DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,375,327

Vùng Nắng - Trần Thế Nghiệp

Friday, May 13, 201112:00 AM(View: 12602)
Vùng Nắng - Trần Thế Nghiệp
VÙNG NẮNG

Trần Thế Nghiệp

Tốt nghiệp Khóa 2/ĐH/CTCT/ĐL

Truyện


chrysanthemum-content

 

 Anh,

 “Bây giờ trời vẫn còn mưa trên quê hương. Hôm anh đi, em cũng nhớ dường như vào mùa này. Anh có bảo em lấy khăn choàng cổ vì phi trường gió thật lạnh. Một năm rồi đó anh. Ở trong đó chắc là nhiều thú vui chắc là anh không để ý đến thời gian làm gì. Em nghĩ ngày tháng Sài Gòn người ta chỉ lấy mặt trời làm đơn vị cũng như ánh sáng đèn điện tràn ngập, người ta có bao giờ nhìn thấy ánh trăng. Anh có biết không? một năm đó quê hương chúng ta bao nhiêu sự đổi dời, một năm đó nhà chúng ta gặp bao nhiêu biến cố?

 Buổi sáng anh đến Thanh Thế ăn điểm tâm đến giờ vũ trường hay rạp chiếu bóng đóng cửa là hết một ngày. Một ngày rồi một ngày. Anh nhận biết thời gian đều đặn như vậy đó. Còn em, ý niệm thời gian thật phứt tạp. Chiếc đồng hồ không còn để gõ nhịp, nó đã vùi chôn dưới sự đổ nát của ngôi nhà mình và của quê hương. Từng giây phút nhớ thương anh cũng là từng giây phút lo âu hồi hộp. Những đêm nằm không chợp mắt nhớ lại những kỷ niệm êm đẹp của chúng mình thì cũng là những đêm mong đợi, nguyện cầu cho ngừng tiếng súnh, cho mau qua đêm. Những đêm tối trời mà chúng mình thường hò hẹn bây giờ là những đêm thấp thỏm, hoang mang vì mấy ông bên kia họ hay về. Lần nào họ về cũng nói là giải phóng cho đồng bào, nhưng em chỉ thấy khi họ rút đi, để lại đau đớn cho bao nhiêu gia đình chúng ta. Từ ngày dượng Nam chết, má bị thương chân, nhà sụp, em và gia đình phải tản cư lên tỉnh, ở tạm nhà ông Ban. Chú Sáu mua một căn nhà nhỏ trong Phú Mỹ Thượng. Cô Năm bán chiếc Lambretta làm nhà dưới bờ xe đôi, dọn hàng bán, không biết có nuôi đủ bầy con?

 Em ở đây vẫn chưa đi làm gì. Nhàn rỗi chân tay nhưng trí óc thật bề bộn. Em không biết làm gì cho qua ngày giờ, cho tâm trí được thảnh thơi. Không khí chiến tranh ở một tỉnh nhỏ thật nặng nề và ngạt thở. Ý ngĩ về thời gian lại càng phứt tạp hơn. Em không bao giờ nhìn tấm lịch treo trên tường mà biết ngày tháng. Ngày tháng được cô Năm, dì Thừa, chú Hà...nhắc cho em biết ngày mấy mở cửa mả dượng Năm, ngày mấy làm tuần dượng Thừa, ngày mấy dựng bia cho cô Hà...

 Những hình ảnh quê hương, những bóng dáng kỷ niệm nếu em không nhớ thì cũng không thể nào quên được. Em vẫn nhớ, rất nhớ ngọn đồi có đá mọc sừng sững mà ngày xưa mỗi chiều mình đưa nhau lên đó. Con sông hiền hòa vắt ngang thành phố mà mỗi tối mùa hè mình thường cùng nhau đón gió. Nhưng bây giờ thì không còn gì nữa. Chyiếc cầu bắc qua con sông gãy đổ...”

 

 Đọc thư Xuân đến đây, tôi cảm thấy cần phải thêm một chai 33 nữa. Tôi lấy làm lạ khi nghe bàn bên cạnh có người cũng gọi tiếp một chai. Tôi không nhìm, nhưng một thứ cảm giác nào đó cho tôi biết đó là một người lính - người lính cũng như những người lính mà tôi vẫn thường gặp ở đây, những người lính ở tiền đồn, ở ngoài mặt trận, ở miền hỏa tuyến gần gũi với chết chóc.

 “Anh ơi, chính cái cầu gãy này làm cho dượng Năm nghẻn lối và bị bên kia bắn chết. Anh thấy không, số phận con người chỉ định đoạt, kết thúc trong phút giây. Ngày xưa chúng mình đưa nhau qua cầu có bao giờ để ý một lần trong trăm ngàn lần hết bao nhiêu bước đó hết bao nhiêu phút đồng hồ. Cả một sự sống mà dượng Năm không đánh đổi được một lần nhỏ nhoi trong trăm ngàn lần của chúng ta. Nhưng đau đớn và oan ức cũng không thấm vào đâu so với nguyên nhân cái chết của dượng. Từ ngày tiếp thu đến giờ, anh cũng biết dượng sống bằng nghề chạy xe Lambretta. Dượng chết chỉ vì bản chất nghệ sĩ ngày xưa vẫn còn sống trong tâm hồn dượng. Em quả quyết như vậy vì cái đêm xảy ra biến cố cho nhà mình, dượng Năm có hô thai một bài thơ đượm tính chất chống đối chế độ vô nhân, độc tài bên kia. Dĩ nhiên anh cũng nghĩ dượng hô thai không có mục đích tuyên truyền, dượng chỉ đóng vai trình diễn với tất cả cho nghệ thuật mà ngày xưa thời trai trẻ dượng đã hăng say.”

...........................................................................................................

 

 Ngày xưa thật êm đẹp, thật yên lành. Đời sống không khốn khó như bây giờ. Tại một làng cách xa tỉnh lỵ 10 cây số, tôi đã sống trọn tuổi thơ với hương thơm của đồng lúa, với hơi mát từ dòng sông, với bóng râm của lũy tre xanh rờn. Khung cảnh thanh bình đó đã nẩy mầm văn nghệ trong tâm trí người dân làng. Những hôm hội hè, những ngày đình đám, tuyệt nhất là những đêm lễ, người lớn thường hay tổ chức văn nghệ, trình diễn đủ các bộ môn. Tôi thích nhất là vở tuồng cải lương “Tào Tháo tẩu Huê Dung lộ” mà dượng Năm thủ vai Quan Vân Trường thật xuất sắc. Bây giờ nhớ lại, tôi còn mường tượng được nét mặt khi nghiêm trang, lúc hiền từ, trên sân khấu cũng như ngoài đời. Tự nhiên tôi thâấ nhớ dượng vô cùng, con người như dượng không thể chết như vậy được. Không thể chết vì kẻ khác giết. Không thể bị giết vì hận thù. Con người của dượng là hiện thân của tha thứ, của khoan dung. Người chủ chốt của ban văn nghệ xã là bác Ba đã chọn dượng làm Quan Công. Cho nên không lạ gì vai tuồng Tào Tháo cũng được bác Ba diễn xuất rất điêu luyện. Hết rồi, tất cả chẳng còn gì nữa. Những người thân yêu, những người quen thuộc lần lượt ra đi. Bác Ba đã tập kết ra Bắc từ năm năm tư. Bây giờ dượng Năm rời bỏ cõi đời. Những người khác cũng bỏ làng, bỏ xóm về thành phố làm ăn. Một số tôi gặp ở đây. Họ không nhìn ra tôi. Thời gian đã cải biến họ rất nhiều, nhất là tôi. Tôi sống ở đây lăn lóc, đơn độc. Đời sống xâu xé và khốn khổ thay đổi con người tôi có lẽ vượt yếu tố thời gian. Tôi không còn câu bé hồn nhiên, hãnh diện khi được bác Ba cho làm tên quân trong vở tuồng Tam Quốc. Tôi không còn là cậu học trò vô tư, suốt ngày rong chơi phá đồng phá xóm. Hết rồi, tất cả không còn gì nữa. Hiện tại là nỗi lo không nguôi, là niềm ưu tư không ngớt. “Thêm một chai nữa”. Tôi phát run khi nghe người lính ngồi bàn bên cũng gọi thêm một chai. Tôi không hiểu người lính này có ý gì với tôi. Anh ta muốn gây sự hay chỉ muốn “nổ” anh em chút chơi. Cái cảnh này tôi vẫn thường gặp ở đây. Tôi sợ và tôi không thích đánh nhau. Sự thật, tôi cũng yếu đuối, nhát gan, bao giờ cũng nhường nhịn. Tôi là một ngoại lệ của truyền thống dân xứ tôi mà người ta gán cho từ bao nhiêu đời là bản tính ưa co đầu, cứng cổ. Nhưng hôm nay bỗng dưng có một động lực gì buộc chân tôi ngồi lại. Tôi tiếp tực uống.

