DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,094,149

CHUYỆN VIÊN PHÓ GIÁO VÀ CON KHỈ - Tú Kép

Saturday, April 25, 201512:00 AM(View: 3017)
CHUYỆN VIÊN PHÓ GIÁO VÀ CON KHỈ - Tú Kép

CHUYỆN VIÊN PHÓ GIÁO VÀ CON KHỈ


 

Image result for ngay 30/4/75

 

 

Vừa rồi, đài BBC Tiếng Việt mở cuộc phỏng vấn viên phó giáo sư tiến sĩ Vũ Quang Hiển về chính sách của Cộng sản Bắc Việt Nam (BVN) sau năm 1975 và về vấn đề tù binh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt Nam (NVN), được đăng thành hai kỳ báo trên trang web BBC Tiếng Việt.

 

Trên BBC ngày 18-4-2015 (kỳ báo 1), viên phó giáo sư tiến sĩ, dạy tại Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, dõng dạt tuyên bố: "Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc. Chính sách này đã công bố công khai ngay từ thời chiến tranh, chứ không phải sau hậu chiến mới có chính sách đó…

 

Phát biểu của viên phó giáo không khác gì mấy ông cán bộ phường hay cán bộ xã, học tập theo cái loa đài phát thanh Hà Nội sau ngày 30-4-1975. Không biết lúc đó, 40 năm trước, viên phó giáo nầy lên mấy tuổi và sống ở đâu? Y có sống ở miền Nam không để biết sự ngược đãi, cướp của, cướp nhà của CSVN. Viên phó giáo có nghe câu danh ngôn bất hủ của một lãnh đạo CS khi vào được Sài Gòn: "Nhà ngụy ta ở, vợ ngụy ta lấy, con ngụy ta sai”. Viên phó giáo có chứng kiến cái cảnh đánh tư sản, đuổi dân đi kinh tế mới để cướp nhà, cướp đất của người ta không? Sự ngược đãi tràn lan trong xã hội, từ thượng tầng xuống tới làng xã. Suýt nữa quên nhắc cho viên phó giáo rằng chẳng cần đi đâu cho xa, ngay tại Đại học, sau năm 1975, bảng xếp hạng tuyển sinh vào Đại học CS gồm 14 hạng, trong đó con ngụy quân ngụy quyền ở hai hạng chót thứ 13 và 14. Sơ sơ như thế có ngược đãi với trẻ con vô tội không thưa ngài phó giáo? 

 

Sự ngược đãi của CSVN không thể nào kể hết cho xiết. Có một chuyện giỡn thời danh được lưu truyền như thế nầy: Sau khi Lê Duẫn chết, Lê Duẫn xuống địa ngục. Bị hành hạ khổ sở vì tội ngược đãi tàn bạo sau năm 1975, Lê Duẫn hỏi viên cai ngục làm sao thoát khỏi nơi chốn lao tù nầy. Viên cai ngục nói: "Dễ lắm, nhà ngươi phải sám hối tội ngược đãi, bạo hành ở miền Nam sau năm 1975. Nhà ngươi hãy đi lên cho hết các bậc thềm nầy, mỗi bậc thềm đọc to một tội, khi hết tội thì sẽ đến cửa thiên đàng. Mỗi lần lên một bậc, hãy nhớ dùng phấn đánh tréo làm dấu cho biết.” Lê Duẫn nhìn bậc thềm mà mừng thầm, vì quá dễ. Y từ từ bước lên, đọc một tội của mình, và đánh phấn làm dấu. Tuy nhiên khi lên mãi các bậc thềm, Lê Duẫn xài hết cả một hộp phấn, rồi hai hộp phấn, cho đến khi địa ngục hết phấn, không còn phấn để viết, mà Lê Duẫn vẫn không thấy cửa thiên đàng, đành buồn bả quay về địa ngục ...

 

Trở lại với viên phó giáo sư tiến sĩ Vũ Quang Hiển. Viên phó giáo Hà Nội còn ba hoa chích chòe trên đài BBC: "Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy.Nếu nói là tù đầy, thì tôi nghĩ đó là một sự xuyên tạc.”

