DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,094,150

CỜ VÀNG, CỜ MÁU - Nguyễn Lương Tâm (K1.ĐH/CTCT/ĐL)

Tuesday, April 21, 201512:00 AM(View: 3691)
CỜ VÀNG, CỜ MÁU - Nguyễn Lương Tâm (K1.ĐH/CTCT/ĐL)

CỜ VÀNG, CỜ MÁU



Image result for cờ vàng vnch




Cờ máu trong nhà thờ MỸ.


Năm 1945, hơn 6 triệu dân Do Thái, bị Hitler sát hại trong các lò hơi ngạt. Ngày nay đố ai dám chưng một tấm ảnh của tên đồ tể Hitler trong cộng đồng những người Do thái.

30 năm dài đằng đẵng, bắc quân vác ngọn cờ máu, tuân lệnh quan thầy cộng sản Liên Sô, Tàu, hung hăng xé bỏ hiệp định Genève, ngu dại xua quân phá nát miền Nam Việt Nam. Chúng chai lỳ, giết chóc, hãm hại người anh em cùng giống nòi, tiên tổ, gây biết bao cảnh điêu linh, nồi da xáo thịt, oán thù nghiệt ngã khôn nguôi cho cả một dân tộc. Kết quả là ngày nay trên mấy triệu người Việt ly hương, tổ quốc lâm nguy dưới nanh vuốt của giặc Tàu, toàn dân rên siết trong tay bạo lực độc quyền đảng trị tham tàn.

Có đêm dài trên đất khách quê người, trong cơn ác mộng thấy mình đang bình yên dạo chơi trên bờ biển bỗng nhao nhao lên một bầy quỷ dữ tay cầm lá cờ đỏ máu, có cả búa liềm, rượt chạy sát đít, có cả tiếng súng AK nổ loạn xạ bên trời, giật mình thức giấc, trán vã mồ hôi, cả người mệt lử. Thỉnh thoảng nhìn thấy cờ máu xuất hiện đâu đó trong báo chí, trên internet… thần trí của mình bỗng dưng tối tăm, đôi mắt khổ đau sụp tối mù lòa.

Ấy thế mà ngay trên đất Mỹ này, một ngày Chúa Nhật cuối thu 1998, tôi bước vào một ngôi nhà thờ của người Mỹ, tọa lạc ở vùng SE Portland Oregon để tham dự một buổi thờ phượng hằng tuần tiếp theo dành cho tín hữu người Mỹ gốc Việt. Ngay trước mặt tôi là một lá cờ máu to tướng có mặt trong những lá cờ nhiều nước trên thế giới, treo ngang sảnh đường. Qua bao năm, tôi không thể nào quên được tiếng khóc và hình ảnh vật vã của một nữ tín hữu trong nhà thờ có mặt hôm đó. Bà là vợ của môt sĩ quan đã chết bệnh trong ngục tù cộng sản tại bắc Việt Nam. Ngay hàng ghế chót, bà vừa khóc vừa than, như oán trách cả Thượng Đế:

-Chúa ơi! Sao còn có lá cờ Việt cộng gì ở đây nữa. Những kẻ ác vô thần vô thánh này cũng có mặt ở chốn linh thiêng này sao?

Chưa gặp vị Mục Sư quản nhiệm nhà thờ ở đây thì một thanh niên người Mỹ bước vào. Nhìn thấy quang cảnh trên, anh lân la hỏi chuyện.Chừng như đã thấu rõ được nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt đáng thương anh ta cho biết những lá cờ đã được tín hữu Mỹ treo sẵn trong một buổi lễ cầu nguyện chung cho các nước. Sau đó anh tự tay bắt ghế leo lên giật lá cờ kia xuống và ném vào góc nhà thờ rồi lặng lẽ đi ra ngoài giữa sự ngỡ ngàng của đám đông.

Nhiều năm đã qua, trong chốn thờ phượng này chỉ còn thấy lá cờ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ được trang trọng đặt trên giá gỗ sát vách tường ngay phía sau bục giảng.