 Người lính kia cũng tiếp tục uống. Ngoài đường nắng sắp hết, người và xe cũng thưa dần. Khói lửa ở đây vẫn chưa ngớt. Giờ giới nghiêm vẫn còn thu ngắn. Tôi bực bội vì người lính vẫn chưa đứng dậy đi về. Không thể chờ đợi được nữa, tôi đến bàn tính tiền. Người lính cũng đứng lên đi theo. Tôi sợ hãi vô cùng. Nhưng liền sau đó tôi rất đổi ngạc nhiên, người lính đưa ra một xấp bạc bảo cô thu ngân tính tiền cho tôi. Tôi không tìm ra một chút nguyên nhân nào khiến người lính hành động như vậy. Tôi toan mở miệng từ chối thì người lính đã nói trước tôi: ” Ông bạn cứ để yên. Ông bạn nên để cho tôi còn thấy giá trị và ý nghĩa của đồng tiền.” Lời nói của người lính tuy không được lịch sự, nhưng tôi nghe trong giọng nói ẩn chứa nhiều chua xót. Một cơn xúc động mãnh liệt. Tự dưng tôi thấy buồn vô hạn. Tôi giận mình cũng như mọi người thường hay nhìn bề ngoài để đánh giá, phẩm định con người. Tôi ngỏ ý muốn người lính về chỗ tôi trọ ngủ một đêm. Người lính gật đầu. Tôi dùng số tiền trong bọc mua một chai rượu Mỹ. Người lính mỉm cười bằng lòng. Dọc đường tôi hỏi: Anh vào lính lâu chưa? “Gầm một năm. “Động viên?” “Vâng, động viên.”Trước kia anh cũng đi học?” “Không, nếu đi học tôi đã được hoãn. Tôi đi dạy dưới Cần Thơ.”

 “Nghe nói các cô gái dưới đó đẹp lắm phải không?” “Gái Cần Thơ thì nhất rồi, nhưng thôi, xin ông bạn đừng nói đến Cần Thơ nữa. Người lính lảng tránh bằng cách ghé lại một cái sạp bên đường mua mấy miếng khô cá thiều: “Thứ này lai rai với Johnnie Walker thì nhất trên đời. Từ ngày đi lính, từ ngày xa Cần Thơ, tôi vẫn ưa bầu bạn với mấy thứ này.” Thấy anh ta không muốn nói về Cần Thơ mà vẫn vô tình nhắc đến, tôi đánh lảng: “À, tôi là Nghiệp, còn anh?” “Mãy giờ quên nhỉ, ông bạn gọi tôi là Chương, bạn bè nó vẫn gọi tôi như vậy.” “Tại sao hồi nãy anh trả tiền cho tôi?” “Tại ông bạn chì” “Tôi đang buồn chứ không phải tôi chì. Nhưng tôi tin không phải vì vậy. “Tại vì chỉ chỉ có tôi và ông bạn uống lave. Tụi nó ăn chè, uống nước ngọt, nghe nhạc tiền chiến, suy tư. Tôi không ưa trưởng giả, thời trang thành phố như vậy.” “Cả triệu lý do. Không hẳn như vậy.” Nếu phải nói cho thật đầy đủ lý do thì dường như tôi đã nói cho ông bạn nghe rồi. Từ ngày xa Cần Thơ, tôi cảm thấy tôi bị xa lạ, lạc loài với người chung quanh. Họ khinh thường tôi nên tôi coi thường tất cả. Có lẽ tôi đau khổ, tôi cô đơn. Từ quân trường đến đơn vị, thượng cấp cho tôi một loại người bất trị, một thứ révolté. Họ đổi tôi về miền núi. Ở đó chỉ biết đánh giặc và đánh bài. Ở đó, một tuần, nửa tháng phi cơ tiếp tế lương thực, đồ hộp. Tiền bạc cũng như tờ giấy không dùng được việc gì ngoài lúc ngồi vào chiếu bài.”

 Về đến căn gác trọ, nhìn thâý tấm ảnh Xuân, nhớ nhà vô hạn. Tôi cũng có nhiều đau khổ, cô đơn như Chương. Nhưng dù sao tôi cũng có Xuân. Tôi muốn hỏi Chương nên chỉ tấm hình Xuân giới thiệu: “Bà xã tôi. Còn anh?” Chương không đáp thẳng câu hỏi của tôi: “Tôi mất tất cả từ ngày xa Cần Thơ. Nàng chọn tôi làm tình nhân gần hai năm rồi nàng có chồng.” “Anh không muốn cưới hỏi?””Muốn lắm chứ. Nhưng nàng không chọn tôi làm chồng.” “À ra thế.”

 Tôi thở ra và hiểu về Chương thêm. Tôi vô tình gợi lại những điều mà có lẽ Chương không muốn nhắc. Tôi rót thêm rượu vào ly Chương. Chương nở một nụ cười và bưng ly uống một ngụm:

- Tôi không biết đến bao giờ tôi mới quên được nàng. Bao lâu nay tôi sống trong sự lừa dối chính mình và đánh lừa thiên hạ cũng không ngoài ý muốn lãng quên. Nhưng tôi đã lầm, trong đời tôi, tôi vẫn hay lầm lẫn như vậy. Sự dày dạn chỉ thay đổi bề ngoài tôi thôi. Tôi vẫn lãng mãn như xưa. Tôi vẫn nuôi nấng một tình yêu. Và tôi vẫn nhận biết một tình yêu vô vọng. Tôi an ủi Chương:Có khi nào anh nghĩ, dù chỉ để biện minh cho mình, rằng anh đã có một mối tình lớn. Một tình yêu thuần nhất theo tôi nghĩ không thể do hai người tạo dựng – Ông bạn tin vào kinh nghiệm? – Không hoàn toàn như vậy. Trường hợp của tôi có hơi đặc biệt. Khi chúng tôi đã lấy nhau, dĩ nhiên tình yêu ban đầu mất dần, nhưng vài tình yêu khác phát lộ. Tuy không tha thiết và thi vị như xưa, song chúng tôi lại cảm thấy đậm đà và gắn bó. Về trường hợp của tôi, hoàn cảnh và thời cuộc đã chia cắt mỗi đứa mỗi nơi, sự chung sống không liên tục chẳng ngờ làm cho chúng tôi mong nhớ rồi thương yêu nhau hơn. Tôi đưa là thư của Xuân cho Chương đọc và nói: Mỗi người sinh ra đều mang một niềm đau khổ, đều chấp nhận một niềm tủi thân.

- Tôi biết thế. Tôi luôn thay đổi đời sống và nếp sống, nhưng kết cục vẫn không thay đổi được gì. Nhất là đụng chạm đến chung quanh càng nhiều, tôi càng thấy cô đơn.

 Nói dứt câu, Chương mở thư ra đọc. Tôi muốn nói, nhưng lại quên ý tưởng vừa nghĩ. Có lẽ tôi say. Người tôi nhẹ hẳn và dường như tôi nằm xuống sàn gác. Tôi không còn điều khiển được thể xác, nhưng tâm trí vẫn còn sáng suốt. Tôi thấy rõ Chương cúi xuống bắt gió cho tôi. tôi lấy làm tiếc không đủ sức thức trọn đêm trò chuyện. Cuộc đời nhiều bất trắc, cuộc sống lắm đôỉ thay, biết đâu được chúng tôi lần đầu lại không là lần cuối. Nhất là đêm nay chúng tôi uống rượu, rượu làm cho con người thành thực, và sự thực thì vô cùng quý giá. Và tôi thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn hình bóng Chương.

