DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,096,180

Rớt Xuống Tuổi Thơ, Tôi (Chương 24, 25, 26) hết - Trần Yên Hòa

Wednesday, February 3, 201612:00 AM(View: 5948)
Rớt Xuống Tuổi Thơ, Tôi (Chương 24, 25, 26) hết - Trần Yên Hòa

Rớt Xuống Tuổi Thơ, Tôi




Image result for rớt xuống tuổi thơ, tôi

Bạn Văn Nghệ xuất bản

2014

copyright@ 2014 by Trần Yên Hòa



24

 

Anh Mùa



Image result for chợ quán rường

quán rường

 

 

 Hồi quốc gia tiếp thu, tôi đâu bảy, tám tuổi. Bảy, tám tuổi mà tôi đã theo cha tôi ra chỗ những đám “thổ” ở cống ông Tời, cho nước vào đám thuốc lá mà cha tôi trồng.

 “Thổ” cũng là ruộng, nhưng là nơi những thửa đất toạ lạc cao hơn những đám ruộng khác. Ruộng “thổ” chỉ trồng đậu phộng, đậu xanh, đậu đen…hoặc là gieo lúa, chứ không cấy lúa được vì đất ở vị thế cao. Cho nên đám “thổ” gieo lúa chỉ có một mùa, còn mùa kia thì trồng hoa màu. Cha tôi thường trồng cây thuốc lá. 

 Cây thuốc lá trồng trên những luống đất được bón phân sẳn. Cha tôi sắm “cây thuốc con” từ những hạt thuốc để dành từ mùa trước, gieo trên một mảnh đất ở vườn nhà, chăm sóc rất kỹ. Đến ngày chuẩn bị đất xong, mới đem những “cây thuốc con giống” ra trồng trên đám thổ. Xong, chiều nào cũng phải ra tưới nước. Quãng đường từ nhà tôi ra đến đám thổ độ khoảng hai cây số.

Tôi đi học về, gặp cha, cha dặn:

- Cu em, đừng đi chơi đâu nghe, chuẩn bị đi ra tưới nước đám thuốc lá với cha.

 Đó là lệnh nên tôi phải nghe theo. Tôi vác cuốc theo cha. Cha tôi ra kéo nước từ suối lên, đỗ vào một cái rảnh nhỏ đã làm sẳn, nước chảy theo rảnh vào đám thổ trồng thuốc lá. Tôi chỉ việc đứng bên coi thử có luồng nước nào chảy lung tung không, nếu có thì dùng cuốc “lái” cho vào rảnh, để nước khỏi chảy tràn lan.

 Tôi đang đứng làm công chuyện với cha như vậy thì từ xa, ngoài xóm Long Phước, nhiều người cũng đang làm ruộng quanh tôi phát hiện có một toán lính quốc gia từ đó đi vào. Họ đi hàng một, súng cầm tay. Lần đầu tiên tôi thấy lính, nên cũng rất khoái. Họ đi im lặng, tiến vào trong làng An Mỹ của tôi. Sau này tôi biết đơn vị lính này chia làm nhiều mũi, vào tiếp thu các xã thuộc quận Tam Kỳ và Tiên Phước.

 Mấy người lính trông quá xa lạ, họ cầm súng trên tay, nên tôi không dám bu quanh vì tôi nhát gan, sợ súng nổ. Sau đó, họ đóng từng nhóm trong nhà dân. Ban chỉ huy đóng ở đình An Mỹ, và từ đó, cứ sáng sáng, đám lính này vô xóm làm quen với dân và tò vè “tán” mấy cô thôn nữ.

 

Anh Mùa, người cùng xóm tôi, cũng là chỗ bà con, anh lấy chị Hương, con gái thứ nhì của cô Dung tôi, nên anh kêu cha mẹ tôi là cậu, mợ. Khi quốc gia tiếp thu, anh được làm liên gia trưởng, anh rất hăng say trong công việc xã ấp. 

Anh Mùa bơi lặn rất giỏi, nhờ có nghề này mà anh bắt cá rất tài tình. Cái con suối Trà Thai suốt mùa trời xanh nước mát, anh tha hồ bơi lặn. Ngày nào anh cũng bắt được một giỏ cá rô hay cá tràu, cá diết…Anh đem về giao cho chị Hương đem ra chợ bán, cũng kiếm sống qua ngày.

Những ngày gần Tết có giẫy mả, gia đình tôi thường kêu anh Mùa, anh chín Ngàn, mười Kiều đi giẫy mả. Mỗi lần như vậy anh Mùa rất xông xáo, anh cầm cuốc, cầm rựa đi mở đường.

Đến chỗ giẫy mả, anh là người xông xáo đầu tiên, cái gì anh cũng nói với cha tôi:

- “Cậu để tui, cậu đừng làm gì hết, cậu để tui”.

Anh không bao giờ để cha tôi hay tôi đụng vào cây cuốc, anh giành làm hết mọi chuyện. Mỗi lần làm việc gì có anh Mùa là tụi tôi khoẻ re, chỉ đi theo làm thợ vịn thôi chứ không đụng vào bất cứ chuyện gì.

Mấy năm sau thì chị Hương bị bệnh nặng mà chết. Anh ở vậy nuôi thằng Cường khôn lớn. Anh vẫn giữ tình cậu cháu với cha tôi suốt cả mười năm, năm nào anh cũng vác cuốc đi dẫy mả, mãi đến ngày gia đình tôi đi tị nạn xuống thị xã, làng quê không còn bình yên nữa mới thôi.

 

Sau này cũng hơn mười năm sau - anh cũng đi tị nạn - duyên số gì mà anh gặp lại chị “Hồng ông Nghiên”.

Chị Hồng bây giờ cũng trên ba mươi, nhưng trông cũng còn “ngọt nước” lắm. Chị cũng trải qua nửa đời phong ba lận đận, nghe đâu, ra Đà Nẵng sống với anh Thảo đâu được một thời gian ngắn thì tan vỡ. Chị Hồng phải đi ở đợ giúp việc cho những gia đình giàu có. Rồi đến một ngày thấy không còn thể sống nơi thành phố xô bồ nữa, chị trở về quê thì gặp… anh Mùa. Duyên do tiền định sao mà anh Mùa cũng đã trên sáu mươi mà lại “cua dính” được chị Hồng mới hơn ba mươi. Đó có lẽ là anh có “ngón nghề”.

Ngón nghề của anh cũng dễ quyến rũ đàn bà, đó là anh khảy đờn bầu độc huyền cầm rất hay. Tôi nhớ anh có cây đàn bầu làm bằng cái gáo dừa, và sợi dây là sợi cước câu cá, thế mà trên tay anh, anh đàn bản nhạc nào cũng được, từ lưu thủy, hành vân, tứ đại oán đến cải lương, anh đều chơi được. Khi anh ngồi trên bộ ván ngựa nhà tôi và cầm cây đàn độc huyền cầm lên, bắt đầu tiếng tơ réo rắt, thì bất cứ ai trong nhà đang làm gì cũng đều bỏ hết, để chạy vào nghe. Có lẽ nhờ ngón đàn nên anh tán dính chị Hồng, cộng thêm, theo anh nói, là anh có phương thuốc tuyệt diệu, đàn bà nào chịu anh cũng phải “lắc lư con tàu đi.”



phong_13_0-content

cổng nhà cũ


 

Vì sống theo đời sống tị nạn, anh xin làm lao công ở ty tiểu học. Anh được cấp một khoảng nhà kho nhỏ mé bên hông văn phòng. Anh và chị Hồng, một già, một trẻ, hai mảnh đời tấp lại với nhau sinh thêm một lố con, ba, bốn đứa gì đó. Mỗi khi tôi có việc ra thăm, là anh Mùa cười híp mắt.

Anh chỉ vào chị Hồng rồi khoe “hoa đã ngậm sương”.

“Hoa đã ngậm sương” ba, bốn lần cho ra ba, bốn nhóc tì. Cũng nhờ thế mà sau này chị Hồng nhờ vào mấy đứa con này.

Anh Mùa còn có nghề đi bắt chó, giết chó làm thịt, làm ”lòng thả” cho bạn nhậu. Anh có món “tiết canh lòng thả chó” rất ngon nên những ai muốn ăn thịt chó đều kêu anh làm. Anh thầu nấu từ A đến Z, từ con chó đang còn sủa oăng oẳng, đến lúc các món như luộc, nướng, tiết canh, lòng thả, rựa mận…dọn ra mâm.

Anh giết nhiều chó quá, khiến khi anh đi đến đâu, chó trong xóm chạy ra theo sủa vang trời.

