DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,374,134

Đi tìm tác phẩm đầu tay - Viên Linh

Sunday, August 23, 201512:00 AM(View: 5994)
Đi tìm tác phẩm đầu tay - Viên Linh

Đi tìm tác phẩm đầu tay


 

Đi tìm tác phẩm đầu tay của một tác giả vốn là thú chơi của tôi trước các danh mục thư tịch từ bao lâu nay. Với đa số những nhà văn tên tuổi, tác phẩm đầu tay chính là tác phẩm nòng cốt của họ, nhưng với một số người khác, cả đời cầm bút mà chỉ đến một lúc nào đó họ mới nổi tiếng, thì tác phẩm đầu tay có khi lại là đứa con mà họ không yêu mến bao nhiêu, nếu không muốn nói là muốn quên đi, muốn không ai nhắc đến nó nữa.

 

blank
Bảng đồ biểu danh sách các tác phẩm đầu tay của một số nhà văn miền Nam, kể từ 1954. Tài liệu trong cuốn “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam, 1954-1975” dự thảo của Viên Linh nộp cho quỹ học bổng The Ford Foundation, New York, 1976.

 

Tác phẩm đầu tay của một đời cầm bút, dù muốn hay không muốn nói đến, vẫn là một kho tàng, một hầm mỏ, một nơi chốn một căn nguyên, như loài thú có hang, chim muông có tổ, cuối cùng thì chính nơi đó người ta sẽ tìm thấy diện mạo nguồn gốc một sinh vật. Còn nhớ trong những tờ báo tôi trông coi, đã nhiều lần vấn đề tác phẩm đầu tay được đặt ra, được dùng làm đề tài để viết, hay để phỏng vấn các nhà văn nhà thơ. Khoảng 1976 ở Hoa Kỳ, nhân có mấy đại hội về Việt học, các cuộc thảo luận về Văn Học Miền Nam, tôi đã viết một bài nghiên cứu khá dài về “tác phẩm đầu tay,” đã dùng nó làm chương đầu cho cuốn sách nghiên cứu lúc bấy giờ. Trong tình trạng chân ướt chân ráo, bài viết chỉ là sơ khai, một phần vì thiếu tốn tài liệu, một phần vì thời giờ cấp bách, cuộc định cư chưa yên ổn, bảng danh sách hoặc thiếu sót, hoặc có sai lạc. Dù sao, đã gọi là đầu tiên thì đương nhiên là không thể viên mãn, chỉ có ý nghĩa lót đường, đặt lối, những tiếp theo không lệch ít thì lệch nhiều, dù thế nào nó cũng vẫn là thứ nhất.

Văn Học Miền Nam bắt đầu từ chia cắt đất nước 1954 khác hẳn nền văn học cố thổ từ thời Gia Định Báo, ra ngày 15 tháng 4, 1865, dĩ nhiên nền văn học ở trong Nam đã có lâu trước đó nữa, nhưng nếu muốn đi tìm những cái ban đầu thì dù muốn dù không vẫn phải nêu ra những dấu mốc mà ta còn tìm lại được, cái đúng có khi chỉ là khái quát, gần gần như thế, nhưng dù chưa đúng hẳn thì nó cũng vẫn giúp người ta một cái mốc thời gian để mà nói chuyện. (1) Báo chí thời chia cắt 1954 có những tờ như Tự Do, Ngôn Luận, Sáng Dội Miền Nam, Chỉ Đạo, báo Bắc, trong khi miền Nam đã tồn tại từ lâu các báo danh tiếng của địa phương với những tờ báo, những nhà xuất bản qui tụ quanh những tên tuổi như Nguyễn Văn Bá, Diệp Văn Kỳ (2), Nam Đình, Trần Văn Ân, Nguyễn Đức Nhuận Bút Trà, Trần Tấn Quốc, Bình Nguyên Lộc, v.v... với những tờ Đồng Nai, Thần Chung, Đời Mới, Nhân Loại, Tiếng Đội, Saigon Mới,... (3).

Một bảng đồ biểu đã được người viết bài này thành lập từ lâu, chủ ý để giúp người đọc có một cái nhìn tổng quát, căn cứ vào danh sách các tác phẩm đã xuất bản từ trước 75 đã được lưu trữ tại thư viện Đại Học Cornell tại tiểu bang New York và Bản Thư Mục tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ mà chúng tôi được tặng từ năm 1976. Đây là danh sách văn xuôi, danh sách thơ, các thi phẩm, lại khác nữa. Cùng một tác giả, có người in thơ trước hai ba năm, có người in văn trước, tùy theo hoàn cảnh. Thời gian xuất hiện tác phẩm đầu tay rất quan trọng, nhiều khi nó khiến cho một tác giả bị nhìn sai lệnh, bị xếp hàng thiệt thòi, hay may mắn. Thanh Tâm Tuyền là người may mắn hơn cả khi in cả thơ lẫn văn, Tôi Không Còn Cô Độc (thơ, 1956) và Bếp Lửa, (văn, 1957) đều vào lúc còn quá trẻ: 19 và 21 tuổi, vì ông sinh năm 1936. Người viết bài này in thơ Hóa Thân vào lúc 26 tuổi (1964) và in văn, Thị Trấn Miền Đông năm 1966, 28 tuổi. Nhưng Mặc Đỗ còn chậm hơn, năm 1957 mới in cuốn Bốn Mươi, trong khi ông sinh năm 1917: 40 tuổi mới in tác phẩm đầu tay. Lẽ ra ông sẽ được xếp vào bộ Nhà Văn Hiện Đại hay Thi Nhân Việt Nam của Vũ Ngọc Phan hay Hoài Thanh như Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, vì cả ba xít soát tuổi nhau, Vũ Hoàng Chương sinh 1916 và Đinh Hùng 1920. Cho nên in tác phẩm càng sớm càng tốt, in muộn bao nhiêu sẽ thiệt thòi bấy nhiêu, trong việc sắp xếp danh mục chẳng hạn. Nhưng in ít in nhiều không thay đổi giá trị một nhà văn nhà thơ: có người in mỗi năm một tập thơ, một cuốn truyện, mà không át được những người cả đời chỉ in một hai cuốn thơ. Hải ngoại ai nổi tiếng hơn Tô Thùy Yên hay Cung Trầm Tưởng về thơ? Cả hai ông tới nay mỗi người mới in hai tập thơ, ấy là chưa nói họ nổi tiếng cả chục năm trước khi chưa in một cuốn thơ nào. Tô Thùy Yên chỉ ra được tác phẩm đầu tay ở hải ngoại. Những người này hẳn là đã không thấy việc in tác phẩm đầu tay là quan trọng. Có người sau khi ra thơ, ra văn, lại còn tạc tượng, đánh đàn. Cũng đừng tưởng làm thơ viết văn không nổi tiếng, xoay ngang ngọn bút làm ngự sử văn đàn chê bai hay tâng bốc người khác, thì sẽ đạt được điều đêm ngày mòn mỏi tâm nguyện. Có cậu còn khen cả vợ nhà văn để dễ đạt sở nguyện hơn, nhưng rồi hổ danh nơi miệng thế, khen bà ngược xuôi Sài Gòn giật hụi tựa cái bôn ba tần tảo nuôi chồng nuôi con của danh sĩ non Nam sông Vị, chỉ tổ ghi thêm cái bẽ bàng vào văn nghiệp.

Thành ra, như đã nói ở trên, nên in tác phẩm sớm một khi cứ để đấy. Có mà để đấy, mà không sửa nữa thì nên in là hơn.

Một điều nho nhỏ, có thể là đúng với nhiều người: nhân vật nữ của một nhà văn nam trong tác phẩm đầu tay có lẽ thường là hình bóng họ thao thức trong nhiều năm. Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng khi làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn đã hỏi tôi về các nhân vật nữ của tôi, bài phỏng vấn đăng ra năm 1972, như dưới đây (khi phỏng vấn, Nguyễn Xuân Hoàng ký tên Nguyễn Nam Anh):

“N.N.A. - Ông yêu nhân vật nào nhất trong những nhân vật ông đã sáng tạo? 

V.L. - Trong hầu hết các truyện dài của tôi, đều có một người đàn bà tên Liên. Tôi yêu nhân vật này nhất, ông muốn biết tại sao? Đó là người tôi chưa bao giờ gặp. Có điều mỗi khi cầm bút để khởi đầu một cuốn truyện dài, tôi đều thấy thấp thoáng bóng ma đó. Bóng ma, chữ này có đúng để nói đến một ám ảnh chăng?

N.N.A. - Ám ảnh gì thế, thưa ông?

V L. - Hạnh phúc. Nàng luôn luôn là người đi tìm hạnh phúc.

N.N.A. - Liên xuất hiện trong hầu hết các truyện dài của ông, nhu thế có nghĩa là nàng sẽ còn có dịp xuất hiện nữa?

V.L - Đúng như thế. Tôi chưa bao giờ thấy nàng tìm được hạnh phúc cả. 

N.N.A. - Trong thơ, ám ảnh của ông có lẽ là Cúc Hoa?

V.L. - Cảm ơn ông, đúng như vậy.

N.N.A. - Vậy thì Cúc Hoa là ai?

V.L. - Chắc ông có đọc Phạm Công Cúc Hoa? Cúc Hoa cũng không ngừng đi kiếm tìm hạnh phúc. Nàng đã tới địa ngục để tìm nữa. Nàng là một thứ hạnh phúc địa ngục.

Từ năm 1962, tôi đã khởi viết lại một thứ Phạm Công Cúc Hoa mới, song chưa đi đến đâu. Tôi chỉ mới làm được những bài Cúc Hoa rời rạc (khoảng 20 bài), một phần đã đăng báo, hoặc in trong tập Hóa Thân, như ông biết.” [Tạp chí Văn, số 198, 3.1972]. Thật ra, Cúc Hoa là cái bóng hạnh phúc của người tình.

Cúc Hoa

Gù lưng nghĩ một canh trường
Ở không cũng động muôn phương cõi này
Ảm ầm mưa đổ bên tai
Cúc Hoa, anh ngủ nghìn tay kéo đầu.

Gù lưng tính chuyện nông sâu
Tóc ta rơi rụng hồ châu lệ người
Đầm đầm máu nhỏ thân tươi
Cúc Hoa, em ngủ quên đời quạnh hiu.
Gù lưng đến xứ tiêu điều
Hai vai ác quỉ trong chiều thánh ca
Nơi đây trời rộng cây già
Cúc Hoa, thân thể quê nhà đã tanh.

(Cúc Hoa-Hóa Thân, Viên Linh)

Thiên Địa Ca

Về trong cuộc sống hôm nay
Nghe chân bước chậm nghe tay vội vàng
Đây rồi chặng cuối dương gian
Kiếp xưa muôn tội, thiên đàng một xa.
Năm năm tôi mỏi tôi già
Cây xuân chửa nụ tàn ma ít nhiều
Đỉnh trời độc nhỡn nom theo
Chàm lưng dấu mụ còn đeo mỗi giờ.
Về trong cuộc sống tiêu sơ
Vôi tô sắc diện son mờ tuổi xuân
Thôi còn nhất điểm lương tâm
Khuya nay gầy mối tình chân với đời.
Thiên cùng địa tận về thôi
Ở đây trời đất và tôi một người.

(Dư Tập. VL)


Viên Linh

(từ: NV)


Ghi chú:

(1) Huỳnh Văn Tòng, Lịch Sử Báo Chí Việt Nam, Trí Đăng, Sài Gòn khoảng 1973.

(2) Hồ Hữu Tường, 41 Năm Làm Báo, Đông Nam Á, Paris 1984.

(3) An Khê, 25 Năm Vinh Nhục Trong Làng Báo Việt Nam trước 1975, Võ Đức Trung, Haubourdain, Pháp 2013.




*

 


Mời đọc Quảng cáo


Mua Bán Nhà

 

 


L/l: Marvin Tran

(714) 768 - 8810




blank

 


Nha Khoa

 


blank