*

 Nghiệp,

 Khi mày tỉnh dậy thì tao đã đi khỏi đất này, đất ăn chơi mà hàng triệu người đã và đang tìm đến. Tao cũng nói thiệt cho mày biết tình tao đối với mày tuy gặp nhau qua bia rượu sẽ bền lâu. Tao phải về. Còn bổn phận, còn trách nhiệm, còn anh em tao đang ngày đêm chiến đấu. Tao không thể ngồi nhìn như bao người khác. Tao muốn lăn xả dù có phải hy sinh tao cũng không hề ân hận. Tao nhớ con người như bác Ba trong làng xã của mày. Tao sẽ đi tìm những người như bác Ba để tẩy não và lột xác cho bác. Tao thấy không thể sống và hành động như bác Ba ngoài quê mày. Không cần tình cảm, không cần nhân nghĩa, không cần suy tư gì hết. Chúc mày ở lại gặp nhiều an lành.

 Khi tỉnh dậy, tôi đọc được ít hàng chữ do Chương để lại. Sáng nay anh về đơn vị sớm vì đã hết phép.

 Tôi đem là thư của Xuân xem lại mới hay chiều hôm qua tôi không để ý mấy dòng TB. Xuân viết trang sau: “Em viết thư này cho anh đã một tuần nay, nhưng chưa có người gởi vô. Khi sáng có người dưới quê lên cho em hay trong biến cố vừa qua có bác Ba về. Bác Ba đã hồi kết. Bây giờ bác làm to lắm. Hình như bác đã ra lệnh cho đồng chí thủ tiêu dượng Năm. Đời là thế. Có đáng buồng không anh." Tôi không tin như vậy được. Họ có thể giết bất cứ ai chống đối họ. Bác Ba có thể thủ tiêu bất cứ ai đi ngược lại đường lối của cấp trên đã giao cho bác. Nhưng tôi không thể tin bác Ba là người chủ mưu hạ sát dượng Năm. Tình quê hương, tình bè bạn, tình văn nghệ...Không lẽ không có thứ tình nào ràng buộc họ sao? Nhất là tình của Quan Vânb Trường khi tha Tào ở Huê Dung lộ. Tôi còn nhoi71 hồi đó bác Ba quỳ dưới chân dượng Năm van xin kể lễ: Trăm lạy Quan công hầu, ngàn lạy Quan công hầu. Ngài hãy tha thứ cho Tào một phen. Ngày xưa Tào đối xử với Quan Hầu thật hết tình...Tào buồn, Tào rầu, Tào đau, Tào khổ, chỉ vì Ngài. Nào khi đi mặc áo hồng bào, khi về mặc bạch giáp. Nào thượng mã đề kim, hạ mã đề ngân.” Tôi còn nhớ hồi đó tôi làm một tên quân, bên nào kêu tôi cũng dạ. Khi tôi dâng ngựa cho Tào Tháo, khi tôi dâng ngựa cho Lưu Bị. Chiến tranh trên sân khấu thật dễ dàng. Nhưng tôi sẽ không về vì tôi không muốn làm một thứ quân ngoài đời và thực tại, vì bác Ba bây giờ không phải là bác Ba ngày xưa. Còn tôi, tôi vẫn nhát gan và đa cảm. Đáng lý tôi không nên có mặt trong lúc này. Tôi xuống gác đi ra phố. Đi lang thang. Đi trong đám đông để thấy mình bớt cô độc. Nhận diện sự cô độc để thấy mình không còn cô độc. Tôi đi lang thang vì không muốn ở nhà. Những giọt nắng ban mai thật thanh bình long lanh trên những hàng cây cao. Tiếc thay, những giọt nắng mang một ý nghĩa quá mong manh và thu hẹp. Bỗng nhiên tôi nhớ Chương dữ dội, thương nhớ những ly rượu của chàng và hình ảnh người lính làm tôi cảm thấy gần gũi Chương hơn bao giờ. Tôi nghĩ Chương đã có lý khi chàng nói về những đồng đội của chàng. Cuộc chiến đã toàn diện, tôi không thể làm một kẻ bàng quang. Phải tham dự như chàng dù phải hy sinh.

Trần Thế Nghiệp

NT2 Trần Thanh Ngọc

(1967) trích từ tạp chí Trước Mặt

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 186)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 188)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 471)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 374)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 297)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,