DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,910,426

NGUYỄN LƯƠNG VỴ - ĐỌC LẠI "MẪU HỆ" - NỖI ĐAU CÒN ĐÓ

18 Tháng Chín 201512:00 SA(Xem: 5183)
NGUYỄN LƯƠNG VỴ - ĐỌC LẠI "MẪU HỆ" - NỖI ĐAU CÒN ĐÓ

ĐỌC LẠI "MẪU HỆ" - NỖI ĐAU CÒN ĐÓ



mau_he

 

Đầu thu năm nay, nhân một buổi hẹn cà phê, nhà văn Trần Yên Hòa đã ký tặng tôi cuốn sách của anh ấn hành cách nay trên 10 năm, truyện dài "Mẫu Hệ" (NXB Thế Kỷ, California, 2004) với câu nói rất chân tình: "Sách in đã lâu, chỉ còn ít cuốn, gửi tặng Vỵ đọc cho vui."

Vốn là người đồng hương, quen biết nhau đã lâu, nay lại gặp nhau ở xứ người, càng quí trọng hơn vì ngoài cái tình văn chương, còn là tình anh em, thông cảm và chia xẻ cho nhau về những bi kịch của cuộc đời. Với tôi, Trần Yên Hòa thuộc thế hệ đàn anh, làm thơ viết văn từ cuối thập niên 60' thế kỷ 20, và cho đến nay, trải qua nhiều thăng trầm bể dâu, anh vẫn giữ được tình yêu bền lâu với văn chương bằng bút lực và sức sáng tạo mạnh mẽ.

 

Tôi đọc "Mẫu Hệ" một cách chậm rãi và liên tục bởi sự cuốn hút của cốt truyện. Ngay đầu sách, tác giả ghi mấy giòng khiêm tốn trong "Lời Mở":

 

"ngó đất ngó trời

ngó trước ngó sau

ngó trên ngó dưới

ngó quanh ngó quẩn

động lòng viết chơi

truyện là hư cấu"

 

Tiếp theo, tác giả lại thêm: "Mọi nhân vật, không gian, thời gian trong truyện đều là sản phẩm của tưởng tượng"

 

Đó là cách nói cẩn trọng và tự trọng của nhà văn. Văn chương, dẫu là sản phẩm của hư cấu, tưởng tượng, cũng phải dựa vào hiện thực sinh động của cuộc sống, cùng với trải nghiệm, cảm nhận, cảm xúc của tâm hồn mình thì mới trở thành văn chương được.

 

Cảm nhận đầu tiên của tôi khi đọc xong trên 400 trang của "Mẫu Hệ" là: Tác giả đã làm tròn vai trò là người dẫn chuyện, với tư cách là một nhân chứng của một giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của miền Nam. Truyện xảy ra kể từ sau biến cố 30.4.1975 cho đến khi có chương trình "Ra đi có trật tự" (Orderly Departure Program - Viết tắt là ODP), còn gọi là chương trình "Tái định cư nhân đạo" (Humanitarian Resetlement Program - Viết tắt là HR. Trong đó, có chương trình Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program - Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo - Viết tắt là HO) của Hoa Kỳ, được khởi sự vào đầu tháng 1.1980.

 

Cặp nhân vật chính của truyện là vợ chồng Nại Hiên và Soại. Trước 30.4.1975, Nại Hiên đã tốt nghiệp đại học sư phạm, trở thành cô giáo trung học đệ nhi cấp; Soại là sĩ quan cấp úy của quân lực VNCH. Truyện như những thước phim quay chậm về cuộc "di tản" khốc liệt, bi thương của người dân miền Trung kể từ những tháng đầu năm 1975, lúc quân đội cộng sản miền Bắc khởi động tấn công Tây nguyên (chủ yếu là Pleiku, Buôn Mê Thuột). Giữa tháng 3.1975 các tỉnh đầu giới tuyến của miền Nam như Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng bi thất thủ... rồi miền Nam đã hoàn toàn bị nhuộm đỏ kể từ ngày 30.4.1975.

 

Từ miền Trung, Nại Hiên cùng ba đứa con nhỏ, đã theo đoàn người "di tản" vào Sài Gòn trong những ngày lửa đạn khủng khiếp ấy, để rồi sau 30.4.1975, Nại Hiên cùng 3 đứa con nhỏ phải đành lòng rời xa Soại về lại quê nhà để có nơi nương tựa. Soại phải ở lại Sài Gòn để chờ ngày trình diện "học tập cải tạo" theo lệnh của chế độ mới, "chính quyền cách mạng", "bên thắng cuộc"!

 

Nại Hiên trở về quê nhà với hy vọng sẽ được lưu dụng lại nghề dạy học ở trường cũ. Một cô giáo trẻ, tuổi chưa đầy 30, một nách 3 đứa con còn nhỏ dại, phải hứng chịu biết bao nghịch cảnh, nhất là chính sách phân biệt đối xử của cái gọi là "chủ nghĩa lý lịch" bất nhân từ chủ trương của "chính quyền cách mạng", đối với công chức, sĩ quan "chế độ cũ". Mặc dầu phải ráng nuốt nhục, im miệng chịu đựng, hầu mong được trở lại nghề cũ, dạy học nuôi con, nhưng mọi cố gắng để vượt qua số phận của Nại Hiên cũng đành thúc thủ buông tay. Cô giáo ngày xưa buộc phải bỏ nghề sư phạm, lao vào cuộc mưu sinh mới, với cái nghề rất lạ lẫm với chính mình: Buôn bán! Rất lạ lẫm nhưng Nại Hiên cũng đành nghiến răng chấp nhận vì cuộc sống của 4 mẹ con.

 

Soại ở lại Sài Gòn và ngày trình diện "học tập cải tạo" đã đến. Soại cứ tưởng cuộc trình diện này, nếu có "học tập cải tạo" thì chỉ trên mươi ngày là xong, theo thông báo của "chính quyền cách mạng", nhưng sự thật không phải vậy. Anh và các bạn cùng cảnh ngộ như anh đã đi tù thật sự chứ không phải là "học tập cải tạo" như anh nghĩ một cách đơn giản. Anh chỉ biết chấp nhận số phận nghiệt ngã như tất cả đồng đội của anh. Những người tù không có án lệnh của tòa, nên cũng chẳng biết được thời gian mãn hạn tù, chỉ biết đẩy đưa theo số phận. Soại ở tù trên 3 năm thì được tha. Anh thầm cám ơn số phận đã mỉm cười với mình, sớm được trở về sum họp với vợ con.


bk_2

 

Nhưng... Đằng sau chữ nhưng lại là nỗi đau dằn xé khôn nguôi trong lòng Soại. Với xã hội, một sĩ quan trẻ đầy hoài bão cho tương lai của ngày xưa, nay đã trở thành một người tù, một người "có tội với nhân dân", một "ngụy quân" bị "bên thắng cuộc" phỉ báng, phân biệt đối xử thô bạo, tuy đã "được cách mạng khoan hồng" trả tự do, nhưng phải sống trong mặc cảm tự ti của một "công dân hạng hai" (hay hạng ba hạng tư gì đó!), tương lai thì mờ mịt. Với gia đình, Soại là chồng, nhưng từ ngày ra tù, anh phải sống phụ thuộc vào Nại Hiên, coi hàng, chở hàng giúp vợ, thi thoảng có rảnh thì thăm bạn bè cũ, cà phê tâm sự cho đỡ buồn, hầu như bế tắc hoàn toàn trong tâm hồn và cuộc sống.

 

Nại Hiên, hình ảnh điển hình của người phụ nữ Việt Nam bởi những đức tính: Nhẫn nhục, kiên nghị, thông minh và được thừa hưởng truyền thống lễ giáo vốn có của gia đình. Nhưng Nại Hiên vẫn là con người bằng xương bằng thịt của đời thường, tuổi đời còn trẻ, có đủ cảm xúc hỉ nộ ái ố, nhất là ở vào thời điểm nghiệt ngã nhất, bi kịch nhất của gia đình, cũng như hàng triệu gia đình ở miền Nam đồng cảnh ngộ. Nhẫn nhục, kiên nghị, thông minh đã giúp cho Nại Hiên có đủ sức xoay xở, đương đầu với cuộc sống mới đầy khắc nghiệt để mưu sinh, nuôi nấng và chăm sóc các con.

Nhưng với nhựa sống tràn đầy, sự khát khao của một phụ nữ còn trẻ nhưng phải sống cảnh đơn chiếc cô độc, cùng với sự nhạy cảm của một cô giáo, Nại Hiên cũng đã có lúc rung động trước tình cảm của Hòa dành cho mình (Hòa là anh bộ đội trẻ gặp trên chuyến xe đò mà Nại Hiên cùng 3 con trở về quê, đã tận tình giúp đở nàng trong suốt hành trình. Sau nầy, Hòa đã trở thành một cán bộ cùng quê với Nại Hiên), nhưng Nại Hiên đã kịp nhận ra cái không đồng điệu của hai người, nhất là quan điểm chính trị rất tệ hại, giáo điều, ngu xuẩn của Hòa (thậm chí, có lúc Nại Hiên đã nhìn Hòa bằng cái nhìn bi phẫn, đuổi thẳng Hòa, vì cho rằng Hòa cũng là thủ phạm đã tiếp tay, gây ra những bi kịch mà Nại Hiên và những người đồng cảnh ngộ phải gánh chịu sau biến cố 30.4.1075), tuy rằng qua tiếp xúc, Nại Hiên vẫn cho rằng Hòa là người tốt bụng, thật sự muốn giúp đỡ mình. Thường thì sự khác biệt giữa quan điểm, quan niệm về cuộc sống, cuộc đời nói chung, rất khó cho sự dung hợp, đồng điệu trong nhịp đập của lý trí và tình cảm.

Nhất là khi trái tim không lên tiếng thì tâm hồn không thể hòa điệu được. Trong cuộc bươn chải làm ăn sau nầy, Nại Hiên quen với Quốc, một thanh niên còn trẻ, cháu của một người bạn. Quốc đã đánh thức, làm rung động trái tim và tâm hồn cô quạnh của một người phụ nữ còn trẻ như Nại Hiên. Soại đã trở về, nhưng tình cảm vợ chồng không còn nồng nàn như trước nữa, do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu nhất là do cơn lốc kinh hoàng của lịch sử, Nại Hiên phải chịu biết bao nhiêu nỗi khổ nhục để mưu sinh, sống đơn chiếc, thay chồng nuôi 3 con thơ dại. Soại đã ra tù, trở về với gia đình, nhưng Soại bây giờ là một người đàn ông thất thế, bế tắc trong cuộc sống, nên không thể là trụ cột trong gia đình như ngày xưa. Tình vợ chồng, do cả hai đều có mặc cảm, thiếu sự chia sẻ, cảm thông, dần dần dẫn đến sự xa cách, rạn nứt là điều không thể tránh khỏi.

 

Phần cuối của truyện, đây là một "nếp gấp" rất khéo tay, tế nhị của nhà văn khi "thước phim ngắn" thuật lại cảnh Soại đi với Phượng (người bạn gái) đến một rạp chiếu phim, bắt gặp Nại Hiên đang ngồi thân mật với Quốc. Soại đắt Phượng rời ghế ngồi, đi đến ghế khác để khuất tầm nhìn, im lặng, không giải thích điều gì với Phượng. Thật ra, Soại đã linh cảm, biết được mối quan hệ không bình thường giữa Nại Hiên và Quốc từ lâu và có lần, do không kiềm chế được, Soại đã mắng thẳng vào mặt Nại Hiên với những lời lẽ rất nặng nề và từ đó thường hay bỏ nhà vào ban đêm, rồi sau đó bỏ đi luôn, đến nhà bạn tá túc, tìm quên trong những cuộc nhậu để mong xoa dịu nỗi đau.


Cận cảnh nầy được xếp gần chương cuối cùng của truyện, khi Vân, người chị bà con đến thăm Nại Hiên để báo một tin rất quan trọng: Chương trình HO đã được khởi động, các sĩ quan quân lực VNCH đã bị "bên thắng cuộc" cầm tù trên 3 năm, sẽ được chính phủ Hoa Kỳ xét bảo lãnh tái định cư. Vân khuyên Nại Hiên phải gặp Soại để giải hòa, hàn gắn tình vợ chồng để làm hồ sơ tái định cư cho gia đình, lo cho tương lai của các con.



bk_3

 


Đoạn đối thoại ở cuối truyện giữa Vân và Nại Hiên:

 

"- Em phải bắt xác nó về mới được, ai chẳng có sai lầm. Em cố làm sao cho nó hiểu, vì hoàn cảnh nghèo cực nên em mới có những hành động bất nhẫn với nó. Bây giờ thì em ân hận lắm rồi. Đàn ông thì hay nhẹ lòng, thằng Soại chị biết, nó tuy tính xốc nổi nhưng hiền lành, chân chất. Em nói với nó, vì tương lai mấy đứa con thì nó sẽ xuôi theo thôi. Nếu em làm hồ sơ được, em cho chị gửi con bé út của chị đi theo, cứ khai là con em. Chị biết ngày trước em có kể, hồ sơ của em và Soại hồi chế độ cũ là có bốn con, em khai thêm một đứa để ăn lương. Bây giờ làm, em cứ khai như vậy. Nhờ em nói với Soại cho chị gửi con bé. Có thiếu tiền chị giúp cho. Em phải đóng vai vợ hiền cho thật xuất sắc mới kêu gọi được tình thương của nó. Em nhớ nghe, chuyện này vừa giúp chị mà giúp cả em nữa đó.

 

Giọng Nại Hiên có chút quả quyết:

 

- Chị yên tâm đi. Tính chồng em không biết thì biết tính ai. Em cố gắng làm cho chị vui lòng. Khi em nắm được ảnh trong tay, em bảo gì lại chẳng được. Em sẽ đóng vai đào thương, vừa mùi vừa lẳng nữa. Ảnh chẳng chạy vào đâu khỏi tay em hết."

 

(Mẫu Hệ, tr.412)

 

Truyện khép lại. Người đọc có thể tự hiểu được số phận của vợ chồng Nại Hiên và Soại theo nhiều hướng: Sau khi phải hứng chịu nhiều nghiệt ngã, tai ương, chương trình HO sẽ giúp họ được đổi đời nơi xứ người với một tương lai tươi sáng, cuộc sống gia đình sẽ được hạnh phúc. Cũng có thể, Nại Hiên nhượng bộ, làm lành với Soại để cuộc ra đi định cư nơi xứ người được êm thắm. Nhưng sau đó, do rạn nứt tình cảm giữa hai người không thể hàn gắn được, hai người sẽ phải chia tay...

 

"Mẫu Hệ", với nghệ thuật dẫn truyện lôi cuốn người đọc, tái hiện được hiện thực sinh động bằng bút pháp tỉnh táo nhưng nhạy cảm, nhất là những mẫu đối thoại dung dị nhưng lột tả được tính cách từng nhân vật. Cốt truyện được thu nhỏ trong gia đình của Nại Hiên và Soại, nhưng bối cảnh không gian, thời gian và những nhân vật phụ khác trong truyện, đã cho người đọc hình dung một cách khá rõ nét về những bi kịch của miền Nam trong thời điểm lịch sử đó.

 

"Mẫu Hệ", tuy chưa đạt tới tầm cao văn chương như nhà văn đã khiêm tốn tỏ bày trong "Lời Mở" ở đầu sách, chỉ là do ngó nhìn bốn phương tám hướng vào thời điểm lịch sử đó mà "động lòng viết chơi", nhưng khi đọc xong truyện, gấp sách lại, người đọc vẫn còn rung động tâm can. Nỗi đau vẫn còn đó! Như vậy, nhà văn đâu phải "động lòng viết chơi", mà viết bằng tất cả tâm lực, rung cảm của mình, không phải là "hư cấu" mà trung thực bằng những điều mắt thấy tai nghe của một người vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân của giai đoạn lịch sử đầy bi thương ấy.

Đây cũng chính là giá trị nhân văn của "Mẫu Hệ" vậy.

 

Nguyễn Lương Vỵ

Calif., 9.2015

(Viết nhân dịp tái bản truyện dài Mẫu Hệ của Trần Yên Hòa)



*


 

Bài đọc thêm

 

TỪ MẪU HỆ ĐẾN... NGHỊ QUYẾT 36.



bia_mau_he_0-content

 

Tôi viết truyện dài Mẫu Hệ để tả lại một quảng đời đã sống, đã nhìn thấy qua biến cố 30/4/75. Biến cố đó có tôi là nạn nhân. Tôi là sĩ quan chế độ cũ nên bị tập trung cải tạo gần sáu năm. Trong thời gian đó và sau đó, những ngày trở về từ trại tập trung, sống ở Sài Gòn, tôi đã nhìn được từ hai phía. Tôi nhìn như một nhà nhiếp ảnh ghi lại sự việc, có khi hư cấu chút đỉnh, thêm mắm dặm muối cho hấp dẫn, còn cái sườn thì hoàn toàn y chang.

Ngay đề tài Mậu Hệ cũng có nhiều người đặt vấn đề với tôi, Mẫu Hệ nghĩa là gì? Tôi nghĩ cái nghĩa thật bình thường. Mẫu Hệ là chế độ xã hội lấy người mẹ, người vợ làm chủ gia đình, đặt tên con theo họ mẹ, như một số bộ lạc người Thượng nay vẫn giữ, hay xã hội Việt Nam ta từ hồi thượng cổ. Sau 30/4/75, trong nhiều gia đình, người chồng thất thế, (hay bị tập trung cải tạo) người vợ làm chủ gia đình, tạo nên chế độ mẫu hệ từ phía bên trong như gia đình nhân vật nữ có tên Nại Hiên.…

Nhiều người đọc hết truyện mới hiểu.

Hiểu được. Nhưng hiễu thế nào mới được chứ?

Cho tôi giải thích chút đỉnh:

Chỉ mỗi từ Mẫu Hệ thôi, cũng nói lên được một phần câu chuyện, là xã hội cộng sản sau năm bảy lăm ở Việt Nam, đã đẩy đưa nhiều gia đình sống như sống trong những bộ tộc của người Thượng. Cộng Sản VN đã từng rêu rao: Mỹ ném bom miền bắc là muốn biến Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá. Tôi nói: Sau ba mươi tháng tư bảy lăm, cộng sản VN muốn biến VN thành những bộ lạc theo chế độ Mẫu Hệ.

Thời tiền chiến, nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã viết nhiều truyện rất hay, phê phán xã hội một cách sâu sắc, những hủ tục, những mê tín dị đoan, những cảnh cường hào ác bá ở nông thôn. Vũ Trong Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố đã viết về những bất công của xã hội, những cảnh phu phen, xâu thuế, lục xì, làm đĩ, lấy Tây. Đó là những truyện thể hiện xã hội dưới chế độ phong kiến, thực dân, những truyện ấy sẽ tồn tại mãi mãi trong nền văn học Việt Nam.


Tôi đã thấy, đã biết nên đã viết (một phần) về xã hội miền Nam trước bảy lăm, về tên tướng tham nhũng hãm hiếp gái tơ, tay dân biểu áp phe, bà vợ ông dân biểu mở khách sạn cho Mỹ & đĩ thuê để thu lợi. Những tay đảng phái oang oang cái lỗ miệng lúc nào cũng nói đến bài kinh “Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do, Dân Sinh Hạnh Phúc”, nhưng đến khi đã được ăn trên ngồi trốc rồi thì chỉ lo đi kiếm chát, bỏ dân ngu khu đen sống chết mặc bay. Tôi viết về những sĩ quan ăn lương lính đào ngũ, lính tử trận, ăn ration C, ăn lương thực của lính đang chiến đấu ngoài mặt trận. Lính đói khổ bao nhiêu cũng kệ. Tất cả những cái đó và nhiều nhiều cái khác nữa đã là nguyên nhân dẫn đến ngày 30/4/75. Để rồi tất cả phải tháo chạy. Những tay đó lại dành nhau xuống tàu trước, hay bay ra biển trước vì sẳn có phương tiện trong tay, bỏ đất, bỏ quân, bỏ dân, chạy qua Mỹ sớm, lại vỗ ngực xưng hùng xưng bá. Còn nếu có vào tù thì tranh làm “ăn teng, làm thi đua, trật tự”, tránh né lao động, hãm hại bạn tù.


Khi Mẫu Hệ phát hành khắp nơi, có dư luận xôn xao trong đồng hương, do tin những “nhà đảng phái” tung ra:

“

Mẫu Hệ viết theo nghị quyết 36.”


Tôi biết nghị quyết 36 của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam kêu gọi các giới văn nghệ sĩ, giới truyền thông hải ngoại cùng góp sức xây dựng quê hương.

Tung tin như vậy, có nghĩa nói tôi là cộng sản nằm vùng, là đón gió trở cờ.

Chứ còn gì nữa.

 

Nhà phê bình Huỳnh Hữu Uỷ, đọc Mẫu Hệ có nói với tôi:

“Mẫu Hệ là truyện chống cộng.”

Trong thâm tâm, tôi muốn viết những điều tôi đã trải, đã nếm, không viết kiểu hô hào như một văn công, kiểu văn chương minh họa của miền Bắc Việt Nam trước năm bảy lăm. Thời còn chiến tranh, khi viết về người lính miền Nam, các nhà văn (văn công cộng sản) thường tả đó là những người mặc áo quần rằn ri, vằn vện, đầu tóc bù xù, súng đạn lè kè bên mình, vũ khí được trang bị đến tận răng, nhiều người còn đeo tòng teng trên ngực một xâu lỗ tai phơi khô, như kể lên chiến công đã giết nhiều Việt cộng. Còn bộ máy chính quyền miền Nam cũ, cũng có một số nhà văn viết theo đơn đặt hàng của chính quyền để tuyên truyền, cũng thường mô tả Việt cộng là những tay răng đen mã tấu, răng vẩu, nước da vàng ệch, nón cối, mang dép râu, nói năng bặm trợn, giết người như ngoé.

Tôi không thích cả hai loại văn đó.


 *

 

Chuyện văn chương chữ nghĩa rất có nhiều điều đáng tội. Một bài thơ của tác giả viết lên theo một cảm hứng nào đó, khi được đưa lên bàn mổ, các nhà phê bình thường ghép thêm vào đó những ý tưởng mà mình nghĩ ra, rồi tô son trét phấn cho tác phẩm. Nhiều khi tác giả bài thơ phải ngẩn ngơ khi đọc lời bình về bài thơ của mình.

Thơ của Hồ Chí Minh, toàn suốt những bài thơ của ông là những bài thơ dở, theo cái nhìn văn học của tôi, thế mà biết bao nhiêu cây bút, những nhà phê bình có “học vị” đàng hoàng, đã chẻ những bài thơ đó ra làm tư, làm tám, khen từng chữ, từng câu, từng dấu chấm, dấu phết.

Rồi lại đem in vào sách giáo khoa dạy cho học sinh nữa chứ.

Thật là một thảm hại và nhục nhã cho nền văn chương minh họa.

Cả truyện cũng vậy.

Người đọc nhiều khi đi xa ngoài ý tác giả.

.........


 

Trần Yên Hòa

Giữa hai lằn đạn


*




Mời đọc Quảng cáo


Mua Bán Nhà

 

 


L/l: Marvin Tran

(714) 768 - 8810




blank

 


Nha Khoa

 


blank