắc đến đấy chứ. Nhưng độc giả, người mua sách, nhất là những nhà văn ở VN có lần đại chiến với ông Quốc khiến ông thua tả tơi không còn manh giáp, có mấy ai đọc luôn cả Hợp Lưu để biết rằng hai chữ "v.v." có "âm vang nhiệm màu" là của Viên Linh chứ không phải của ông Quốc?! Nếu quả thực là một người phê bình hạng xoàng-chứ chưa cần giỏi giang gì-ông Quốc phải biết rằng ông, hay bất cứ ai, không thể mượn-một-chữ hay một-ý của một tác gia khác mà không công khai ra cái nguồn đó. "Một chữ" (hay "một ý") ấy là cái nghề đã trau luyện, đã tử công phu, đã "thôi xao" không biết bao lâu trong hành trình sáng tạo đầy gai góc và cạm bẫy của những câu vè những chữ sáo.

Tôi đã từng phê bình đích danh ông Quốc về cái kiểu lý luận không-kiểm-chứng, không-văn-bản, không-nhân-chứng và không sở-học này nên không cần trở lại nữa. Nhưng một người đã có nhiều thứ thành tích khả nghi như thế mà gặp dịp mời mọc "các quan nhà văn ...Miền Nam" để khiến người ta phải trả lời rất lịch sự và rất văn hóa "Rằng, 'Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu' " (Nguyễn Khuyến, "Di chúc") thì hẳn cũng chẳng có gì là lạ. Và quả là Văn học Miền Nam cũng vô cùng "bất hạnh" vì được một người như ông Quốc đứng ra làm Trưởng ban tổ chức hội thảo! 

Duy có điều làm tôi "vẫn không ngớt ngạc nhiên" (mượn chữ của ông Quốc) mỗi lần có dịp đọc lại, là tại sao một nhà mang tiếng phê bình lại đưa chuyện "tán gẫu" "quanh một bàn nhậu" - nghĩa là không đáng gì nói đến-ra mà bàn một cách cực kỳ hung hăng đến nỗi mạt sát mấy kẻ vô danh đáng thương ấy bằng nhiều ngôn từ nặng nề đến thế nhỉ? Có vẻ là cái thói quen "tán gẫu" lại không giúp ích được gì cho ông Quốc trong lần "tán gẫu với nhà thơ Đỗ Quý Toàn và nhà thơ Trần Dạ Từ" để tổ chức hội thảo lần này. Ông Quốc, trước khi góp ý, cần phải thông thạo hay cải tiến phần nào về kiến thức của công việc muốn bàn đến thì mới có thể được ngồi cùng chiếu với các nhà phê bình khác mà bàn luận. Nếu không, ông cứ phải bị tự lưu đầy ra "tán gẫu" rồi "đàm tiếu" tại các "quán nhậu" cùng những người "bá vơ" hay "vô danh" như ông từng thú nhận khiến cho cuộc hành trình mười bốn năm sau, từ một "quán nhậu" tại Việt Nam với một nhà thơ vô danh đến cuộc hội thảo vắng mặt những người có danh được ông mời tại Hoa Kỳ, hóa ra không rực rỡ chút nào. Nhưng nói thế không có nghĩa là tôi chê bôi gì cả cuộc hội thảo. Bản thân tôi, vì có dịp quen biết các bạn trong Diễn đàn Da màu và nhật báo Người Việt, 2 thành viên trong Ban Tổ chức, tôi phải ghi nhận công lao và thiện chí của họ (và tuy thế, cũng cả của ông Quốc nữa) rồi thành thực chúc họ (và cũng cả ông Quốc nữa) thập phần thành công hơn trong các lần hội thảo sau, nếu có.

Cuối cùng, tuy viết là một sự cô độc nhưng trong những trường hợp như Văn học Miền Nam hay Văn học Hải ngoại, khi sự sinh tồn của chúng đặt nhiều phần vào sự liên hệ chặt chẽ giữa tác gia và độc giả, tôi xin được tri ân không những các độc giả từ Việt Nam mà cả độc giả ngoài nước, nhất là độc giả Khởi Hành - mà như đã viết trong phần Bạt, là những người đã đọc một số bài trước khi chúng được xuất bản thành sách - đã tăng thêm niềm tin cho tôi vào một rạng đông của nhân loại trong một thời kỳ đêm tối đầy bạo lực và chết chóc.


