DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,377,830

40 Năm Tình Cũ - Thái Phát Tài

Tuesday, May 17, 201112:00 AM(View: 11848)
40 Năm Tình Cũ - Thái Phát Tài
40 NĂM TÌNH CŨ

 

Thái Phát Tài

Khóa 2/ĐH/CTCT/ĐL

dl

 SVSQ/NT2/ĐH/CTCT/ĐL

 

Ngày tháng năm còn trong trại cải tạo, thời điểm không hẹn, bạn bè vẫn gặp nhau, đại đa số là quân nhân tác chiến, rồi đến bạn bè còn là công chức biệt phái, đảng viên các đảng phái quốc gia, viên chức xã ấp hành chánh, cùng quý vị tu hành ở các tôn giáo: Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Tin Lành, Hòa Hảo...Buổi ban đầu ở tù còn bị gạt gẫm, đánh lừa, rồi thời gian trôi chầm chậm, mặc dầu mỗi phút có 60 giây, mỗi ngày hai mươi bốn tiếng. Thời gian ở tù là thời gian cảm giác trôi chậm...nội quy tù xuất hiện...ngày về thăm thẳm chiều trôi, ban tù mệt mõi ngóng trông, mỗi người mỗi thế giới suy tư riêng rẽ, với nội quy cấm liên hệ, cấm ăn nói linh tinh, nay dời phòng, mai chuyển trại. Bạn bè vừa chớm tình cảm lại chia tay, qua trại mới gặp bạn bè khác, mọi sinh hoạt đều giống nhau. Tất cả bạn tù nhìn nhau qua ánh mắt cảm thông, nhạy cảm, hiểu nhau và che dấu cho nhau, mỗi khi bị cán bộ quản giáo tra khảo. Trình độ người tù lúc nào cũng đề phòng bị chụp cái chão...

 Thời gian chồng chất, sức khoẻ người tù suy sụp nhanh chóng qua chế độ lao độ khổ sai: Đi đón cây, phá từng, đào sỏi, làm đường dẫn đến phá sạch sẽ cây rừng để biến thành khu vực trồng trọt, cắt tranh làm lán cho tù ở. Ngày ngày đi lao động ngoài hiện trưnờg không một bóng cây che mát, ánh nắng cháy da, mồ hôi nhỏ giọt, đến xế chiều, ghé bên bờ suối, được lệnh xuống suối tắm, qua một phút, hai phút rồi có lệnh tập họp, điểm danh kế tiếp rồi hướng về trại, áo quần ướt đẫm, rách nát tả tơi chiếc áo tù tự cắt, tự may bằng bao cát Mỹ.

 Vào trại, dụng cụ lao động do tù tự chế: Cuốc, rựa, dao phá rừng được gom lại rồi đi lãnh phần cơm chiều gồm bo bo, mỗi tù được một chén ngang mặt. Buổỉ sáng khoai mỳ hoặc khoai lang, mỗi người tù được 1 củ, đại đa số là sùng, sượn, cũng ráng nuốt cho qua ngày, đến mùa bắp ăn bắp. Đêm đến, các lán tù ở, bị khóa lại, cán bộ cai tù đi vòng quanh canh gát giấc ngủ cho tù...trong cơn đói hoành hành bao tử. Tôi nhớ mãi hình ảnh bạn tù trong phòng dùng bịch nylông chứa nước suối của buổi chiều tắm, để dành, tối nào cũng tu đầy một bình để đè bao tử, dỗ giấc ngủ, với những đêm ban ngoài trời sấm sét, bên ánh đèn dầu, đưa tay chụp bắt đưa vào miệng với cảm giác có thêm chất béo. Mọi người tù nhìn nhau vui cười gượng trong không gian chật hẹp và nhìn những con rệp xuất hiện nối đuôi, bò dài theo thành gỗ và nệp tre của sàn ngủ.

 Thời gian kế tiếp, bạn tù chết càng ngày càng nhiều qua cơn bệnh không có thuốc như tiêu chảy, kiết lỵ, sốt rét. Mỗi khi nghe tin người tù bị bệnh đưa đi bệnh xá, ngày sau lại nhìn hình ảnh hai người tù khiêng gánh bạn tù gói gọn trong chiếc chiếu túm lại hai đầu, bên cạnh cán bộ an ninh, cán bộ canh gát với khẩu súng dài, mọi người bạn tù nhìn âm thầm cầu nguyện cho bạn tù vắng số theo tôn giáo mình. Bạn tù đông mà không một ai được tiễn đưa, không một nén nhang, không một ai biết địa điểm chôn tù, chỉ biết tiến ra vườn mì...mọi bạn tù nghẹn lời, trước hình ảnh “tù chết” không bạn bè, không thủ tục tôn giáo...bạn tù âm thầm rỉ tai, căm hờn. Một số tù “đi đầu gối” với cán bộ quản giáo, báo cáo mọi sinh hoạt trong tù, để hưởng ơn mua móc, hưởng quy chế xuất sắc lao động để được phần ăn tăng thêm với củ khoai, củ mì, traí bắp, chén bo bo kèm thêm lời hứa được thả về sớm với gia đình. Thành phần này được gán cho danh từ “ăn teng” và “râu” (máy truyền tin PC 25). Mọi bạn bè cẩn thận và xa lánh họ.

 Hình ảnh sinh hoạt tù qua các trại láng chuyển dời không định trước, đều giống nhau, càng ngày càng gay gắt, không bao giờ phai và quên được, của ngày tháng đen tối, đúng như nhân gian thường nhắc nhỡ: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.”

 

*

 

 Ngày thả về địa phương, tính lại hơn sáu năm, chui từ cái rọ nhỏ, đi vào cái rọ lớn tại địa phương, với đôi mắt địa phương, với công an, với các tổ dân phố, phường khóm, hội họp liên tục, bất kể ngày, kể đêm, gọi là sinh hoạt kiểm điểm, thời gian với cảm giác sống nửa người, nửa vật. Nhưng bạn tù với âm thầm, to nhỏ với tin tức đã nghe và chuyền nhau tin bí mật với niềm hy vọng, tia sáng xuất hiện từ cuối đường hầm. Có tin vang vọng vào năm 1988 khi nhìn thấy mẫu giấy quay roneo để tù điền vào và gởi qua tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Bangkok, Thái Lan, với niềm hy vọng chứa chan: Mỹ lên danh sách tù để bốc đi qua Mỹ, lúc đó gọi là tù nhân chính trị. Thời gian này nhiều hy vọng, cầu nguyện và chờ.

 Một phép lạ lại đến cho bạn tù, năm 1990 tin tức chuyển nhau từ SG phát đi, văn phòng Xuất Nhập Cảnh đã dán thông báo: Tất cả tù đã cải tạo được 3 năm trở lên, đều được nộp hồ sơ chính thức và sẽ được cứu xét, đi định cư nước thứ ba. Dư luận xôn xao bàn tán, mấy ông cải tạo sắp sướng rồi, “Tù 3 năm được đi Mỹ”, mấy ông cải tạo có giá.

 Nghe vậy, biết vậy, vẫn im lặng cầu nguyện trong niềm hy vọng: Thượng Đế, Trời, Phật, Chúa đã cứu đám tù, như những người quên mình vượt biển, băng rừng, đi đường bộ đủ mọi cách,

đi tìm tự do...trong muôn vàn khổ cực trong suốt hành trình, đánh đổi cái chết trước biển cả bao la, với đám hải tặc, cướp biển, rời bãi vượt biên phải né tránh công an và tuần tra bờ biển kiếm tiền và vàng.

 Luật nhân quả đã đến đúng ngày, đúng tháng, đúng năm, xoay chuyển cho bạn tù gặp nhau lần thứ hai tại đất khách tự do nói chung và đồng môn Chiến Tranh Chính Trị nói riêng. Tìm lại bên nhau, mỗi người một nơi trên đất nước Hoa Kỳ và các nước Úc, Na Uy, Thụy Điển, Canada, Pháp. Đồng môn tay trong tay, tay bắt mặt mừng tại đất khách sau 30 năm xa cách, nghìn trùng xa cách, thời gian qua chứa nhiều khổ ải, buồn đau, đọa đày...Gặp nhau buổi ban đầu, cũng gương mặt đó ngày ở quân trường 4648, bây giờ mặt đối mặt, tên tuổi xa rời bộ óc ở tù mau quên, chỉ biết thốt nên lời: “Tao quên tên mày rồi.” Niên trưởng đây em. Xung quanh bạn bè đông nhìn nhau tại phi trường, gây không khí vui nhộn, khách lạ đưa mắt nhìn nhau, người dân da vàng đang bắt tay, vỗ vai, choàng tay ôm cười vui vẻ, đánh dấu “Ngày hội ngộ 30 năm xuống núi.”

 Thời gian sống tại hải ngoại, với cảm giác ngày tháng qua rất nhanh, bạn đồng môn lại hưởng phước thêm, vui thêm kỳ hội ngộ 35 năm tại Bắc Cali. Trong niềm vui đó, điểm danh bạn bè, nhìn nhau cũng gom đủ số bạn bè kỳ trước, đó là niềm vui của cái tuổi về già, còn sức khoẻ, còn đi tìm lại bên nhau với quân số cũ, chỉ vắng một số ít bạn bè ở xa trong hoàn cảnh của mỗi người bạn, tất cả đều cảm thông cho nhau với lời thăm hỏi: “Sao mầy không đi?” “Tao kẹt đi VN, tại bệnh, nghỉ một chuyến hội ngộ, hẹn kỳ sau”. Trong đó có một bạn được bạn bè hiện diện nhắc đến, thiếu vắng hôm nay, bạn bè hoài niệm, tiếc thương người bạn ra đi bỏ lại cuộc chơi. Đó là số phận, cái nghiệp, cái nợ bạn mình đã trả hết.

 Bây giờ chúng mình còn lại đây, còn thiếu nợ, nợ mình vay từ kiếp trước. Thôi bây giờ đưa lưng đi làm để trả nợ nơi đất khách, cái nợ ở xứ Tự Do cũng nhẹ nhàng so với một số bạn bè giàu có, dư ăn, dư mặc không đi, hoặc không đủ năm tháng tù, đại đa số bạn bè mình ở lại, phải tiếp tục cuộc sống “dè dặt” kỹ lưỡng, tránh dòm ngó, sự sống dựa vào con cái khôn lớn, hạnh phúc bên mái gia đình thiếu thốn vật chất và rất đau khổ, khi căn bịnh phát ra đột ngột. Với tình huống đó, bạn bè chung mình ở hải ngoại đã mở rộng vòng tay yêu thương, mỗi người gọi thông báo đến bạn mình ở xa chưa hay tin, hoặc trên email, trong một ngày sau, chúng ta thấy tấm lòng “không bao giờ bỏ bạn giữa dòng đời.”. Tình bạn, tình đồng môn, tình đồng tù sống dậy khi hữu sự xảy đến. Tôi còn nhớ trong một dịp nghe buổi phỏng vấn nhà thơ Trạch Gầm với lời thơ:

 

Mầy hỏi tao bây giờ sống ra sao?

Cơm áo tha phương có phải nghẹn ngào

Gần mười năm tù còn in trong trí

Hay cháy rồi đất rộng trời cao?

...Tao gởi về mầy một trang giấy trắng

Thật cứ lao đao mầy cứ vẻ vời

Nơi tha phương trăm hội đoàn yêu nước

Tao ngu ngơ...không biết khóc hay cười


 Xã hội tự do với cuộc sống muôn hình vạn trạng, mỗi người một ý thích, mỗi sinh hoạt tự chọn bên cạnh gia đình, bạn bè và người thân, nhưng tình cảm đi đôi với cuộc đời, trong đó, tình đồng môn chiếm tỉ lệ cao, bởi hai năm sống trong quân trường, hiểu nhau, biết nhau. Ra đơn vị gặp nhau. Vào tù cũng gặp. Bây giờ ở đất tự do duyên số lại gặp nhau, quây quần tại địa phương, với ý nghĩa trong Hội Ái Hữu cựu SVSQ. Dây thân ái ràng buộc, thấm sâu vào trong tim óc từng đồng môn với lời chân tình, mày tao xưng hô với nhau, điện thoại thăm hỏi nhau và tìm nhau trong dịp nghỉ hè của hãng, xưởng cho phép, được hưởng, tội gì không đi?

 Đi đâu? du lịch tốn kém nhiều. Tìm đến địa phương có bạn mình ở đó vui hơn. Gặp bạn già với nhau, ôn lại chuyện xưa đời quân ngũ và kể nhau nghe về sức khoẻ, về toa thuốc, cách trị liệu, hoặc lấy kinh nghiệm về phòng bệnh của bạn mình trao đổi. Bên cạnh hội ngộ quy tụ vào cuối tuần với bia bọt, thức ăn do nàng dâu Nguyễn Trãi copy lại trong dân gian, biến chế theo từng miền, để “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi.”. Thật ra gặp nhau, nhớ nhau, kỷ niệm hình ảnh được bạn bè nhắc mãi trong mọi câu chuyện, khi gặp nhau được phân trần.

 Chuyện gia đình Nguyễn Hiền Trung từ bên Pháp ghé thăm người em, nhà Loan ở Florida, gia đình thuê xe, lái xuống thăm anh em Hoa Thịnh Đốn, suốt lộ trình trên xa lộ, Trung lái xe vẫn còn phong độ theo Tây. Bất chợi tiếng hú còi, đèn chớp chớp màu xanh đặc biệt xen màu đỏ, police Mỹ xuất hiện. Trung trao giấy tờ xe, Mỹ nói, Mỹ nghe, police giao giấy tờ tiếng Pháp của Trung. Police khoác tay ra dấu cho xe chạy. Trung cất lời: Merci bổ cu. Mọi người trong xe im và lo, bây giờ tươi cười. Trung đến nhà Tài mọi người đang chờ, rất vui qua câu chuyện Mỹ nói, Mỹ nghe, Tây nói Tây nghe. Hội viên Hoa Thịnh Đốn “nổ” giống như Grand Canon: Ai đến Hoa Thịnh Đốn, thủ đô ánh sáng, thủ đô văn minh, quyền lực nhất thế giới, đều được may mắn.

 Hội viên Hoa Thịnh Đốn kể tiếp chuyện:

 Lê Văn Hoan ở Nam Cali, qua thăm con trai, sau khi chiến đấu tại Iraq được về dưỡng quân tại NC. Hoan và con trai lái xe thăm gia đình Tài. Trên lộ trình cha con tâm sự quên hẳn luật lệ giao thông. Police chớp đèn. Hoan trình giấy tờ. Police “lên lớp”, thấy tình hình căng, con trai tên Cường đi lính, móc giấy tờ trình và nói tiếng Mỹ như gió. Police cảnh cáo cho đi. Cũng đến Hoa Thịnh Đốn an toàn, không có ticket nào cả.

 Ngày cuối tuần, anh em trong Hội Hoa Thịnh Đốn rất vui vẻ và mừng khi hay tin bạn bè từ xa đến, luân xa từ tuần này sang tuần khác, đặc biệt là mùa hè. Mọi câu chuyện được phanh phui giải tỏa với nổi lòng giữ kín từ lâu của giai đoạn “yêu” một thời ở quân trường. Hoan gặp lại Ngô Bá Lai trong buổi tiệc tại nhà Tài: “Ê, tau còn nhớ đọc bài của Lê Như Phò trong Ức Trai, theo Hoan nghĩ, ngaỳ xưa ở Đà Lạt, anh em mình ai cũng “dê” hết, nhứt là gặp mấy em Đà Lạt má đỏ môi hồng, đùi bự. Tại rạp ciné trong ngày phép cuối tuần, chàng SVSQ Lê Như Phò gặp em bé mắt nai ngơ ngác, lịch sự Phò mời cô đi dạo phố, đi ciné, định “cua em” cho được niềm vui cuối tuần. Đâu ngờ em hỏi ngược lại: Anh có biết anh SVSQ Ngô Bá Lai không? Nghe đến đây Lê Như Phò chào thua và bái phục sư phụ Ngô Bá Lai. Phò xuất khẩu bị “đụng hàng”.

 Câu chuyện vui tiếp theo, Dương Quang Phúc thuật lại chuyện: Nguyễn Hữu Tạo, Lê Đình Phan và Dương Quang Phúc bận áo quần SVSQ bảnh bao, đẹp trai, lịch sự rũ nhau ra nhà cô Vịnh, đâu ngờ 3 chàng ngồi phòng khách chờ đợi mãi, đâu ngờ Thạch Tô Tô đã lọt vào ổ, ứng chiến trong nhà cô Vịnh từ sáng sớm.

 Mọi người ôm bụng cười về một thời để yêu và một thời để nhớ. Mãi đến thất thập cổ lai hy mới chịu “khui ra”. Chuyện chưa chấm dứt, còn có màn leo hoặc chui rào đi phố đêm đánh bida, bóng bàn, ngồi cà phê Tùng và đầm ấm hơn với “điểm hẹn tình yêu đồi 4648 “, đến với hộp đêm qua quân số lựa chọn hạn hẹp được đồng thuận của chủ gia đình khỏi trình diện phường khóm.

 Nói cho vui, thật sự anh em mình ham vui, ít nghĩ đến hậu quả. Chuyện tới đâu, tính tới đó. Cũng như tình lính tính liền. Thú vị chui rào đi đêm vừa vui, vừa hồi hộp. Qua đường một lần, rất khoái và kể um sùm với bạn bè, nghĩ rằng: “Chưa đi thi bằng Dù, mà vẫn dấn thân vào màn đêm, sau đó còn rũ rê bạn bè đi chung, với luận điệu: “Mày theo tao thử một lần biết liền.”

 Bạn bè trong đời sống quân trường, ít có sống riêng rẻ, đi đâu cũng đi chung, vui chung. Ngày xa xưa tuổi trẻ hay tụ ba, tụ bảy, phá làng, phá xóm. Bây giờ nghĩ lại cũng còn vui. Không riêng gì Khóa 2, các khóa đàn em cũng rập khuôn khóa đàn anh, điển hình bắt được trên Ức Trai qua bài thơ của Trần Trung Hậu:

 

Mỗi chiều mỗi sáng bên kia đường

Áo em bay trắng cả sân trường

Bùi thị

Tại làm sao em nhỉ

Mà ta đã gặp nhau

Khi mê muội trước tình em cám dỗ

Ta hiện hình tên lãng tử cuồng si

Rời doanh trại nửa đêm chuồn xuống phố

Chỉ để nhìn em khẻ chớp bờ mi.

 

 Niên đệ ra phố trong những lần đại hội, ngồi với nhau, được kể lại, khóa đàn em ra phố thường hay bị sĩ quan cán bộ Đào Ngọc Tố, bí danh Fantomas vỗ nhẹ trên vai SVSQ, rồi bỏ đi. Nỗi lo sợ, hồi hộp đợi chờ khi về doanh trại, chờ nhận giấy phạt trình diện dã chiến. Với tấm lòng của Sĩ Quan cán bộ cũng một thời dù ra phố, lúc còn học Võ Bị, nên cảm thông, cho «qua cầu gió bay». Tình cảm của «anh Tố» được đàn em nhắc ãi theo thời gian, qua các kỳ đại hội, đều có sự hiện diện «anh Tố» vui vẻ với hội ái hữu Sinh Viên Sĩ Quan Đại Học Chiến Tranh Chính Trị. Anh em Khóa 2 lại khoe với anh Tố, tụi em, dù chưa bị phát hiện như Trần Thanh Kiều Diệp, Nguyễn Văn Thương, Lại Tư Mỹ, Hứa Văn Hồng, Nguyễn Thiện Đức...và một số anh em ham vui «nửa đêm ngoài phố». Thành quả cũng tốt và tiếng thơm cho SVSQ, đến nay, lâu đài tình ái đồi thông Đà Lạt đã bền duyên với dân thị xã, khá đông quân số, quân số gia tăng, được hưởng chức phận cao ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, kèm thêm job vững chắc, lo ăn, lo uống cho cháu, đưa đón cháu đến trường, với lệ phí rất nhẹ nhàng «tình cho cháu biếu không» ở cái tuổi :

 

Ngày xưa thất thập ở không 

Ngày nay thất thập chạy rong suốt ngày.

 

 

 Nhờ vận động chân tay, tuổi già biến mất, đại đa số nàng dâu Nguyễn Trãi đều đẹp lão, trong những lần hội ngộ, cũng góp mặt lên sân khấu hợp xướng, cũng được nhiều tràng pháo tay nhiệt liệt tán thưởng trong đại hội 30 năm, rồi 35 năm. 

 Bây giờ mọi người, nhất là bạn bè khóa 2, đang trên đường rạo rực, nôn nóng ngày đại hội 40 năm thật là hùng vỹ, hấp dẫn, sôi động qua các tiết mục được vạch ra, thêm tiết mục của các hội địa phương. Văn nghệ rất xôm tụ được điều động bởi Nguyễn Văn Diệp. Thấy tập dượt sôi động, xem video trên mail do Huỳnh Trọng Thiệt, Hồ Ngân, ra sức thu nhặt chuyển âm, rồi post lên mail trong ngày họp tại nhà Trần Yên Hòa. Lần đó xem thấy khuôn mặt bạn bè mình còn tươi rói, tuy tóc đã bạc, đã rụng, nhưng tinh thần còn ham vui vẫn còn thể hiện trên gương mặt và ánh mắt. Song song với tiếng đàn của Chúc, với cặp kiếng cận, kiếng lão, nhìn Chúc miệt mài hăng say trên phím đàn, với thân gầy và nước da bánh mật, dễ thu hút người nghe. Và nhớ mãi cái tu huýt của Chúc thổi lên hôm đại hội lần đầu của 30 năm xuống núi. Chúc vai trò sinh viên sĩ quan trực, thổi còi tập họp anh em vào phạn xá. Rất là vui, rất là nhớ.

 Niềm vui, niềm nhớ đó thay bằng giòng nước mắt, ngẩn ngơ, xúc động khi hay tin từ bạn Đinh Hồng Lân và Lê Văn Hoan báo tin : «Chúc đã chết». Thật là tội, thật ngỡ ngàng. Mọi người hay tin, với chi tiết rõ ràng sự «đột qụy» của Chúc quá bất ngờ, quá nhanh. Sau ly cà phê buổi sáng tại nhà Chúc, đọc báo, làm thơ, rồi báo với chị Chúc đi ra kho, tìm và sắp xếp giấy tờ...ngờ đâu, Chúc nằm im đó, khi quá trưa giờ cơm chị Chúc đi tìm, Chúc đã nằm im tự bao giờ.

Bạn bè nam Cali hợp tác cùng gia đình và thông báo trên email. Tất cả bạn bè đều cầu nguyện tinh thần và hổ trợ vật chất một cách rất nhiệt tình, khắp tiểu bang nước Mỹ và bạn bè khắp năm châu đều gởỉ lời chia buồn với bao lời thấm thiết. Riêng bạn Lê Như Phò đã diễn đạt cuộc sống của Chúc lúc ra tù, lúc sắp lên đường qua Mỹ. Cuộc sống của Chúc quá vất vã, nhưng cái tình của Chúc lúc nào cũng làm bạn bè thương mến, không một ai giận hờn Chúc gì cả. Tính tình Chúc bình dân, hài hòa. Từ đó anh em hiểu thêm về Chúc, khi người bạn mình vĩnh viễn ra đi.

 Tuy xa xôi vạn dặm, anh em đều nhìn được Chúc lần cuối với lá quốc kỳ phủ kín đời anh, bên cạnh bạn bè dõi mắt trông theo, với lời chia buồn từ các anh em Nguyễn Traĩ từ khắp nơi gởi về qua lời đọc của Võ Thiện Hiếu.

 Sau phần tiểu sử về Nguyễn Văn Chúc do Trần Yên Hòa đọc, gởi đến anh em qua đoạn video clip trên trang Web của Hồ Ngân, Huỳnh Trọng Thiệt, video xem đi, xem lại, kỷ niệm khó phai nhoà trong ký ức bạn bè và còn xúc động tiếc thương đậm đà hơn nữa cho cái ngày kỷ niệm 40 năm khóa 2 Nguyễn Trãi xuống núi sắp đến...

 

Cuối đông Virginia

NT2 Thái Phát Tài

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 276)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 225)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 628)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 421)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 334)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,