 

À cái nầy, viên phó giáo nói cũng có phần đúng. Chuyện đi học tập cải tạo và chuyện tù đày có phần khác nhau, vì tù đày còn có tòa án xét xử, định tội rõ ràng, xong có kêu án, có thời hạn ở tù và chỉ định nơi giam tù; thậm chí ác ôn như Cải cách ruộng đất còn có Tòa án nhân dân. Còn đi học tập cải tạo thì chẳng có tòa án, chẳng ai kết án, chẳng có thời hạn, chẳng biết giam ở đâu, chẳng biết khi nào về, nhiều khi đi mút mùa lệ thủy. Khác nhau quá đi chớ. Trại tù có quy chế rõ ràng, còn trại học tập cải tạo là nơi giam giữ vô thời hạn, bạo hành, ngược đãi, trả thù, bóc lột tối đa sức lao động tù nhân. Khẩu phần của một người học tập cải tạo rất thấp so với khẩu phần của một tù nhân CS dưới chính thể VNCH. (Trần Vỹ, “Đời sống trong trại giam miền Bắc”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do, Canada, 2000: tr. 239-250.) Trại cải tạo là một loại trại trừng giới ác độc tàn bạo nhứt trong lịch sử Việt Nam.

 

Viên phó giáo tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội phải biết rằng chính sách học tập cải tạo không do đảng CSVN bày ra, mà chính sách nầy đã có lịch sử lâu dài từ quê cha đất tổ của CS, tức từ Liên Xô mà ra, thời năm xửa năm xưa. Sau đó Tàu cộng đem về khai triển, rồi bày cho Việt cộng học tập. Việt cộng chỉ việc vâng lệnh thi hành, tàn ác không kém các bậc thầy tý nào. 

 

Cần nhắc lại là khi cướp được chính quyền năm 1917 ở Nga, CS Nga thiết lập chế độ cải tạo vào các năm 1918-1921 và hợp thức hóa bằng luật pháp năm 1933. Tại Trung Cộng, chính sách “lao cải” (tức lao động cải tạo) được chính thức hóa ngày 26-8-1954 và hội đồng chính phủ chấp thuận thủ tục thi hành chính sách lao cải vào tháng 8-1957. (Phạm Hữu Trác, “Tù cải tạo: Trình bày và phân tích dữ kiện”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do, Canada: 2000, tr. 19.)

 

Tại BVN, sau năm 1954, một số ít quân nhân, công chức không di cư vào Nam mà ở lại đất Bắc, liền bị bắt giam vào tù cải tạo. Chính sách cải tạo do quốc hội BVN chính thức quy định vào năm 1961 trong nghị quyết 49-NQTVQH và thông tư số 121-CP của hội đồng chính phủ đặt ra các biện pháp thi hành nghị quyết nầy. (Phạm Hữu Trác, bđd.)

 

Mấy món ăn chơi nầy viên phó giáo Vũ Quang Hiển không lẽ chưa học tập? Chưa học tập mần răng mà mò lên tới phó giáo tiến sĩ lận. Không lẽ tên nầy thuộc loại “dốt chuyên tu, ngu tại chức”? Ngoài ra, hình như trí nhớ của viên phó giáo chưa già mà đã cụt. Nên xin thêm ở đây chính sách học tập của Việt cộng theo tài liệu của nhà văn trong nước viết như sau.

 

Năm 1975, trước khi tấn công Sài Gòn, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động từ Hà Nội đưa ra chỉ thị số 218/CT-TW ngày 18-4-1975, quy định chính sách đối với công chức và sĩ quan VNCH bị bắt như sau: "Đối với sĩ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ, quản lý, giáo dục và lao động; sau nầy tùy sự tiến bộ của từng tên, sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau nầy tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo, an ninh quân đội, sĩ quan tâm lý, bình định, chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan, đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ.” (Huy Đức, Bên thắng cuộc tập I, Sài Gòn: Osin Book, 2012, tr. 39.)

 

Viên phó giáo còn giả nai làm như không biết: "Hai là đã không có nhà tù nào để giam cầm tất cả anh em sỹ quan binh sỹ quân đội Sài Gòn, cũng như (nhân viên) chính quyền Sài Gòn trước đây, trong nhà tù để mà đánh đập, để mà tra tấn, thì hoàn toàn không có.” (trích nguyên văn từ BBC ngày 18-4-2015.)