Một lần khác, đậm màu hoang dã hơn, cả miền đất Cali sục sôi vụ Trần Trường. Đang sung sướng trong chăn êm nệm ấm bỗng có một ngày y như bị ma xui quỉ giục, giở chứng khùng điên chọc giận cộng đồng tỵ nạn cộng sản Việt Nam bằng cách treo cờ máu và hình lão già râu đáng sợ, ngay trong tiệm bán băng nhạc của y. Sống trong đất nước thượng tôn pháp luật, sau mấy tuần lễ biểu tình đấu tranh mà đến lúc cao điểm đã quy tụ trên cả trăm ngàn người tham dự; lá cờ và hình ảnh kia đã bị gỡ bỏ. Y bị buộc dẹp tiệm vì chuyên sang băng lậu làm ăn phi pháp. Lâu rồi, mọi người đều nhận ra rằng làm như hễ có gì liên lụy tới “mấy anh bên kia”là có dính dấp tới chuyện lèo lái, tính toan, xum xoe và gian dối. Vào thời gian đó, trong một buổi tối Chúa Nhật, tôi đưa vợ con đến một ngôi nhà thờ ở vùng NE Portland. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi, đó là đám đông người lớn tuổi đang đứng lố nhố chung quanh một chiếc bàn tròn nhỏ, đặt ngay ở góc phía trái bên trong nhà thờ. Thấy cảnh khác lạ, tôi cũng bước tới, ghé mắt vào xem. Không có gì ghê gớm lắm, ngoại trừ một chiếc bình nhỏ ai đó đã đặt ngay giữa bàn. Bên trên có cắm một chùm lá cờ nhỏ của các nước, cỡ bằng bàn tay em bé. Nếu chỉ có vậy thì đâu có gì làm mọi người xôn xao. Một em bé trai, khoảng trên 10 tuổi, tôi đoán là con cháu của một HO hay gia đình vượt biên nào đó, nhìn tôi đăm đăm với vẻ mặt hốt hoảng, cúi đầu nói nhỏ cho tôi vừa đủ nghe:

-Cờ… Việt cộng… trên bàn đó chú.

Chưa hết ngỡ ngàng, tôi lại thật sự tá hỏa khi nghe có tiếng của một người đàn ông đang đứng đằng sau:

- Ăn thua gì, ở Cali người ta cho treo cờ đó… rồi đó…

Chưa hết ngạc nhiên, một thanh niên trong gia đình khá nổi tiếng ở Portland về mọi công tác từ thiện giúp đỡ những người tín hữu khốn khó tại Việt Nam nhìn tôi rồi hỏi thật to như cho mọi người cùng nghe:

- Có gì mà chú phải ngạc nhiên? Cũng bình thường thôi, như bao lá cờ của nhiều nước trên thế giới ... người Mỹ coi đó là lá cờ Việt Nam.

Và như sợ tôi không hiểu gì về ý nghĩa những lời vừa nói, người thanh niên này nhìn thẳng vào mặt tôi và “ lên lớp” :

- Muốn có một lá cờ được mọi người chấp nhận, lá cờ đó phải tượng trưng cho một đất nước có chủ quyền đất đai, biển cả, có dân và trên hết phải có một chính quyền…

Thêm một lần nữa, tôi muốn té ngửa, tự dưng thấy hụt hơi như người đang bơi, bị dòng nước xoáy cuốn phăng đi. Nhưng trong chớp mắt, tôi chụp lấy lá cờ kia, trao cho người thanh niên nọ, với đôi lời ngắn gọn:

- Phải, cháu nói quá là hay… xin cháu giữ cái này và về Việt Nam ngay sống với nó đi…

Không biết người trẻ tuổi quá sức khôn lanh kia có nghe rõ lời tôi nói hay không, nhưng tôi thấy anh chàng vội vã quay lưng biến mất trong đám đông giữa lúc có tiếng gọi mời mọi người bước vào nhà thờ vì đã tới giờ thờ phượng.

Buổi lễ tan. Tôi bước ra ngoài. Chiếc bàn tròn với hủ đựng cờ đã được dẹp đi từ lúc nào.

Sau này, không biết vị nào bị tà ma ám ảnh đã quá cao hứng gây ra chuyện “nhạy cảm”. Chỉ tội nghiệp cho góc nhà thờ lâu nay vẫn hoài bỏ trống, còn những người sợ chuyện xưa tái diễn, mỗi lần bước vào bên trong đều liếc mắt nhìn xem có gì lạ không.