 

 

25

 

Mùa Xưa



phong_12_0-content

ngôi nhà thơ ấu


 

Thư của chị tôi từ quê nhà gởi sang, ''Quê mình mùa nầy đang là mùa dẫy mả, chị đã nhờ các anh chín Ngân, mười Kiều, ba Tạo giúp dẫy mả cho ông bà cha mẹ mình rồi, trông cũng khang trang sạch sẽ lắm. Nhưng nhìn mả cha mẹ mình còn là mả đất, chị buồn ghê! Em cố gắng làm ăn để dành tiền gởi về cho chị xây mả cho cha mẹ mình, nghe em''. Đọc thư, tôi thật bùi ngùi, xúc động. Ngày này, quê mình là mùa dẫy mả . Đã bao lâu rồi tôi không trở về quê cũ trong ngày lễ gia đình nầy. Hình như cũng trên hai mươi mấy năm, 27 tuổi vào trại tập trung, 34 tuổi ra trại về sống lây lất ở Sài Gòn cho đến ngày đi Mỹ. Quê hương và tuổi ấu thơ tôi ở đó như một giải lụa hồng êm mát, bây giờ đã xa ngút mắt. Quê hương Quán Rường, một Tam Kỳ bé nhỏ của tôi. 

 Tự dưng, tôi nhớ Quán Rường quá chừng. Cái tên chợ không biết ai đặt mà ở đất Quảng Nam ta có nhiều tên như thế. Như câu ca dao ''Ai đi chợ Quán, chợ Cầu. Mua cau Phú Mỹ, mua trầu Hội An.'' Chợ Quán Rường, chợ Quán Gò, chợ Được, chợ Trạm...

 Mùa dẫy mả, rồi đến lập đông, rồi đến Tết. Bây giờ bên đó chắc mưa dầm lắm. Tôi nhớ quá những ngày còn đi học, đạp xe đạp từ Quán Rường xuống ngã ba Chiên Đàn rồi theo quốc lộ 1 vào trường Trần Cao Vân. Mùa nầy, những người dân từ các vùng quê gồng gánh nào khoai lang, dây lang, rau cải, đi từ sáng sớm để vào Tam Kỳ hay ra Hà Lam bán lấy tiền tiêu Tết. Họ đi từng hàng dài từ sáng sớm tinh sương, nói chuyện cười đùa vui vẻ như không biết nổi khổ đau là gì. Cuộc sống của người dân quê vốn bình dị và chất phát như thế.

 Chợ Quán Rường, tôi nghe mẹ tôi kể lại có một bà già nào đó đến đây lập một cái quán bán nước chè cho khách qua đường, cái quán thô sơ bằng gỗ, lợp tranh nên gọi là quán rường ( nhà rường là nhà lợp tranh nhưng bằng gổ tốt, nhà rội cũng nhà lợp tranh nhưng bằng gổ tạp, gổ xấu ). Cái tên đó dần dà theo năm tháng trở thành cái tên chung của một cái chợ, bây giờ to lớn hơn, đẹp đẽ hơn. Chợ nằm ngay trên đường tỉnh lộ từ ngã ba Chiên Đàn lên Cẩm Y, Tiên Phước. Ngôi chợ được cất bằng tôn, có chia từng ô cho mỗi mặt hàng, chung quanh có một dãy cây bàng cành lá xum xuê, trái đầy bóng mát. Mẹ tôi đã từng tần tảo ở đó, đã từng lê lếch ở đó để bán từng rê thuốc lá, để tự nuôi sống mình và nuôi hai đứa con trai đang ở trại tập trung cải tạo. Hai đứa con trai là sĩ quan QLVNCH, ngày còn tại chức cũng chẳng giúp được gì mẹ bao nhiêu, lúc nào mẹ cũng lo cho hai đứa con trai đi lính không biết bây giờ ở đâu. Ngày chạy tị nạn, cha mẹ tản cư xuống thị xã Tam Kỳ, mẹ cũng lê la ngoài chợ bán hàng. Mỗi lần tôi nghỉ dưỡng quân về thăm mẹ, tôi phải chạy ra ngoài chợ khu Nam kêu mẹ về. Bảy năm ở trại tập trung, mẹ cơm đùm, cơm gói thăm nuôi. Bây giờ thì chợ Quán Rường còn đó mà mẹ đã mất rồi. Tôi thì bơ vơ ở Mỹ, ngày dẫy mả cha mẹ tôi không được vác cuốc đi dẫy mả cùng bà con chòm xóm. Bây giờ giá mà còn mẹ thì hạnh phúc cho tôi biết bao nhiêu.

 Ngày tôi sắp đi Mỹ, bạn bè cũ ở trường Trần Cao Vân có mở tiệc tiễn đưa. Có hội đồng hương Tam An, quê tôi, tham dự. Hôm đó thật vui mà cũng thật bùi ngùi. Anh Nguyễn Ngọc Diện, trưởng ban liên lạc cựu học sinh trung học Trần Cao Vân phát biểu, chúc gia đình bạn đi bình an, mau an cư lạc nghiệp, luôn luôn nhớ về trường xưa và bạn bè. Anh Năm Tre, trưởng ban liên lạc Hội Đồng Hương Tam An, Tam Đàn, tặng gia đình tôi một bức tranh sơn mài. Trong cái bắt tay của bạn bè ai cũng chúc, cố gắng nghe mầy, qua bên đó dựng lại đời nghe, luôn nhớ anh em ở quê nhà, nhớ bà con chòm xóm. Tôi không hình dung được cái xứ Mỹ như thế nào nhưng trong đầu óc tôi suy nghĩ, chắc là sung sướng hơn, tự do và hạnh phúc hơn. Tôi đã mạnh dạn nói với bạn bè, thân hữu, sẽ không bao giờ quên.

 Thế mà qua đây đã mấy năm tôi vẫn chưa làm gì để bù đắp lại những tấm lòng ấy. Tôi đáp máy bay xuống phi trường Los trong một ngày tháng 3 lạnh lẽo. Phi trường Los rộng bao la và tiện nghi quá mức. Sau khi làm xong thủ tục giấy tờ, tôi lên xe buýt để về phi trường Orange County. Người sponsor và những bà con bạn bè đón tôi ngoài phòng đợi. Lên xe về nhà người sponsor mà lòng nặng trĩu những suy tư. Cuộc đời bắt đầu từ đây với một nơi chốn không phải là quê hương mình. Về căn nhà người sponsor với ngôi nhà trần thấp, lót thảm, tôi không tưởng tượng được nhà bên Mỹ lại xây cất thế nầy, vẫn cứ nghĩ đến những căn nhà cao tầng, những cầu thang máy, những phố xá đầy nghịt cả người. Những tên gọi Little Sài Gòn, Bolsa, Westminster nghe sao lạ hoắc. Rồi những tiệc tùng của bạn bè, những lời thăm hỏi, những đón đưa. Trước tiên là chuyện giấy tờ, Social-security, Medical, tiền trợ cấp, rồi đi khám sức khoẻ, khám răng, làm kính, rồi chuyện đi học Anh Văn để chuẩn bị xin việc làm. Những đón đưa của bà con và bạn bè cũng thưa thớt dần vì ai cũng bận rộn tứ bề. Cuộc sống ở Mỹ, nói theo một một câu Việt Nam là ''chạy như vắt giò lên cổ'' với thời gian. Bây giờ phải tự lực cánh sinh đây, phải mua một chiếc xe và phải có bằng lái. Những khó khăn dần dần rồi cũng qua đi, chỉ còn là công ăn việc làm chứ tiền trợ cấp một tháng chỉ 250 $ làm sao mà tiêu xài sinh hoạt cho đủ.

 Một người bạn trong lớp học ESL mách với tôi: ''Ở quán Sông Hương cần người phụ việc, anh muốn làm không?''. Tôi gật. ''Chỉ mình đi''. Ngồi trên xe người bạn dẫn đi xin việc mà tôi hạnh phúc. Thế là đã có chuyện làm. Đến quán gặp cô chủ, cô chủ nói,''Ở đây cần người bưng đồ ăn lên cho khách và làm mọi việc linh tinh, chỉ làm thứ bảy và chủ nhật, mỗi ngày từ 7 giờ sáng đến 9 giờ đêm, lương 30$ với 5$ tiền típ. Tôi gật, được. Vì tôi nghĩ, kệ, làm đại, ban đầu mà. Ở VN làm đầu tắt mặt tối mà một ngày chỉ được mấy đồng đô la tính theo tiền Mỹ. Ngày thứ nhất đi làm, tôi thức dậy sớm, lên chiếc xe đạp mượn của một người bạn, tôi hăm hở như thuở còn thanh niên, ngày mới ra trường Đà Lạt, ngày được đeo trên vai chiếc hoa mai vàng chói lọi đi trình diện đơn vị mới. Nay thì trình diện cô chủ quán tuổi trạc tuổi con tôi. Vì là ngày thứ bảy nên quán rất đông khách, tôi nào rửa chén bát, lau bàn, bưng thức ăn, bưng rau, chanh ớt, đúng là một tay bồi bàn chính hiệu. Bây giờ tôi mới hiểu nỗi xót xa của những con người đã có một thời kỳ vang bóng mà phải làm những công việc như thế nầy. Nhưng với tôi thì không, trong gần bảy năm tù tôi đã phải khiêng biết bao nhiêu thùng phân người còn tươi rói đi bón rau xanh, cuốc biết bao nhiêu thước đất để trồng cao su, trồng lúa ở vùng Long Khánh, Long Giao mà có được trả đồng xu teng nào đâu, lại còn phải ăn toàn khoai mì lác đầy độc tố. Rồi những ngày được trở về với gia đình sống lây lất ở Sài Gòn, tôi đã làm biết bao nhiêu nghề khổ nhọc, đi chẻ củi thuê, chạy xích lô, vá xe đạp lề đường, bán bánh tiêu, bánh bò dạo... Bây giờ được làm như thế nầy còn sướng hơn gấp trăm lần đi chứ. Ngày đầu tiên được lãnh 35$ đô la, tôi nghe sung sướng lạ lùng. Tôi ngữi đồng đô la như có mùi thơm toát ra ngào ngạt, tôi muốn hôn vào nó quá. Đây là công sức, là sự trả giá quá đắt của 7 năm tù, của những ước mơ đâm chồi từ ngày nộp giấy tờ xin xuất cảnh. Sự ra đi là một cuộc vướt thoát từ một độc tài sang một nơi là bến bờ tự do, được trả giá bằng sự chọn lựa tự nguyện, của một ước mơ hạnh phúc. Mùi đô la thơm lừng trong trí tưởng tôi, nguyên vẹn, bừng bốc trong lòng tôi nổi khát khao một tương lai tươi sáng.

 Nhưng công việc làm bồi bàn cũng chẳng được bao lâu, đến tuần thứ... cô chủ nói, ''độ rày quán bán ế quá, tuần sau chú nghỉ, khi nào cần sẽ gọi chú.'' Tôi buồn bã trở về. Một người cùng phụ việc nói với tôi, ''chú làm chậm quá, cổ không mướn, mướn Mể còn hơn.'' Tôi hiểu chuyện đó cũng bình thường, hồi ở Việt Nam tôi đã đọc một số báo có bài viết nói về những người lớn tuổi, thường gặp trở ngại về công việc làm ở Mỹ, nhưng tôi còn trẻ mà, chưa quá năm mươi, làm sao mà già được. Sau đó tôi còn làm một vài công việc khác nữa, như đi cắt chỉ ở các shop may VN, ủi đồ, làm final, cũng tạm sống qua ngày, nhưng với giá thuê nhà đắt đỏ ở Cali làm sao dư dã nổi. 

 Tôi nhớ lời hứa với chị tôi trước khi lên máy bay, ''Điều em quan tâm đầu tiên khi đến Mỹ là khi làm có một ít tiền, em sẽ gởi về cho chị xây mả cho cha mẹ ông bà''. Điều ước vọng đó bây giờ đã quá lâu. Tôi đã bỏ Cali đi đến tiểu bang Iowa làm công nhân trong hãng thịt heo. Thật sự thì tôi muốn kiếm tiền để làm tròn ước nguyện. Chiếc xe buýt chở tôi qua những chặng đường, La Vegas, Colorado, Denver, Sioux City, Desmoine, rồi Waterloo. Tôi đã nhìn thấy những phồn vinh, những vĩ đại của nước Mỹ, những Hway dài tít tắp, những núi đá hùng vĩ mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Rồi tôi được gặp những người Mỹ hiền lành, tốt bụng và tôi an tâm sống.