 

Khổ quá, lại phải tìm giùm nhà tù cho cái anh chàng phó giáo Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo Encyclopedia of the Vietnam War (Spencer C. Tucker, California, 1998, tr. 602), sau biến cố 1975, số sĩ quan, công chức và cán bộ Việt Nam Cộng Hòa bị bắt bỏ tù khoảng hơn 1 triệu người trên tổng dân số VNCH lúc đó khoảng 20 triệu người, tức 5% dân số. Tất cả bị giam trên 150 trại tù trên toàn quốc. Trong số 1 triệu người bị tù, khoảng 165,000 người (tức 15%) bỏ mình trong các trại tù. (Orange County Register, số Chủ Nhật 29-4-2001, ngày 30-4, tt. 2-3.) Cộng sản hứa sẽ thả ra khỏi tù những ai học tập cải tạo tốt, nhưng không có tiêu chuẩn xác định thế nào là học tập cải tạo tốt để được thả, nghĩa là chẳng có luật lệ quy định thời gian giam giữ tù nhân. Còn việc thả tù hoàn toàn tùy cảm hứng của VC.

 

Rồi tiếp đó, trả lời phỏng vấn trên BBC ngày 20-4-2015 (kỳ báo 2), viên phó giáo Đại học Quốc Gia Hà Nội lại lếu láo về hòa giải hòa hợp dân tộc. "Nếu chúng ta tính mỗi thế hệ khoảng 20-25 năm, thì hơn một thế hệ, hai thế hệ đã ra đời sau chiến tranh đến bây giờ rồi. Thì những gia đình đó, con cái của họ, con em của họ vẫn có công ăn, việc làm bình thường, được học hành một cách bình thường…Và người ta có thể gả vợ, gả chồng cho nhau…. Thì tôi nghĩ sự hòa hợp ấy về cơ bản đã được giải tỏa.

 

Đúng là cho đến 2015, đã 40 năm qua, ai cũng phải kiếm công ăn việc làm, vì không lẽ 40 năm qua, người ta ngồi không, nhịn đói chờ chết. Bị ngăn sông cấm chợ, bị đổi tiền ba lần, bị đánh tư sản mại bản, tư sản dân tộc, tiểu tư sản, tiểu chủ, bị cướp trước, cướp sau, dân chúng cũng phải lo kiếm sống nuôi gia đình. Còn việc một số gia đình kẻ Bắc người Nam dựng vợ gả chồng cho con cái là chuyện bình thường trong cuộc sống xã hội, chứ đó không phải là chuyện hòa hợp hòa giải chính trị. Nói thế mà cũng nói được thưa phó giáo tiến sĩ. 

 

Nói chuyện hòa hợp hòa giải, là nói chuyện hòa hợp hòa giải chính trị và giữa ai với ai? Dĩ nhiên ở đây kẻ mở miệng kêu gọi hòa giải hòa hợp là nhà cầm quyền CSVN. Còn đối tượng nhà cầm quyền CSVN muốn hòa giải hòa hợp là người Việt Nam, chứ ai vào đây. Hiện nay, có hai thành phần người Việt: người Việt ở trong nước và người Việt ở hải ngoại.

 

Sau khi CS cưỡng chiếm Sài Gòn năm 1975, những người Việt có điều kiện, tìm cách ra đi tìm đất sống tự do khắp năm châu, đông nhứt ở Bắc Mỹ. Ngày nay, người Việt họp thành những cộng đồng đông đúc, có khoảng 3 triệu người, tuy nói tiếng Việt, viết và đọc được tiếng Việt, nhưng họ đã ổn định cuộc sống, đã là công dân các nước khác, không phải là công dân Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Giai đoạn khó khăn của họ đã qua. Bây giờ họ sống ở nước ngoài, làm việc cho nước ngoài, lãnh lương nước ngoài, đóng thuế cho nước ngoài, hưởng quyền lợi và tiện nghi nước ngoài... Họ chẳng còn gì liên hệ gì đến nhà nước CSVN, họ chẳng có gì cần hòa giải hòa hợp với với đảng CSVN. Nếu vì công việc nhà, nếu phải về thăm gia đình, bà con còn ở trong nước, họ được đối xử theo quy chế người nước ngoài, luật lệ đối với người nước ngoài, và phải trả chi phí theo giá người nước ngoài, từ khách sạn, ăn uống, di chuyển, du lịch... Nói tóm lại là họ chẳng có gì cần để hòa giải hòa hợp với nhà nước CSVN.

 

Vậy thì chỉ có hòa giải hòa hợp giữa nhà cầm quyền CSVN và dân chúng trong nước. Muốn hòa giải với người dân trong nước thì chẳng có gì khó, mà rất đơn giản, chỉ cần CSVN dẹp bỏ độc tài, ngưng đàn áp, để cho người dân tự do sinh sống thoải mái, tự do làm ăn, tự do chính trị, tự do báo chí, tự do tôn giáo, ngưng cướp đất, giải quyết khiếu nại kiện tụng một cách công bằng, và việc đầu tiên là phải cất giùm cái mũ điều 4 Hiến pháp của CSVN. Cái điều luật lạ lùng nầy đặt CS ngồi trên đầu dân chúng Việt Nam. Đang ngồi trên đầu dân, đảng CS ngoan cố đời nào chịu bỏ điều 4 Hiến pháp. Thế thì làm sao hòa giải hòa hợp với dân chúng Việt Nam? Anh chàng phó giáo Đại học Quốc gia Hà Nội nầy đùa dai quá hà!

 

Đảng CSVN còn nhân danh đất nước Việt Nam, ký kết những mật ước với Trung Cộng, nhượng bộ và bán nước cho Trung Cộng để duy trì quyền lực và quyền lợi, rồi bắt nhân dân Việt Nam gánh chịu hậu quả các mật ước đó, mà nhân dân chẳng biết mặt mũi là những mật ước gì? Ngay cả trước khi qua Mỹ ngoại giao, tên Tàu khựa gọi viên tổng bí thư CSVN sang chầu rìa, thế là tên tổng CSVN phải lò mò sang xin triều yết, cúi đầu ký kết thêm nhiều hiệp ước do Tàu khựa soạn sẵn. Tồi đến thế là cùng.

 

Như thế mà làm sao hòa giải hòa hợp với dân chúng được? Còn ba cái đám cưới lẻ tẻ là chuyện nhỏ như con thỏ, chẳng nhằm nhò gì, làm sao gọi đó là đã hòa giải rồi. Sao cái con vẹt hót líu lo như giọng lưỡi các viên chính uỷ phường xã nầy, lại có thể giảng dạy được sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, nghe nói là tinh hoa của Việt Nam ngày nay?

 

Để kết thúc bài viết về chuyện tên phó giáo Đại học, ở đây xin ghi lại câu chuyện vui trong giới tiếu lâm Hà Nội. Chuyện kể rằng trong một đại hội áo thuật (trò xiếc) trên thế giới, một phóng viên quốc tế phỏng vấn viên trưởng đoàn ảo thuật Việt Cộng. Viên trưởng đoàn Việt Cộng ba hoa kể lể như sau: 

 

Tớ ấy à, tớ có một khả năng đặc biệt, đó là tớ chẳng những điều khiển đoàn của tớ, mà tớ còn có thể điều khiển bất cứ đoàn xiếc của bất cứ nước nào.” Người phóng viên rất kinh ngạc, ghi nhận ý kiến của tên trưởng đoàn Việt Cộng và báo cho Ban tổ chức biết. Lúc đó, trên sân khấu, có một đoàn xiếc Đông Âu đang trình diễn. Người huấn luyện viên điều khiển một con khỉ ra sân khấu. Ông nói nhỏ với con khỉ, nó liền mỉm cười. Ông nói nhỏ lần thứ hai thì nó mếu máo muốn khóc. Ông nói nhỏ lần thứ ba thì con khỉ đứng dậy, lịch sự chào khán giả rồi đi vào. Khán giả vỗ tay ầm ỹ. 

 

Nghe ông phóng viên ca ngợi khả năng điều khiển trò xiếc của viên trưởng đoàn Việt Cộng, Ban tổ chức liền quyết định thử tài của y và mời y lên sân khấu.

 

Khi viên trưởng đoàn Việt Cộng lên sân khấu, người ta đem con khỉ cho y điều khiển. Cũng lạ thật. Y nói nhỏ gì không biết, con khỉ phá lên cười ha hả khoái trá. Rồi y nói câu thứ hai, con khỉ khóc nức nỡ, nước mắt ràng rụa, nước mũi chảy tùm lum. Khi viên trưởng đoàn Việt Cộng nói câu thứ ba, con khỉ vụt đứng dậy, chưa kịp chào khán giả, liền chạy trốn mất biệt vào hậu trường sân khấu. Cả hội trường đứng dậy vỗ tay khâm phục viên trưởng đoàn Việt cộng.

 

Tối lại, tại khách sạn, viên trưởng đoàn Trung Cộng đến khen ngợi viên trưởng đoàn Việt Cộng. Viên trưởng đoàn Trung Cộng hỏi: "Đồng chí sao tài thế, hay nhẩy, đồng chí nói gì mà con khỉ cười hả hê vậy? Có thể cho anh em biết bí quyết tài tình của đồng chí không?” 

 

Trưởng đoàn Việt Cộng trả lời: "Có gì đâu, chuyện rất đơn giản như đang giỡn đồng chí ạ. Em tự giới thiệu với nó: Nầy đằng ấy, tớ là phó giáo sư tiến sĩ Việt Nam đấy. Nghe nói mấy chữ phó giáo sư tiến sĩ Việt Nam, con khỉ cười quá trời. Đúng là khỉ, dám giỡn mặt với phó giáo sư tiến sĩ Việt Nam.

 

Rồi đồng chí nói gì mà nó khóc nức nỡ vậy? Trưởng đoàn Trung Cộng tò mò tiếp. 

 

Trưởng đoàn Việt Cộng trả lời: “Cũng chẳng có gì. Đàn em nói với nó: Tớ là phó giáo sư tiến sĩ, dạy Đại học, mà lương hàng tháng của tớ chỉ tạm đủ sống đạm bạc một mình tớ mà thôi, còn gia đình tớ phải tìm cách cải thiện đấy.” Nghe thế, nó tủi cho thân phận em, nó khóc nức nở, nó cũng tốt nhẩy.” 

 

Trưởng đoàn Trung Cộng nói ngay: "Sao lúc đó đồng chí không nói thêm với nó, tớ bán bài, bán đề thi, cho sinh viên lên lớp, bán bằng, kiếm khối tiền đấy. Ngoài ra, thỉnh thoàng có con nhạn là đà cho hưởng tý sex để đổi chác việc lên lớp nữa. Sướng chán.” Trưởng đoàn Việt Cộng trả lời ngay: "Ấy chết, ai lại nói thế, bí mật nghề nghiệp mà đồng chí, nói thế bể mánh ngay, nên đàn em chỉ làm thinh qua cầu.” 

 

“Thế đồng chí nói thế nào mà con khỉ bỏ chạy lẹ vậy?”, viên trưởng đoàn Trung Cộng hỏi tiếp. 

 

“Dạ em nói với nó thế nầy: "Khỉ ơi, mày ở nước ngoài làm gì, về Việt Nam hòa giải hòa hợp với tụi tao cho vui.” Nghe nói hòa giải hòa hợp với mình, nó bỏ chạy trốn mất đất. Thật là đồ khỉ. Về Việt Nam hòa giải hòa hợp mà không chịu. Đúng là con khỉ dại hơn mấy ông bà trí ngủ, khoa bảng đầy mình, giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ hay kỹ sư gì đó, mấy ông cũng ở các nước Tây phương đấy, mấy ông bà về Việt Nam hòa giải hòa hợp, được bằng khen của nhà nước Hà Nội. Thế mà con khỉ lại chê...”

 

Chuyện viên phó giáo tiến sĩ muốn hòa giải hòa hợp với con khỉ ngang đây bắt đầu bốc mùi xú uế, đến nỗi con khỉ cũng chê. Thôi xin tạm ngưng. Bái bai bà con cô bác, chờ hồi sau, khi nào đài BBC tiếng Việt phỏng vấn thêm vài thằng ngố khác, mới có đề tài cho lời bàn Mao Tôn Cương, tiếp tục chuyện vui trời ơi đất hỡi như thế nầy.