Tôi chưa được một dịp gặp gỡ người thanh niên nọ để nói về nỗi đớn đau tận cùng của những người Việt tỵ nạn đang bình yên sống trên đất Mỹ, nếu một hôm tình cờ nhìn thấy những nhân vật hoặc dị vật của những gì mà một thời đã làm tan nát đời sống cá nhân, gia đình, và đất nước mà họ phải trực tiếp gánh chịu. Tôi biết rất rõ gia đình của người thanh niên kia cũng có người từng là nạn nhân của bọn Việt cộng dữ dằn chuyên xử dụng dao găm và mã tấu. Tôi cũng muốn xin với anh cùng gia đình và mọi người; như những ngày nào, đã tha thiết cầu xin ơn yêu thương nhiệm mầu cho sớm thoát khỏi cảnh lầm than trên quê hương, hay tránh xa tử thần qua cơn sóng gió ba đào trên biển cả. Nay dành chút công, của chia xẻ cho những người đang tranh đấu vì nhân quyền dân chủ ở quê nhà. Hoặc dùng chút thì giờ quý báu - cho dù trong chỗ riêng tư - khẩn nài Ơn Trên mau cứu vớt quê hương khỏi ách thống trị của những kẻ vô thần ngày đêm báng bổ Thánh Chúa, quên ơn sáng tạo muôn loài vạn vật. Vì không tin có thiên đàng địa ngục, có linh hồn, đời sau cho nên hiện tại, họ dám làm tất cả mọi điều đề dành lấy bả vinh hoa, phú quý cho bản thân, gia đình, phe phái. Chắc chắn khi lớn mạnh đủ, họ cũng chẳng bao giờ để yên cho mọi người được sống an lành.

 Vài năm sau đó , trong một lần đến phi trường Portland đón người nhà từ Việt Nam qua Mỹ định cư. Chợt tôi nhìn thấy bà chị ruột trịnh trọng xoay ngang người, lễ phép lên tiếng với một người đang đi trong đám đông:

 - Xin chào Mục Sư ạ.

Tôi kịp nhận ra, chàng thanh niên vận âu phục lịch lãm kia là người đã một lần nhắc cho tôi biết làm sao để có một lá cờ; nghe đâu đã được giới chức trong đạo từ Việt Nam sang, phong thánh chức cho. Và hiện nay, mục sư trẻ đang có cơ sở làm ăn lớn tại thành phố mang tên “bác”. Theo lời của vài người thường nói tới việc chủ nhân muốn tạo thêm việc làm tốt cho những tín hữu nghèo, và cũng đóng góp tích cực vào việc mở mang nước Chúa trên “quê hương Việt Nam thân yêu đời đời bền vững của chúng ta”.

 

Cờ Vàng trong trại tù cộng sản.

Image result for cờ vàng vnch



Sau hơn 5 năm nếm đủ muôn vàn đói khổ trong các trại giam trên đất bắc; đúng như lời của một viên thượng úy Việt cộng, giọng Thanh Nghệ Tỉnh, trong đêm tống biệt chúng tôi lên những chiếc tàu ở bến Tân Cảng Sài gòn, đã dõng dạc tuyên bố trước đám bại quân miền Nam những người “thua cuộc” đơn thuần chỉ vì bàn tay lèo lái nham hiểm của các thế lực quốc tế, để mưu cầu lợi ích riêng tư:

- Đêm nay chúng tôi sẽ đưa các anh đến một vùng đất chết, hơn bốn ngàn năm chưa có dấu chân người…

Một câu nói mới nghe qua, êm ái và lãng mạn như mấy vần thơ tình của Xuân Diệu nhưng dễ xé nát tâm can của những người tù thất trận. Nhưng anh bạn tù, một sĩ quan CTCT ngồi sau lưng tôi, cười khẩy:

-Tụi mình sắp được chu du miền bắc XHCN, gần trung ương đảng, thật là một vinh hạnh lớn lao….mà sao ở đó mấy ngàn năm chưa có dấu chân người… chắc toàn là dấu chân vượn…