Nguyễn Tà Cúc

(tác giả gởi)


CHÚ THÍCH

Bài này đã được đăng trên tạp chí Khởi Hành nhưng để phổ biến cho một giới độc giả khác, tôi đã hoàn chỉnh lại cho dễ theo dõi hơn nhưng nội dung tựu chung không có gì thay đổi.

 [1] Cuốn sách đang được nói tới ở đây là cuốn Văn học Miền Nam: Nhóm * Tạp chí văn học * Tác giả [Nguyễn Tà Cúc], 380 trang, vừa được xuất bản năm rồi. Một số vấn đề được đề cập đến trong cuốn này là: Nhóm Quan Điểm và nhà văn Mặc Đỗ, Xuất xứ của tạp chí Bách Khoa qua các nhân chứng sáng lập và cộng tác, Phan Khôi đã dịch Kinh thánh Tin lành Việt ngữ như thế nào & Vị trí của Nhà xuất bản Hội thánh Tin lành Đông Pháp trong lịch sử ấn loát & Một nghi vấn trong Văn học Miền Nam liên quan đến Sách Nhã Ca của Kinh thánh Tin lành, Vài hồi ký tiêu biểu của văn giới Miền Nam sau 1975: Đáy địa ngục của Tạ Tỵ, Đại học máu của Hà Thúc Sinh và Hồi Ký một người mất ngày tháng của Nhã Ca, Giải khăn sô cho Huế là "truyện ký" hay "hồi ký" qua 2 lần xuất bản vv... Độc giả muốn mua, xin gửi 30 mk, chi phiếu đề tên Nguyen Ta Cuc [sẽ được gửi bảo đảm bằng loại priority mail, trong Hoa Kỳ-Ngoài Hoa Kỳ, xin gửi 15 mỹ kim bưu phí không có bản đảm] về:

Khởi Hành

PO Box 670

Midway City CA 92655

Độc giả nào mua từ 3 cuốn trở lên [25 mk một cuốn] sẽ không phải trả bưu phí.

 

 [2] Nhà thơ Du Tử Lê vừa có một tập thơ (Giỏ hoa thời mới lớn) được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành vào đầu năm 2014 tại Hà Nội, Việt Nam. Sự kiện này hiện đang được chú ý đến vì Du Tử Lê không những là một nhà thơ thuộc Văn học Miền Nam mà còn là Đại úy trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Cho dù tán thành quyết định của Du Tử Lê hay không, tôi nghĩ có hai điều quan trọng cần trình bày như sau: tôi tôn trọng quyền tự do lựa chọn của ông dù bản thân tôi nghĩ là không nên - nhất là trong trường hợp nhà xuất bản của Hội Nhà Văn - vì hiện nay, ngoài việc nhà nước vẫn làm chủ các nhà xuất bản của các tổ chức nhà văn, quan trọng hơn, các nhà văn Miền Nam (như Văn Quang, Thụy Vũ vv...) vẫn chưa được họ giúp hay cho phép xuất bản. Thứ hai, dù vậy, tôi cho rằng không thể tước đi sự thật rằng ông vẫn là một nhà thơ có tiếng và từng đoạt giải thưởng văn học của Miền Nam trước 1975; một sự thật cần được ghi lại khi viết về Văn học Miền Nam mà Võ Phiến đã không làm khi bỏ Du Tử Lê [và Cung Trầm Tưởng hay Hà Huyền Chi vv...] ra khỏi cuốn Thơ-Văn học Miền Nam.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Bảy 20184:52 CH(Xem: 23)
Cách đây vài năm một văn hữu đang chủ trương một tờ báo ảo trên mạng Internet ghé thăm tòa soạn tờ báo
17 Tháng Bảy 201810:40 SA(Xem: 134)
hừ! ta kẻ thua trận. chờ ngươi chiều bãi cát. máu rạch đỏ cửa thuận an. thấm ướt lớp chiến bào. ta thua ngươi.
14 Tháng Bảy 20183:08 CH(Xem: 196)
Độc giả đã đọc và biết nhiều về một Đặng Tiến với những bài phê bình
11 Tháng Bảy 20183:03 CH(Xem: 213)
(h. Hoàng Lâm) Nguyễn Tất Nhiên tên thật: Nguyễn Hoàng Hải. Sinh: Biên Hòa. Năm sinh: 30/5/1952. Năm mất: 3/8/1992 tại Ca, Mỹ.
04 Tháng Bảy 20188:08 SA(Xem: 205)
(h. K.H) Khái Hưng đã chết như thế nào? Từ rất lâu, mỗi lần gặp lại tên Khái Hưng