 

TÚ KÉP

(Toronto, Canada)

(tác giả gởi)

 

 

 

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, September 12, 20198:46 AM(View: 166)
Đầu năm 1970, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Trần Quốc Lịch được thăng cấp Đại Tá Nhiệm Chức, chỉ huy các tiểu đoàn cơ hữu (TĐ 5, 7, 11) và các đơn vị tăng phái, thống thuộc hành quân trong giai đoạn 1970-1972. Tháng Chín, 1972, do công trận, chiến tích các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 2 thâu đoạt, Đại Tá Lịch được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng; 1 Tháng Mười Một, 1972, Đại Tá Lịch tiếp thăng cấp chuẩn tướng nhiệm chức; Tháng Bảy, 1973, Chuẩn Tướng Lịch được lệnh bàn giao Sư Đoàn 5 lại cho Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tiếp giữ chức vụ chánh thanh tra Quân Đoàn IV/Quân Khu 4. Cuối năm 1974, Chuẩn Tướng Lịch bị câu lưu do tội danh tham nhũng, tạm giam tại Đề Lao Chí Hòa, buộc phải giải ngũ, giáng xuống cấp đại úy! Phiên tòa quân sự chính thức xét xử Đại Úy Trần Quốc Lịch về tội danh tham nhũng chưa thực hiện thì xẩy ra biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Vụ án Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch chìm khuất trong đại nạn nước mất nhà tan. Chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội
Tuesday, September 10, 20198:45 PM(View: 95)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn. Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đình
Wednesday, September 4, 201911:51 AM(View: 82)
Đến với nhau trong văn chương không phải là sự tình cờ. Và vì vậy, khi Nguyên Minh đến với thế giới chữ nghĩa là mang đến cả một niềm đam mê không biết mệt mỏi. 18 tuổi anh và bạn bè làm tờ Gió Mai ở Huế. Và từ đó đến nay anh có hơn 50 năm tuổi nghề, mặc dù có những lúc, thời gian đã chặn anh lại nửa đường. Nhưng thời gian mang những dấu ấn lịch sử kia đã không thể trói tay chân, đầu óc anh. Hết Gió Mai, ở Phan Rang anh lại cùng Ngy Hữu và bạn bè ra tờ Ý Thức, tờ báo in ronéo đẹp nhất Miền Nam thời bấy giờ và cũng tập trung đông đảo người viết trẻ nhất. Cả cuộc đời Nguyên Minh không thể thiếu mùi mực in, mùi giấy và kim chỉ. Vắng chúng chừng như anh không thể nào sống nổi thêm giây phút nào nữa, như một Trần Hoài Thư ở New Jersey vừa khâu sách trên bàn ăn tối vừa tiếp bạn xa! Thời in ronéo chấm dứt, có lúc Nguyên Minh thẫn thờ như kẻ mất hồn giữa thị trấn tràn gió và cát bay. Anh quyết định bỏ Phan Rang, chốn quê nhà yêu dấu của mình, vào Sài Gòn để làm một điều gì đó cho văn chương,
Friday, August 30, 20196:15 PM(View: 160)
thời đi lính ta làm thơ lạng quạng. có, đương nhiên súng đạn máu me. chạm sự thật lẽ nào nói nhảm. tình ý trong lòng khuân hết ra khoe. chuyện đánh đấm không cần hư cấu. thơ tháp tùng theo bước hành quân. thơ cũng dán lung tung nhiều chỗ. những chi chi ẩn nấp trong quần. hương tình ái cùng hơi cuộc chiến. vo tròn nhau thành một món ăn. vật tiêu hóa không qua cửa miệng. mà đi vào máu đỏ tim đen. ta vốn dĩ không vờ cao ngạo. không huênh hoang kiểu bất cần đời. cực-chẳng-đã vài lần văng tục. thói quen bất thần từ một cuộc chơi. không hào sảng lập lờ khí cốt. dựa rượu dựa tình tạo cách nói ngông. thơ để nói và thơ để vẽ. diễn tiến mỗi ngày xâm nhập nội tâm. giết con rắn bắn con bò thượng cấp. chơi nhằm em trụi lủi no hair. sợ són đái đôi lần rút chạy. cũng cùng thơ vai sánh cặp kè. bởi biết ngượng nên không nói dốc. kiểu ngán gì chết hoặc bị thương. ngày ngày ngắm xác banh óc đổ. phi nhân chi cũng khó xem thường. một thằng ngạo nhiều thằng bắt chước
Tuesday, August 27, 20197:55 AM(View: 146)
Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai. Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị. Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì? ‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’. Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn