DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,463,368

ĐÀ LẠT, NỖI NHỚ NGẬM NGÙI - Trần Thanh Kiều Diệp

Saturday, June 11, 201112:00 AM(View: 14725)
ĐÀ LẠT, NỖI NHỚ NGẬM NGÙI - Trần Thanh Kiều Diệp

ĐÀ LẠT, NỖI NHỚ NGẬM NGÙI

 

 Cuối tháng 3 năm 2010, nhân dịp lễ Thanh Minh (lễ tảo mộ theo phong tục cổ) tôi về quê ở Hội An bốc mộ ba tôi từ nghĩa trang thành phố về bên cạnh mộ mẹ tôi, vốn được chôn trong chùa Chúc Thánh để mấy anh chị em thực hiện được lời hứa với ông trước khi ông qua đời. Chùa Chúc Thánh là ngôi chùa đẹp cổ kính được xây dựng từ thời nhà Lê thế kỷ 16. Chùa có khu đất rộng dùng làm nghĩa trang cho các vị sư và gia đình Phật tử. Khi qua đời vào năm 1998, mẹ tôi đã được chôn cất trong khu đất nầy. Năm năm sau thì ba tôi mất, chính quyền địa phương không cho chôn ở đó nữa mà chỉ được cải táng thôi. Ba tôi được chôn tại nghĩa trang nhân dân của thành phố. Do vậy ba tôi phải chịu xa mẹ tôi trong bảy năm trời. Hoàn thành mộ phần, thắp mấy nén hương thơm cho hai đấng sinh thành xong, tôi cảm thấy trong lòng có chút thanh thản, hạnh phúc…

 

Vào lại Sài Gòn, có được mấy ngày rãnh rỗi, tôi quyết định trở về thăm lại thành phố Đà Lạt sau hơn 39 năm gặm nhấm nỗi nhung nhớ trong lòng. Đà Lạt với tôi không chỉ là một thành phố đẹp mượt mà, nhưng còn là tuổi trẻ, tình yêu, bè bạn, là những giọt mồ hôi đổ xuống trên thao trường, là nước mắt tiễn đưa những người bạn một thời đã ra đi về nơi miên viễn …

 Được một người bạn giới thiệu, tôi đến mua vé hãng xe đò Thành Bưởi, phòng bán vé ở đường Lê Hồng Phong (trước năm 75 là đại lộ Cộng Hòa, có trường trung học Petrus Ký, Đại Học Khoa Học và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn). Vé xe một chiều chỉ có 120 ngàn đồng Việt Nam. Xe được xử dụng là loại xe lớn 50 chỗ ngồi trông còn mới, có ghế nệm và máy lạnh. Mỗi đầu giờ có một chuyến đi Đà Lạt, xe chạy mất 5 giờ 30 phút và 30 phút nghỉ ăn cơm trưa. Tôi chọn chuyến 9 giờ sáng. Thấy còn sớm tôi sang quán cà phê bên cạnh gọi một ly cà phê đá ngồi nhìn ra đường, mơ màng nhớ lại thuở học trò

 

*

 

 Năm 1966, sau khi thi đỗ Tú tài 2, tôi cùng mấy người bạn quê Quảng Nam vào Sài Gòn ghi danh theo học tại Đại Học Khoa Học. Do thường ngày đi học trên con đường nầy nay trở về, lòng bỗng thấy xúc động nhớ về những kỷ niệm xa xưa. Lần đầu tiên rời nhà đi học xa lại đến thành phố lớn, thấy cái gì cũng đẹp, nhất là con gái. Hết giờ học, tôi cùng mấy đứa bạn ra ngồi ở quán cà phê “Cây dù” trong sân trường, ngẩn ngơ nhìn mấy em “ếch bò cá nai” lũ lượt ra vào (lớp SPCN – chứng chỉ Lý Hóa Sinh - với 80% sinh viên ghi danh là con gái). Một thằng bạn hứng chí ngâm “Học trò trong Quảng ra thi, thấy cô gái Huế bỏ đi không đành…” Một thằng khác nghịch ngợm hơn sửa lại “Học trò ngoài Quảng vô Nam, thấy con gái đẹp mà ham quá chời…”.Cả bọn cười ngã nghiêng vì cái giọng Quảng Nam bày đặt giả tiếng Sài Gòn của hắn. Mới đó mà đã 44 năm trôi qua trong cuộc đời dâu bể, cậu học trò ngày xưa giờ đã thành ông cụ già tóc bạc, ngồi đó bên ly cà phê, ngậm ngùi tiếc nhớ một thời trai trẻ…


da_lat_0-content

 

 Khi chiếc xe đò Thành Bưởi dừng lại vài phút cho khách xuống thị trấn Di Linh, tôi bỗng nhớ lại hình ảnh Nguyễn Đức Phương, người sinh viên sĩ quan khóa 2 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, Đại đội D, Tiểu đoàn 2, cô con gái Bắc Kỳ đẹp đến não nùng ngày nào mà tôi đã từng yêu quý. Tôi đã yêu Phương đến độ khi Phương rời sân khấu bước xuống, tôi đã muốn chạy tới ôm chầm lấy Phương, cắn vào đôi má luôn ửng hồng ấy một cái để cho Phương suốt đời phải nhớ đến tôi như Trương Vô Kỵ đã cắn vào tay Hân Ly ngày nào làm cô luôn nhớ nhung đến hắn trong tiểu thuyết kiếm hiệp “Cô Gái Đồ Long” của Kim Dung… Năm 1969 - 70, Trường tổ chức văn nghệ thi đua giữa 2 Tiểu đoàn SVSQ và Phương đã xuất sắc trong các vai giả gái. Phương lớn lên ở Di Linh, có làn da trắng hồng, thân hình thon thả như con gái, đẹp dịu dàng. Chắc Phương bây giờ không còn là Phương con gái nữa mà đã là Phương bà cụ rồi. Nhắc đến Phương, tôi không khỏi chạnh lòng nhớ đến Trần Ngọc Hoàn và Đào Quang Hùng, hai người tài hoa bạc mệnh của khóa 2. Xe chạy qua thị trấn Di Linh chỉ mấy phút nhưng cũng đủ cho tôi quan sát cái “thị trấn buồn thiu” nầy và cảm thấy tội nghiệp cho em Phương của tôi, suốt ngày bán buôn kiếm sống, quanh quẩn tới lui trong cái thị trấn đất đỏ buồn hiu hắt như mùa thu lá bay nầy. Giá như hôm trước không quyết định đi xe đò mà thuê xe du lịch đi Đà Lạt thì chắc là tôi phải ghé lại Di Linh vài giờ để thăm Phương. Tôi thầm tiếc rẽ, thôi hẹn lần sau nếu còn có dịp nào đó Phương ơi…

 

 Xe lên đèo Prenn, tôi ngạc nhiên thấy không có gì thay đổi mấy. Cũng con đường nho nhỏ tráng nhựa với mỗi chiều một làn xe, lượn lờ qua những đồi thông chập chùng nỗi nhớ và những giòng thác bạc trắng mái đầu …Từ đỉnh đèo nhìn xuống, trông thấy rất rõ những đồi thông trùng điệp và những trang trại nuôi bò, nuôi ngựa rải rác phía dưới. Tôi bỗng thấy tiếc trong lòng, giá như được ở trên đèo Prenn vào buổi sáng sớm khi trời đất còn đầy sương, mơ màng nhìn xuống thung lũng mù sương ấy, để tưởng mình là Lưu Nguyễn lạc lối Thiên Thai, đang hồi hộp đợi chờ Tiên nữ mở cửa động đón vào. Hay là chàng hiệp sĩ già, đã xuống núi từ 39 năm trước mang kiếm cung đi hành hiệp đạo nghĩa giang hồ, nay thua trận trở về quỳ trước cửa động, hỗ thẹn trong lòng chờ nghe lời trách phạt của thầy…

Ôi, thế mà đã 39 năm trôi qua, một khoảng thời gian dài hai phần ba của một đời người, một cuộc đời gian khổ chiến chinh, tù đày lưu lạc…

 

 Xe ngừng lại đổ khách xuống đường Phan Bội Châu, gần chợ Hòa Bình. Tôi xuống xe, đưa mắt nhìn quanh một vòng và mừng rỡ nhận ra quán cà phê Tùng vẫn còn đó ở phía bên kia. Băng qua đường, tôi vào cà phê Tùng chọn một bàn nhỏ trong góc quán ngồi xuống, châm điếu thuốc sau khi gọi một tách cà phê sữa và chợt xúc động khi nghe lại bản nhạc “Lá đổ muôn chiều” của Đoàn Chuẩn và Từ Linh qua tiếng hát Lệ Thu. Bài hát nầy thỉnh thoảng tôi vẫn được nghe, nhưng tôi chưa bao giờ thật sự xúc động đến nghẹn ngào như hôm nay khi ngồi trong quán cà phê Tùng nghe lại Lá Đổ Muôn Chiều.

 

*

 

 Đầu năm 1969, sau giai đoạn huấn luyện tác chiến 9 tuần lễ tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung tại Sài Gòn, các khóa sinh dự bị sĩ quan như chúng tôi được đưa lên Trường đại học CTCT Đà Lạt để theo học trong hai năm và khởi đầu là 8 tuần lễ huấn nhục. Không nói thì ai cũng biết tân khóa sinh của một quân trường đào tạo sĩ quan hiện dịch trong giai đoạn huấn nhục khổ sở như thế nào rồi. Mỗi buổi trưa khi tân khóa sinh vào ăn cơm tại nhà ăn (phạn xá) thì có ai đó cứ mở bản nhạc Lá Đổ Muôn Chiều với tiếng hát Lệ Thu. Tôi vừa cố ăn cơm thật mau trong tiếng hò hét của cán bộ huấn nhục, vừa âm thầm ứa nước mắt. Phải nói rằng Lá Đổ Muôn Chiều buồn chết người nếu được nghe tại nhà ăn Đại học CTCT Đà Lạt trong mùa huấn nhục. Từ một sinh viên đời thường lè phè, lãng mạn với những mối tình nhí nhãnh tuổi học trò bỗng chốc trở thành người lính quần quật suốt ngày, bị phạt nhảy xổm, hít đất mỗi giờ và những đêm dã chiến bị hành hạ đến chết đi sống lại… “ngày mai người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa tình duyên đành dứt…. Có những đêm về sáng đời sao buồn chi bấy cố nhân ơi…” Sau nầy tôi được biết người cho mở Lá Đổ Muôn Chiều trong phạn xá để cho tân khóa sinh chảy nước mắt là Thiếu tá Nguyễn Văn Quý, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1.

 

da_lat2_1

 

 Tôi tìm một khách sạn nhỏ để ngủ qua đêm nhưng suốt đêm cứ thao thức trằn trọc vì nhớ lại các cụ già bảy tám mươi tuổi vào ra quán cà phê Tùng để mời khách mua vé số, chầu chực hàng giờ để kiếm lời vài ngàn bạc. Tôi bâng khuâng tự hỏi trong số các ông cụ, bà cụ nầy có bao nhiêu người đã cống hiến đứa con trai yêu quý nhất của mình cho Tổ Quốc Việt Nam…

 Buổi sáng tôi gọi xe taxi chạy đến trước trường nữ trung học Bùi Thị Xuân và buồn rầu nhận ra tất cả đã thay đổi. Nhà cửa xây dựng san sát nhau và tất cả mọi nhà đều là cửa hàng buôn bán. Tôi cố nhìn qua các căn phố lầu mong thấy được Vũ đình trường, mãnh đất mà tôi và bè bạn đã từng quỳ xuống thề trung thành với Tổ Quốc trong ngày lễ mãn khóa hơn 39 năm về trước, nhưng không sao thấy được vì bị nhà cửa che lấp. Tôi ngồi xuống bên gốc thông già, đưa mắt nhìn về phía bên kia nơi có ngôi trường Đại học CTCT thân yêu ngày nào, ngậm ngùi nhớ những vọng gác chung quanh.


 

da_lat_1-thumbnail

 

Anh Đào, Bạch Cúc, Hải Yến, Hải Điểu, Phượng Hoàng…mà những SVSQ ôm súng ngồi gác giặc hàng đêm trong những cơn gió lạnh tái tê và sương mù dầy đặc. Có ai trong những đêm ôm súng ngồi gác giặc ấy mà lại không mơ về một Quê Hương thanh bình để mọi người dân đất Việt được sống trong êm ấm, tự do. Tôi xót xa nhớ lại những bè bạn đã vĩnh viễn nằm lại ở đây tháng 4/70 Nguyễn Văn Anh, Hoàng Hữu Cung, Tạ Cự Hãn, Nguyễn Đình Phú, Vũ Đức Thăng …và hàng trăm bạn cùng khóa khác đã ngã xuống trên khắp các chiến trường mọi miền đất nước. Tôi nhắm mắt hình dung lại cảnh dập dìu người yêu, bạn bè thân quyến của SVSQ ra vào nhà tiếp tân trước cổng Anh Đào vào chiều thứ bảy và từng đoàn SVSQ trong quân phục dạo phố Jaspé hay Worsted rộn ràng ra phố ngày Chủ nhật. Chưa bao giờ tôi thấm thía mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan như lúc nầy :

“ Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương ”

(Thăng Long Hoài Cổ - Bà Huyện Thanh Quan)

dh_ctct

 

 Tôi quan sát trường nữ trung học Bùi Thị Xuân và nhận ra khu vực trước sân trường đã bị lấn chiếm để xây dựng nhà cửa, chỉ còn một khoảng trống đủ để thấy được cái bảng tên trường. Có lẽ cái mộng mơ phải chịu nhường chỗ cho cái thực tế cần kiếm sống của con người! Ngôi trường nầy có rất nhiều kỷ niệm đối với SVSQ Đại học CTCT. Ngoài những lúc co ro ngồi ôm súng trong những đêm ứng chiến, hay những giấc ngủ chập chờn trên những chiếc bàn học trò ghép lại, nhiều bạn đã yêu thương và lập gia đình với nữ sinh của trường và cho đến bây giờ khi hai mái đầu đã bạc, họ vẫn quấn quít bên nhau chia xẻ bao cay đắng ngọt bùi. Tôi không còn nhận ra ngôi nhà Trinh ở trọ ngày xưa khi còn theo học ở Đại học Chính Trị Kinh Doanh dù trước đây nó nằm ngay phía trước cổng trường Bùi Thị Xuân. Có những đêm ứng chiến chưa tới phiên gác, tôi lặng lẽ đến bên ngoài cửa sổ nhìn vào trong lúc Trinh cặm cụi học bài, lòng thầm mong Trinh học giỏi tốt nghiệp và kiếm được việc làm trong ngành ngân hàng như Trinh thường mơ ước và không dám nghĩ thêm nữa …“Lấy chồng đời chiến binh, mấy người đi trở lại và lỡ khi mình không về …” (Màu Tím Hoa Sim - thơ Hữu Loan)

 

 Tôi đến hồ Xuân Hương để thăm qua một chút dù đã biết hồ đang trong thời kỳ nạo vét, thầm mong rằng tin tức mình được biết đã cũ và bây giờ hồ đã khang trang trở lại.Tôi lại thất vọng vì hồ vẫn chưa có nước, công trình vẫn đang còn dang dở, đáy hồ nằm trơ ra ngổn ngang đất đá và cỏ dại mọc đầy. Giá như được đến đây khi hồ Xuân Hương còn nguyên vẹn, để ngồi bên bờ hồ nghe tiếng những cây liễu rũ đang thì thầm thở than cùng gió, hay vào nhà Thủy Tạ gọi một tách cà phê, dõi mắt nhìn theo những con sóng lăn tăn cho đến khi trời tối để nhìn sương chiều rơi nhè nhẹ trên mặt hồ, ngắm những giọt sương long lanh đọng lại trên những cành liễu ven hồ đang nhỏ những giọt nước mắt tiếc thương những người bạn một thời chinh chiến đã ra đi... và thầm hỏi : “những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ ”

(Ông Đồ - Vũ Đình Liên)

 

Tôi đi thăm vài chỗ khác như khu du lich thác Prenn, Trúc Lâm Thiền Viện, vườn hoa Đà Lạt, Thung lũng tình yêu (vallé d’amour) nhưng ở đâu tôi cũng chắng thấy có gì vui nên đã quyết định trở về lại Sài Gòn sớm hơn dự định một ngày vì buồn rầu nhận ra Đà Lạt bây giờ không phải là Đà Lạt của tôi ngày nào nữa rồi.

 

 Trên chuyến xe đò trở về khi lên đèo Prenn, tôi chợt nhận ra mình chỉ là Từ Thức nay trở về trần thì mọi sự đã đổi thay. Đà Lạt của tôi ngày nào giờ chỉ còn lại trong nỗi nhớ ngậm ngùi….

 


Viết tặng tất cả bạn bè cùng Khóa 2/SVSQ/ĐH/CTCT Đà Lạt (1968-1971)

NT2 Trần Thanh Kiều Diệp

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, February 25, 20215:05 PM(View: 80)
Nói đến thơ Nguyễn Lương Vỵ trước tiên tôi hình dung khối lượng thơ khổng lồ của anh. Làm thơ từ thuở bé và xem thơ như thứ nghiệp dĩ cuộc đời thử hỏi đến tuổi gần bảy mươi, sự nghiệp thơ của Nguyễn Lương Vỵ không thể đề cập đến kiểu bài thơ này hoặc tập thơ kia mà phải nói tầm vóc một đời thơ, một gia sản thi ca ấy như thế nào? Và có nói như thế cũng chỉ là gượng ép bởi muốn nói như thế, ít ra bạn phải mất nhiều thời gian để đọc hết các tập thơ của anh. Tôi đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ từ thuở còn là một sinh viên văn khoa năm thứ nhất. Lúc bấy giờ thơ anh đăng trên tạp chí Khởi Hành hoặc Văn. Tôi thích thơ anh ngoài bản thân yêu thơ, tôi còn là người luôn cổ xúy tinh thần văn nghệ của thế hệ trẻ miền Trung (đầu thập niên 1970) mà lúc bấy giờ dường như trăm hoa đua nở. Đến khi tham dự quân sự học đường khóa đầu tiên, tôi gặp anh qua một người bạn học miền Trung. Cũng khá đặc biệt là tôi cùng người bạn đến thăm anh tại bệnh viện Sùng Chính. Nguyễn Lương Vỵ bị thương do xô xát với quân cả
Wednesday, February 24, 202110:52 AM(View: 88)
Từ đầu đến cuối, già 400 trang sách, tiểu thuyết “Đất mồ côi”[1] mô tả đầy rẫy những cái chết. Chết đơn chết chùm. Chết cá nhân chết nhóm. Chết trong các phong trào chính trị – xã hội, chết trong chiến tranh. Chết xưa chết nay. Chết Nam chết Bắc… Đây là một tiểu thuyết dành để nói về cái chết. Thật thế. Đến nỗi một nhà thơ, bạn tôi (mà không chỉ bạn tôi) quả quyết rằng cái tên tiểu thuyết “Đất mồ côi” lẽ ra phải là “Đất chết” thì mới thâu tóm chính xác được tinh thần của tác phẩm này. Cái chết chính là kết quả, đồng thời là hiện thân của BẠO LỰC. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về bạo lực, thứ bạo lực tác oai tác quái, hoành hành công khai, trắng trợn trong suốt lịch sử người Việt. Có thể hình dung mấy loại cái chết. Loại đầu tiên là cái chết do định kiến xã hội. Những lớp người mang bệnh hủi đi qua ngôi làng bị dân làng chôn sống. Mở đầu tiểu thuyết, tác giả dựng lên khung cảnh những người hủi bị giết chết, và cả người đàn ông kỳ dị chăm sóc đoàn người hủi mang dán
Sunday, February 21, 20218:37 AM(View: 134)
Chưa bao giờ câu ca dao ấy lại đúng hơn thế và cho ta lời khuyên đúng đắn, thiết thực nhất trong mùa đại dịch này. Cho dù tháng Giêng có “là tháng ăn chơi”, như một câu ca dao khác, thì cũng chỉ nên “ăn” và “chơi” ở trong nhà hoặc “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” hơn là du Xuân đến những chốn lao xao hội hè, đình đám. Một trong những “chốn vắng” ấy là dạo chơi trên cánh đồng thơ mùa xuân để hái về những bông hoa tươi thắm là những bài thơ, câu thơ tháng Giêng khoe sắc trong nắng xuân. Thơ hay, một đôi câu cũng hay. Những câu thơ trích dẫn trong bài này chỉ là tiện tay gặp đâu ghi xuống đó, không phân biệt, phân loại thơ cũ thơ mới, thơ già thơ trẻ, thơ ngoài Bắc thơ trong Nam, thơ ngoài nước thơ trong nước. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ. Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần (“Vội vàng”, Xuân Diệu) Câu thơ cũ nhưng vẫn cứ mới như mùa xuân chẳng bao giờ cũ, chẳng bao giờ già. “Tháng Giêng ngon”, không mới sao? Chẳng biết chơi Xuân, ăn Tết ngon, dở thế nào nhưng cứ
Sunday, February 14, 20218:56 AM(View: 235)
Thằng Nhớ giật mình tỉnh giấc khi nghe tiếng bà ngoại đang la cái gì đó ở ngoài sân. Ánh nắng xuyên qua khe hở của cửa sổ phết thành một vệt dài trên nền nhà. Nhớ đưa tay giụi mắt, vươn vai mấy cái. Nó bước xuống giường, vén mùng lên, xếp mền gối thật lẹ rồi bươn bả bước ra nhà sau xem có chuyện gì. Đứng gần bờ ao, bà ngoại đang nói thao thao, một tay chống nạnh, một tay chỉ trỏ, coi bộ giận dữ lắm. Thấy Nhớ ra, bà lại càng cao giọng như để phân bua: – Thiệt là quá sức chịu đựng rồi! Ai đời quần áo buổi tối còn phơi đầy một dây mà sáng ra mất ráo trọi. Thằng ăn trộm nào mà cả gan chọc tới nhà này vậy không biết! Nhớ hoảng hồn: – Mất quần áo hả ngoại? Còn bộ quần áo mới để mặc Tết của con ngoại giặt cho ra hồ đâu? Cũng mất luôn chớ gì? Bà ngoại thở ra: – May là ngoại giặt hôm bữa, thâu vô rồi. Lần này là lần thứ ba đó. Mất ba con gà tuần trước, rồi hôm kia mất thêm cái nồi đồng nữa. Điệu này chắc nhà mình hết ăn Tết quá! Ông ngoại đang ngồi đan rổ ở hàng hiên sau, cất giọng
Friday, February 12, 20219:47 AM(View: 253)
Ông Địa là người mang lại cái Tết cho mọi người. Giữa tiếng trống tiếng chiêng nhộn nhịp, ông nhảy múa với khuôn mặt không bao giờ tắt nụ cười. Tôi chưa bao giờ thấy ông Địa không cười. Nụ cười của ông không chỉ là nụ cười cứng ngắc trên mặt nạ mà còn hiển hiện trong bộ quần áo xanh đỏ lộn xộn, cái bụng phệ cố hữu và, nhất là điệu nhảy tung tăng với chiếc quạt bên những chú lân và những tràng pháo đang nhoáng lửa nổ vang lừng. Trong đoàn lân ngày tết, “nhân vật” nổi bật nhất dĩ nhiên là lân. Ngày xưa chỉ có một cặp lân, con đực là kỳ, con cái là lân. Ngày nay lân cũng như người, bị nạn nhân mãn nên có cả bày lân. Con xanh con đỏ, con trắng con vàng, hoa cả mắt. Bên cạnh lân là ông Địa. Ông này thờ chủ nghĩa độc thân nên xưa hay nay cũng vậy, cứ mình ên múa lung tung. Trẻ em thường khoái ông Địa. Nhạc sĩ Vũ Hoàng có bài hát “Bé Thương Ông Địa” nói lên sự yêu mến này: Ơi ông Địa có cái bụng ngộ ghê, Cầm cái quạt ông nhảy múa say mê. Ơi ông Địa có gương mặt thật duyên. Ông mãi cười