Cám ơn Thiên Chúa chí nhân, chí ái, dầu nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại, thì thời gian vẫn cứ vùn vụt trôi qua. Chúng tôi vẫn còn đây, trong tay yêu thương quan phòng của Ngài dầu phải trải qua những ngày dở sống dở chết trong địa ngục trần gian đói khát, nhục nhằn, tơi tả…Vào một ngày đẹp trời, tù nhân sống sót lại hết sức “hồ hởi phấn khởi” được di chuyển vào Nam dù thân xác lại phải chịu đựng đói mệt rã rời trên những toa xe lửa cũ kỹ với đôi tay nằm gọn giữa những chiếc còng sắt lạnh lùng. Trong thân phận tù đày, tôi cũng hết sức xót xa khi chứng kiến cảnh một bạn tù, anh là phi công F5E, vừa bước chân ra khỏi toa xe lửa ở ga Dầu Giây, đã quỳ mọp xuống ôm hôn lấy đất miền Nam. Sau này anh tâm sự với tôi rằng anh đã hành động bất ngờ, xuất phát từ trong trái tim đầy xúc động như một lời tạ lỗi với quê hương đã lỡ đánh mất vào tay quân thù. Ở trại Hàm Tân Thuận Hải được vài tháng; một buổi chiều kia, đang ngồi nói chuyện đùa cho qua ngày với vài người bạn, chợt ai nấy sửng sốt nhìn ra phía cửa lớn đầu nhà, một tên công an xách súng AK, xông vào, theo sau là một trang thanh niên, người cao lênh khênh trên đôi nạn gỗ. Mặt mày xanh mướt như tàu lá chuối.

Viên công an múa tay múa chân, miệng mồm quát tháo om sòm:

- Vào nhanh nên ! Vào nhanh nên !

Chỉ tay vào góc nhà giam phía gần cầu tiêu, hắn ra lệnh:

- Vào đó mà lằm

Người tù trẻ , khoảng 19 , 20 tuổi, không thèm nhìn viên công an, thoáng chốc quay lại , trên khuông mặt khả ái điểm một nụ cười tự tin, vừa gật đầu lễ phép chào anh em tù đang chăm chú nhìn theo mình với ánh mắt đầy lo âu.

Ngay tối hôm đó, chúng tôi, những người tù trẻ tuổi thay nhau đến chuyện trò thăm viếng, chia từng cục kẹo, miếng đường cho người bạn tù mới. Mau chóng chúng tôi được biết về Khanh, mặc dù tuổi đời chưa tới đôi mươi nhưng xứng danh là một tay quả cảm khí phách anh hùng. Khanh đã gia nhập Mặt Trận Phục Quốc. Quyết không đội trời chung với bắc quân. Chính Khanh là người lần đầu tiên đã làm chúng tôi ứa lệ khi nghe em hát bài ca “Sài gòn ơi ! tôi đã mất người trong cuộc đời….” Mà mất Sài Gòn có nghĩa là mất nước. Mất nước là mất tất cả : nhà cửa, đất đai, gia đình, vợ con, sự nghiệp , tương lai kể cả tánh mạng, có lắm kẻ đã đánh mất luôn cả linh hồn của mình. Trong một lần đụng độ với bắc quân tại núi Trà Cú, Khanh bị bắt biệt giam gần cả năm trời. Sau này được cho ra ngoài. Nhân một chuyến cùng bạn bè phá rẫy trồng khoai; vừa tới bìa rừng, Khanh bất ngờ gặp mấy tên bộ đội ngồi lố nhố bên bờ suối, giặt quần áo . Khanh kể lại rằng, vừa khi thấy một thằng bộ đội lùn tẹt, mập ú mặc chiếc quần cụt màu vàng, sọc đỏ, Khanh không thể nào tin vào đôi mắt mình. Giọng khanh nghẹn ngào, tức tưởi, cay đắng như đang khóc dở :

- Anh ơi! rõ ràng thằng bộ đội này mặc chiếc quần đùi may từ lá cờ quốc gia … lá cờ của chánh nghĩa, của tổ quốc Việt Nam… xúc phạm đến thế là cùng… tự dưng tim em thắt lại, mắt em hoa lên… trong phút chốc, máu trong người em như sôi lên sùng sục….không còn kềm chế được đôi chân, bất kể sống chết, em bỏ hàng, chạy xông vào chỗ thằng bộ đội đang ngồi… xui cho em, vừa mới định nhá cuốc lên đập vào đầu thằng bộ đội khốn nạn kia, một thằng bộ đội khác vừa từ trong lùm cây bước ra, thấy có biến, hắn la toáng lên…phản động ! phản động ! … thằng nọ nhào ngay xuống đất lanh như con khỉ hát xiệc…tên vệ binh đi sau cùng lao tới, lên đạn rớp rớp định bắn vào đầu em nhưng lại thôi…nó cùng đồng bọn hùng hổ trói em lại, đánh đập em bằng báng súng, bằng tay chân, đòn vọt, chữi bới tục tằn thô lỗ vô cùng dã man…em một mực khai là chỉ vào xin miếng nước….chúng không tin những lời em nói, cứ thế hè nhau đánh hội đồng cho đến khi em mê man bất tỉnh.. nửa đêm tỉnh dậy, áo quần bê bết máu me, toàn thân sưng vù đau nhức, tay chân vẫn bị trói gô, thả nằm dưới đất lạnh trong một túp lều hoang….sau đó là trên nửa năm dài biệt giam, đôi chân bị gông trong cùm sắt, đêm đêm ngủ với chuột với gián, với muổi, rệp… ngày ngày vô cùng đói khát, sống cầm hơi bằng ít củ khoai, vài ngụm nước, không thấy màu xanh cỏ cây, chẳng thấy trăng sao, ánh nắng mặt trời…đừng nói chi đến chuyện mong được gặp lại cha mẹ chị em, bạn bè … thương nhớ sau bao năm xa cách…..

Ngừng lại một chút để lấy hơi rồi Khanh mỉm cười nói tiếp:

- May mà em chưa có người yêu….nếu không… tội nghiệp cho người ta biết mấy…..

Tự dưng trong tâm trí tôi mường tượng ngay tới hình ảnh của người con gái yêu Khanh, chắc phải là dễ thương lắm, đẹp xinh từ thể xác tới tâm hồn, nên tôi nghĩ chắc là Khanh nói thế cho vui để tự an ủi lòng mình…Ngồi lặng yên nghe Khanh kể chuyện, tôi nuốt vào trong tâm từng lời chứng sống. Nhìn khuôn mặt gầy, đẹp thanh tú của người thanh niên miền Nam vì đâu mà phải hứng chịu quá nhiều đau thương bi lụy, tôi quên mất chính mình cũng đang là một tù nhân trong chế độ bạo tàn mà lần đầu tiên nước mắt chảy quanh, lòng xót xa đứt từng đoạn ruột.

Rõ ràng sau đó, tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa, chẳng còn ai thấy một tên bộ đội nào dám ngang nhiên mặc chiếc quần cụt màu vàng thiêng liêng để dễ dàng bị lãnh cái chết bất thần kia. Gần Tết năm đó, tôi được phóng thích. Nhiều năm sau, nghe nói Khanh vẫn còn hứng chịu đòn thù trong các trại giam. Một tù nhân từng là vị sĩ quan quân báo, vì thương và mến phục, đã nhận Khanh làm con nuôi. Sau này trở về, cùng với gia đình qua được tới Pháp, ông vẫn đều đặng gửi quà cáp, tiền bạc cho gia đình nuôi Khanh...

Từ ngày đến Mỹ, tôi không còn biết tin tức gì về Khanh mà ngày nào tôi hãnh diện coi như một thằng đàn em thân tín. Cho dầu Khanh chưa một ngày được trui luyện trong chốn quân trường. Chưa hề nghe câu hát “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu…cố lên!…cố lên!…anh em ơi!” Nhưng tiếng gọi của hồn thiêng sông núi vẫn âm vang trong lòng những người con yêu của tổ quốc, thà chết vinh hơn sống nhục trước cảnh quốc phá gia vong… Cầu cho một ngày quê hương lại thắm tươi dưới màu cờ vàng tung bay phấp phới; dân chúng cả ba miền Trung- Nam- Bắc được sống lại những ngày tự do hạnh phúc như miền Nam đã có trước năm 1975. Và chắc chắn, ngày đó sẽ đến mau vì vẫn còn biết bao người con yêu của tổ quốc Việt Nam đang ngày đêm can đảm quyết tranh đấu cho một Việt Nam tự do , bất chấp ngục tù và xích xiềng…

 


 TÂM NGUYÊN

(NT1 Nguyễn Lương Tâm, K1, ĐH/CTCT/ĐL) 

(tác giả gởi) 






Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, September 12, 20198:46 AM(View: 166)
Đầu năm 1970, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Trần Quốc Lịch được thăng cấp Đại Tá Nhiệm Chức, chỉ huy các tiểu đoàn cơ hữu (TĐ 5, 7, 11) và các đơn vị tăng phái, thống thuộc hành quân trong giai đoạn 1970-1972. Tháng Chín, 1972, do công trận, chiến tích các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 2 thâu đoạt, Đại Tá Lịch được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng; 1 Tháng Mười Một, 1972, Đại Tá Lịch tiếp thăng cấp chuẩn tướng nhiệm chức; Tháng Bảy, 1973, Chuẩn Tướng Lịch được lệnh bàn giao Sư Đoàn 5 lại cho Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tiếp giữ chức vụ chánh thanh tra Quân Đoàn IV/Quân Khu 4. Cuối năm 1974, Chuẩn Tướng Lịch bị câu lưu do tội danh tham nhũng, tạm giam tại Đề Lao Chí Hòa, buộc phải giải ngũ, giáng xuống cấp đại úy! Phiên tòa quân sự chính thức xét xử Đại Úy Trần Quốc Lịch về tội danh tham nhũng chưa thực hiện thì xẩy ra biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Vụ án Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch chìm khuất trong đại nạn nước mất nhà tan. Chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội
Tuesday, September 10, 20198:45 PM(View: 95)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn. Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đình
Wednesday, September 4, 201911:51 AM(View: 82)
Đến với nhau trong văn chương không phải là sự tình cờ. Và vì vậy, khi Nguyên Minh đến với thế giới chữ nghĩa là mang đến cả một niềm đam mê không biết mệt mỏi. 18 tuổi anh và bạn bè làm tờ Gió Mai ở Huế. Và từ đó đến nay anh có hơn 50 năm tuổi nghề, mặc dù có những lúc, thời gian đã chặn anh lại nửa đường. Nhưng thời gian mang những dấu ấn lịch sử kia đã không thể trói tay chân, đầu óc anh. Hết Gió Mai, ở Phan Rang anh lại cùng Ngy Hữu và bạn bè ra tờ Ý Thức, tờ báo in ronéo đẹp nhất Miền Nam thời bấy giờ và cũng tập trung đông đảo người viết trẻ nhất. Cả cuộc đời Nguyên Minh không thể thiếu mùi mực in, mùi giấy và kim chỉ. Vắng chúng chừng như anh không thể nào sống nổi thêm giây phút nào nữa, như một Trần Hoài Thư ở New Jersey vừa khâu sách trên bàn ăn tối vừa tiếp bạn xa! Thời in ronéo chấm dứt, có lúc Nguyên Minh thẫn thờ như kẻ mất hồn giữa thị trấn tràn gió và cát bay. Anh quyết định bỏ Phan Rang, chốn quê nhà yêu dấu của mình, vào Sài Gòn để làm một điều gì đó cho văn chương,
Friday, August 30, 20196:15 PM(View: 160)
thời đi lính ta làm thơ lạng quạng. có, đương nhiên súng đạn máu me. chạm sự thật lẽ nào nói nhảm. tình ý trong lòng khuân hết ra khoe. chuyện đánh đấm không cần hư cấu. thơ tháp tùng theo bước hành quân. thơ cũng dán lung tung nhiều chỗ. những chi chi ẩn nấp trong quần. hương tình ái cùng hơi cuộc chiến. vo tròn nhau thành một món ăn. vật tiêu hóa không qua cửa miệng. mà đi vào máu đỏ tim đen. ta vốn dĩ không vờ cao ngạo. không huênh hoang kiểu bất cần đời. cực-chẳng-đã vài lần văng tục. thói quen bất thần từ một cuộc chơi. không hào sảng lập lờ khí cốt. dựa rượu dựa tình tạo cách nói ngông. thơ để nói và thơ để vẽ. diễn tiến mỗi ngày xâm nhập nội tâm. giết con rắn bắn con bò thượng cấp. chơi nhằm em trụi lủi no hair. sợ són đái đôi lần rút chạy. cũng cùng thơ vai sánh cặp kè. bởi biết ngượng nên không nói dốc. kiểu ngán gì chết hoặc bị thương. ngày ngày ngắm xác banh óc đổ. phi nhân chi cũng khó xem thường. một thằng ngạo nhiều thằng bắt chước
Tuesday, August 27, 20197:55 AM(View: 146)
Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai. Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị. Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì? ‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’. Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn