DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,823,317

VN: Tham nhũng - “Không cầm phong bì, không yên tâm” -

27 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 12646)
VN: Tham nhũng - “Không cầm phong bì, không yên tâm” -

VN: Tham Nhũng - “Không cầm phong bì, không yên tâm”

Không ai nói với ai, không ai bắt buộc, song dường như nó đã trở thành thói quen khi mỗi lần người thân nhập viện, người nhà ngay lập tức tìm vị bác sĩ chuyên khoa nhờ giúp đỡ. Mỗi lần như vậy là một lần phải "cảm ơn". Ý tưởng đặt thùng cảm ơn bác sĩ vào khoa phòng thay việc đưa phong bì trực tiếp liệu có là giải pháp tối ưu?

 

Nhóm phóng viên báo có mặt tại Bệnh viện Nhi TƯ (Hà Nội) để thăm dò ý kiến của các bệnh nhân về việc có nên "đặt thùng cảm ơn" bác sĩ vào các khoa phòng tại bệnh viện hay ai cảm ơn thì cứ đưa thẳng phong bì cho bác sĩ? 100 phiếu thăm dò được phát ra, nhiều ý kiến cho rằng phải cảm ơn trực tiếp người đã giúp mình, một phần thấy rằng đó là trách nhiệm của bác sĩ. Dưới đây chúng tôi tiếp tục đăng tải ý kiến của các chuyên gia.


Ý tưởng hay nhưng không dễ thực hiện


Theo PGS.TS Phạm Thúc Hạnh (trưởng khoa Khí công - Dưỡng sinh, Bệnh viện Y học Cổ truyền Tuệ Tĩnh):

Trước hết, chúng ta cần hiểu, cảm ơn là chữ "lễ", Khổng Tử đã nói "Tiên học Lễ, hậu học Văn". Cái "lễ" ở đây có nghĩa là làm cho nhau một hành động tốt, giúp nhau qua cơn hoạn nạn, cứu sống nhau để người khác phải biết ơn và cảm ơn. Còn hành động đút lót là những việc mưu mô, tính toán.
Nhiều bệnh nhân được bác sĩ nhận phong bì đã thấy mừng lắm, bởi nghĩ sẽ tận tâm cho mình. Còn bác sĩ thì nghĩ nhận để trấn an tinh thần cho bệnh nhân, không nhận họ lại nghĩ bác sĩ không nhiệt tình, hay chê ít.
Tôi nghĩ, việc nhận cảm ơn ở đây không nhất thiết đó là tiền, có thể là một bài thơ, một bài báo, miễn sao thể hiện tấm lòng, vậy những trường hợp này cho vào thùng sao được? Tuy nhiên, sẽ không tránh khỏi những trường hợp bệnh nhân không cảm ơn, bác sĩ mặt nặng mày nhẹ. Điều đó cũng thật khó nói, khi nghề bác sĩ là nghề đặc thù, song tiền lương thì không đặc thù. Hiện tại, một bệnh nhân khám bảo hiểm, bác sĩ khám được 3.000đ/bệnh nhân. Sự lao động đó "quá rẻ".

Trở lại vấn đề đặt thùng cảm ơn tại các khoa phòng, hiện tại nó chưa phù hợp với chúng ta. Bởi một lẽ, bệnh nhân cảm ơn bác sĩ trực tiếp giúp mình, chứ không phải cảm ơn bệnh viện này giúp mình. Cái thùng đó chỉ nên đặt khi bệnh viện đó làm nhiều việc tốt hoặc cần quyên góp cho người nghèo, hoàn cảnh khó khăn, chứ không phải quyên góp cho bác sĩ. Bác sĩ nhận được những đồng tiền từ trong thùng cũng không vui vì đó là tiền từ thiện. Ở nước ta, mùa hè mất điện là thường xuyên, nếu đặt thùng cảm ơn, nhỡ không may mất điện, camera ngừng hoạt động, tổ bảo vệ lại phải cử người trông cái thùng đó thì quả là bất tiện.


Việc để thùng cảm ơn bác sĩ tại phòng khám là một ý tưởng hay nhưng không dễ thực hiện. Tôi nghĩ việc đặt thùng chỉ phù hợp với những bệnh viện đã đạt chuẩn, bệnh viện quốc tế dành cho người giàu mà ở những bệnh viện như thế phí khám chữa bệnh đã thu đúng, thu đủ, liệu có ai còn bỏ tiền cảm ơn vào thùng?
Đặt thùng thì tùy tâm

Bà Văn Thị Huế (Tam Nông, Phú Thọ) cho rằng: Thông thường nếu cảm ơn bác sĩ thì phải dựa vào mặt bằng chung, vào những người đi trước để cảm ơn mà không ngại phong bì ít. Đi khám mà không kèm theo cái phong bì thì không yên tâm, nhỡ đâu người ta khám cho mình không kỹ, đi lại nhiều lần càng khổ thân. Nếu bỏ tiền cảm ơn vào thùng thì ai biết? Dân quê chúng tôi thật thà, nếu mọi người cùng bỏ vào thùng thì chúng tôi cũng sẽ làm theo.
Câu hỏi mà nhóm phóng viên đưa thăm dò là:


1. Bạn có muốn cảm ơn bác sĩ khi khám chữa bệnh cho người thân bằng cách trực tiếp không?


a. Cảm ơn trước khi bác sĩ khám, chữa bệnh.

b. Cảm ơn sau khi bác sĩ khám, chữa bệnh.


2. Bạn nghĩ sao về ý tưởng đặt thùng cảm ơn bác sĩ tại các

khoa, phòng?


a. Đó là ý kiến hay.

b. Chưa thiết thực.


c. Ý kiến khác.


3. Đặt thùng cảm ơn bác sĩ tại khoa, phòng, bạn có:


a. Tự động cảm ơn khi bác sĩ đã khám chữa thành công cho

người thân.


b. Có thể cảm ơn, có thể không, vì chẳng ai biết mình.


c. Tùy tâm cảm ơn để không bị nghĩ là ít, nhiều.


Sau khi tham dò:


72% bệnh nhân muốn trực tiếp cảm ơn bác sĩ.

20% bệnh nhân muốn bỏ vào thùng cảm ơn để tùy tâm mình.


8% là những ý kiến khác.

BVN-TH

Hẩm hiu đời thợ lao động


Tôi hưởng ứng Tháng công nhân bằng một chuyến lòng vòng lên Phú Tài, lân la vào các khu nhà trọ tối tăm khuất lấp, nói chuyện cà kê dê ngỗng với những con người đang quần quật bán sức nuôi thân tại các cơ sở sản xuất vô danh, nhỏ lẻ.

Đầu óc tôi lởn vởn một câu hỏi, giữa thời gạo châu củi quế này, họ ăn làm sao, ở ra sao. Khó ngặt không loại trừ bất cứ ai, nhưng so với đồng nghiệp ở các đơn vị từng được xác nhận về thanh thế, thương hiệu, cảnh ngộ họ có phần hẩm hiu hơn. Họ thiếu những cam kết, ràng buộc chắc chắn từ giới chủ, thiếu điều kiện bảo hộ, bảo hiểm... Trong đội ngũ 14.000 – 15.000 lao động hiện còn bấu víu vào 85 doanh nghiệp của Khu công nghiệp Phú Tài, những trường hợp như thế, buồn thay, không hề ít ỏi.


phong_bi_1-content



Áo cơm chới với

Người dẫn đường - khu vực phó khu vực 6, phường Trần Quang Diệu (Quy Nhơn, Bình Định) Võ Đình Tửu - hoá ra lại sẵn chuyện làm “mồi” cho một buổi vòng vo. Ông Tửu có dâu và con gái là công nhân Cty TNHH gỗ Hà Thanh, mở đầu bằng giọng ngán ngẩm: “Tụi nó, đứa đứng máy bào, đứa kiểm tra công đoạn lắp ráp, đau lưng mỏi cổ suốt ngày cũng chỉ được 60.000 đồng tiền công. Hôm nào giỏi lắm, ép xác đạt tới loại A thì được trả 80.000 đồng. Ăn thua gì đâu”.

Ông Tửu nói hai vợ chồng già, với suất lương hưu còm cõi, lâu nay vẫn phải ăn nhín nhịn thèm, dành ra chút ít phụ thêm cho bầy nhỏ. Con gái ông - chị Võ Thị Hương - để cầm cự với gánh nặng đèn sách từ hai đứa con, một đại học trong Sài Gòn, một sắp hết phổ thông trung học ở Quy Nhơn, giờ phải “biến báo” bước nữa bằng cách cơi nới mấy gian phòng làm chỗ cho thuê. “Được đồng nào hay đồng nấy. Mai mốt nếu lại thêm một suất học xa thì chẳng hiểu đấy là phúc hay họa” - ông Tửu gắng gượng hài hước.

Chúng tôi rẽ vào dãy phòng cho thuê của bà Nguyễn Thị Hòa ở tổ 5, khu vực 6. Khu trọ nằm sau lưng cơ ngơi chính của chủ nhà, song để đến nơi, phải lách qua con dốc lắt léo, chật chội, hun hút hàng trăm mét. Mùi hôi hám, hoai mục, xú uế bốc lên hầm hập từ những vũng nước lênh láng đen ngòm, những lò tráng bánh cáu bẩn, những bếp ăn, chuồng trại gia súc nhớp nhúa. Ngang qua góc vườn, chợt thấy một thanh niên quần đùi, áo ba lỗ, tay lăm lăm chiếc ná caosu, vừa chạy vừa ngã dúi dụi trên những bờ đất mấp mô, khuôn mặt hất ngược, láo liên dán lên tàn cây vú sữa.

Nãy giờ đứng quan sát, ngỡ chỉ là trò tiêu khiển, giết thời gian, tôi đâu biết rằng, đó là thứ “lao động” nghiêm túc mỗi ngày của Nguyễn Văn Tĩnh trong giai đoạn ăn không ngồi rồi, chực chờ “nhảy việc”: “Cà pháo, mắm nêm, rau muống trường kỳ, ớn lắm. Nhà chủ lại không cho tăng gia, cải thiện. Em phải tranh thủ kiếm chút tươi bồi bổ quấy quá cho đứa nhỏ trong bụng mẹ”. Tĩnh - 23 tuổi, quê Ân Hữu, Hoài Ân - vốn là thợ sắt của một DN quảng cáo dưới Quy Nhơn.

Chê chỗ cũ làm ăn bết bát, cuối năm 2010, anh bỏ ngang, dắt vợ dạt lên Phú Tài, đầu quân vào Cty Trí Tín, một DN hàng “top” trong làng chế biến gỗ Bình Định. Lăn lóc bên đó chừng nửa năm thì hàng họ thưa dần, lại phủi tay ra đi. 4 – 5 tháng tiếp theo, Tĩnh làm nhân viên nhúng dầu, đóng gói, tổ bao bì, Cty TNHH XNK gỗ Hoàng Hưng, hưởng lương theo sản phẩm, làm nhiều, mỗi tháng được 3 triệu, ít hơn thì khoảng 2,4 – 2,5 triệu đồng. Chừng ấy mà căng kéo chi tiêu cho hai con người đang tuổi miệng ăn núi lở, cộng một mầm sống manh nha cần được chăm bẵm, thuốc thang.

Tĩnh bảo, hễ nhắc tới tiền nong là nhức đầu, chóng mặt. Ngành gỗ thường có quãng thời gian “nghỉ hè” 3 – 4 tháng do phụ thuộc đơn hàng từ các quốc gia nhập khẩu, nên mươi bữa nửa tháng trở lại đây, khi bật khỏi Hoàng Hưng, Tĩnh buộc phải huy động tới nguồn “bảo hiểm” tự mình lập ra phòng khi trái gió trở trời. Đó là khoản thắt lưng buộc bụng bỏ ống 200.000 – 300.000 đồng/tháng lúc công ăn việc làm còn ổn định. Vừa dè sẻn ăn lạm chút của để dành, đôi vợ chồng trẻ vừa thấp thỏm chờ đợi kết quả những chuyến săn việc: “Em muốn trở lại nghề cơ khí, đã hỏi thăm mấy chỗ nhưng chưa được chỗ nào. Thôi thì phụ hồ, tước đót gì cũng xong hết, miễn không đứt bữa là được”.

Khu trọ bà Hoa có 25 khách thuê, chủ yếu là các gia đình nhỏ như vợ chồng Tĩnh. Tôi nấn ná hơi lâu để có cơ hội “khám phá” bữa cơm được cho là thịnh soạn của cặp Đinh Văn Năm – Lê Thị Ngọc Hà. Đứa bé hơn 1 tuổi là thành viên thứ ba hiếu động và đầy háo hức. Một nồi cơm, vài lát cá ngừ kho keo, mấy mẩu khô nướng, tô canh bí nấu tôm. Có hai lý do được Năm đưa ra giải thích cho chất lượng vượt trội bất thường của bữa ăn. Một là anh vừa lãnh lương, hai là vợ từ quê ngoại Phan Thiết ra.

phong_bi_2-content

 

Năm thành thạo không kém vợ khi chiết tính chi ly bài toán chợ búa, tiêu pha: “Bữa nay được phép nới tay lên 25.000 đồng, chứ bình thường, mỗi ngày chợ chỉ 20.000 đồng thôi. Giá tăng xây xẩm mặt mày, 1kg gạo hạng bét cũng 11.000 đồng, thịt heo hơn 100.000, cá 50.000 – 60.000 đồng/kg, dầu ăn 33.000 đồng/lít. Cầm 20.000 đồng nhiều lúc cứ tha thẩn giữa chợ, không biết mua gì, ăn gì”. Thực đơn phổ thông ở nhà Năm: Sáng mì tôm hoặc cơm nguội; trưa – chiều chủ lực là cơm rau, quả trứng luộc, thêm chút canh suông cho dễ nuốt. Có miếng thịt, rẻo cá thì đó là phần đứa trẻ.

Thằng bé là niềm vui nhưng cũng là một gánh nặng: Chỉ sữa, yaour thôi, ngày cũng mất 15.000 đồng, gần bằng tiền chợ - Ngọc Hà rên rỉ. Trước, cô bấm bụng gửi con cho một nhà trẻ tư, tháng hết 500.000 đồng để đi làm cho một xưởng gỗ. Từ ngày đứa bé té ngã gãy tay, bó bột cả tháng, Hà phải bỏ việc, chấp nhận cảnh sống thiếu trước hụt sau từ khoản tiền lương 2,7 triệu đồng của Năm ở một cơ sở cơ khí.

Không tính những buổi đi làm hay ra chợ, cuộc sống những người thợ gần như chỉ loay hoay, quẩn quanh với khoảnh sân hẹp và gian phòng chưa tới 8m2 mà hằng tháng họ trả cho nhà chủ 200.000 đồng. Hà kể, buổi tối ở đây buồn lắm, phần ai nấy rút về phòng riêng, chuyện trò dăm câu ba sợi với nhau rồi tắt đèn đi ngủ. “Xóm trọ có chiếc tivi khọt khẹt nhưng coi ké miết cũng kỳ. Em ở đây hơn năm, muốn xuống Quy Nhơn một lần cho biết mà mãi vẫn chưa đi nổi”. Ý Hà muốn nói vào trung tâm TP, chứ Phú Tài, thuộc phường Trần Quang Diệu, cũng là Quy Nhơn chứ xa cách gì cho cam!


Phía trước... chưa thấy bầu trời


Từ quốc lộ I quẹo vô, chỉ một đoạn đường ngang 300m chạy lên phía Đá Đen mà san sát hơn 20 quán cơm bình dân. Công nhân đến từ các địa phương lân cận như An Nhơn, Tuy Phước, Nhơn Hội, Nhơn Hải... thường chọn qua trưa ở đó bằng suất “cơm bụi” theo nghĩa đen do sự oanh tạc liên hồi kỳ trận của những đoàn xe bạt mạng bất kể giờ giấc. Quán cơm Văn Nhàn, trưa 23.5, có tới gần trăm công nhân nhễ nhại mồ hôi, đứng ngồi nhấp nhổm quanh khẩu phần ăn khắc khổ.

Nguyễn Thị Ny (Phước Sơn, Tuy Phước) cho biết, 12.000 đồng một đĩa cơm đủ no, vài lát thịt heo xắt mỏng, cộng thêm ít măng, giá xào, chén canh lá giang vậy là chấp nhận được, còn hơn lọ mọ cơm đùm cơm bới. Ny giờ chẳng còn ruột gan nào để ý tới những bữa cơm chưa từng biết ngon ấy nữa. Đơn giản vì cô chuẩn bị bước vào kỳ “nghỉ hè” không thời điểm kết thúc. Những cuộc đi sớm về khuya trên chặng đường hơn 20km mỗi ngày sắp sửa được Ny vĩnh viễn gạt bỏ lại sau lưng. 28 tuổi, 5 năm xàng xê hết DN này đến DN khác, cô đang trở về vạch xuất phát của chính mình. Không trợ cấp, không bảo hiểm, không nghề ngỗng ra hồn. “Công việc chà nhám, đánh bóng trong xưởng thợ mịt mù bụi bặm giúp gì được cho nghiệp làm ruộng, nuôi heo của em đây”- cô gái cười buồn.

Kết cục của Nguyễn Thị Ny cũng là chọn lựa của các cặp vợ chồng Năm – Hà, Tĩnh – Diệu mà tôi đã gặp. Không ai dám mường tượng dài hơi về đời thợ của mình. Tất cả đều coi Phú Tài như chặng dừng chân tạm bợ, khi tuổi trẻ, sức vóc còn khả năng làm ra đồng tiền, bát gạo. Năm thì từ lâu đã xua đuổi ra khỏi đầu óc giấc mơ rong ruổi đường trường sau chiếc vôlăng vì không sao xoay ra tiền trang trải học phí để quay lại cuộc cự cãi nhùng nhằng, bất tận với vợ quanh chủ đề hồi hương theo quê chồng ở Phù Mỹ, Bình Định hay quê vợ tận Phan Thiết, Bình Thuận. Tĩnh thì sau giai đoạn bươn chải kiếm cơm thiên hạ mà anh ước chừng còn 3 năm nữa, “hậu vận” anh chàng sẽ được an bài bằng hình ảnh con trâu đi trước, cái cày đi sau ở miền rừng Ân Hữu ngoài kia. Đi sao, về vậy, trần trụi, trống không.

Hoàn toàn có căn cứ để nói rằng, tình cảnh những người thợ trẻ kể trên không phải là cá biệt. Họ đang đơn độc trong khó khăn chồng chất. Họ bị đánh cắp lợi ích ngay trước mặt mà không mảy may hay biết. Trừ đồng lương nhận từ giới chủ ra, họ kể chuyện không được ký hợp đồng, không có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cứ thản nhiên như là của ai khác. Một tài liệu phát hành từ Bảo hiểm xã hội Bình Định mới đây cho thấy, thoái thác nghĩa vụ với người lao động đã là căn bệnh kinh niên và chưa có thuốc đặc trị. Có rất ít doanh nghiệp miễn nhiễm trước sự tràn ngập của căn chứng trầm kha này. Chỉ riêng Khu công nghiệp Phú Tài, con số công nhân – nạn nhân - đã lên đến hàng vạn.

BVN-TH


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 5780)
Điều này tôi đã có lời thưa với bạn đọc ở đầu sách
19 Tháng Hai 201412:00 SA(Xem: 6971)
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam
25 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 9644)
Giờ đây các quý bà đã không còn phải tị nạnh với cánh mày râu khi đã có dịch vụ massage yoni chỉ phục vụ riêng chị em.
17 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 12959)
Hồi ở tuổi 15, tôi có đọc được một số thơ của tác giả Huy Phương đăng trên tuần báo “Đời Mới” ấn hành tại Sài Gòn từ 1951 đến 1955, trong đó có bài thơ nhan đề “Cát Lạnh”
04 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 6767)
những người công nhân (CN) tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Hà Nội rất khó khăn và bấp bênh