 Tôi đã sống ở nơi đó qua những mùa đông dài, rét cóng. Tuyết rơi đày trên đường đi và vùi dập thành phố trong ba bốn tháng. Mùa tuyết, mùa của lạnh lẽo tột cùng, mùa của giá băng. Đường đi từ bãi đậu xe đến cửa ra vào hãng chưa đầy hai trăm mét mà nghe rét cóng. Cái lạnh tột cùng ở đây làm tôi sợ hãi, những lá cây chuyển từ đỏ sang vàng và rụng đầy đường đi. Trời lạnh cóng, buổi sáng thức dậy đi làm phải mặc ba bốn lớp áo, ra mở cửa xe bị chặt cứng vì tuyết đóng. Nhưng những ngày nầy sẽ qua đi và sang Xuân cây lá sẽ đâm chồi nẩy lộc. Cũng như ở VN, ở quê tôi, mùa đông giá buốt sẽ qua đi và Tết sẽ đến. Chợ Quán Rường, chợ Hà Lam, chợ Tam Kỳ sẽ đầy đặc người đi chợ Tết, từ sáng tinh sương vẫn lủ lượt bao người gánh gồng tất tả

 Lần trở về mới đây, trên căn nhà cũ, tôi với vợ chồng anh chị Phong, đứng trước bàn thờ cha mẹ, đứng trước ngôi mộ mới xây, đi qua chợ Quán Rường, khu nhà ga, đường rầy xe lửa. Tôi thấy lòng vẫn còn như những nhát dao đâm. Lòng không thảnh thơi, không hạnh phúc. Cái nơi chốn ấy đã hóa loãng trong tôi. Đi thì nhớ nhưng chắc là không ở lại được, không sống được. Tôi, như nhà thơ Tô Thuỳ Yên trong bài thơ ''Ta Về'' mà tôi xin chép ra đây:

 

Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay,

Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống,

Giải oan cho cuộc biển dâu nầy.

.......................................................

 

Ta về như sợi tơ trời trắng

Chấp chới trôi buồn với nắng hanh.

Ai gọi ai đi ngoài quảng vắng?

Phải, ôi vàng đá nhắn quan san?

........................................................

 

Ta về khai giải bùa thiêng yểm

Thức dậy đi nào gỗ đá ơi!

Hãy kể lại mười năm mộng dữ.

Một lần kể lại để rồi thôi.

......................................................

 

Cây bưởi xưa còn nhớ trắng hoa

Đêm chưa khuya lắm, hởi trăng tà!

Tình xưa như tuổi già không ngủ

Bước chạm khua từng nỗi xót xa.

……………………………………….

 

(Ta về, Tô Thùy Yên )

 

 

 

phong_20-content

ngôi nhà ấu thơ tôi


 

26

 

Hoa sưa ngày cũ



Image result for hoa sưa tam kỳ

hoa sưa tam kỳ và em

 

 

Tam-Kỳ là một thị xã nhỏ mà con đường chính là Quốc lộ 1, chạy xuyên qua phố. Có thể nói thị xã bắt đầu từ bến xe liên tỉnh đến cầu Tam-Kỳ là hết, bề ngang từ Khu Giải Trí đến ga xe lửa. Thị xã nhỏ và êm đềm.

 Niên khóa 59-60, tôi thi đậu vào trường Trung học Trần Cao Vân. Làm sao kể hết niềm vui sướng của tôi lúc đó! Một cậu học trò nhà quê tóc vàng cháy nắng và luôn đi chân đất, tôi luôn nhìn về Tam Kỳ như một nơi thị tứ đầy những hấp dẫn mê tơi.

 Lúc đó, tôi nghe dân dã quê tôi hay nói về Tam Kỳ bằng một danh từ rất ư là trọng vọng, đó là "Vạn". Đi chợ Vạn, như là đi đến một nơi chốn nào rất là xa hoa, thị tứ. Với tôi Tam Kỳ là một nơi tôi chưa đặt chân đến bao giờ, mãi đến ngày thi đệ thất. Đạp xe đạp từ sáng sớm dọc theo đường tỉnh lộ đến ngã ba Chiên Đàn rồi theo Quốc lộ 1 đi thẳng vào Tam Kỳ, đến trường Trần Cao Vân dự thi, với bao nhiêu nỗỉ hồi hộp lo âu. Lúc đó trường trung học Trần Cao Vân là trường trung học công lập duy nhất cho các quận Tam Kỳ, Tiên Phước,Thăng Bình, Quế Sơn, tất cả các học sinh tiểu học thuộc các quận nầy đều dồn về đây thi đệ thất, nên chuyện đậu vào đệ thất là một việc rất là khó khăn, gay go vô cùng.

 Năm đó, tôi đậu được, và tôi đã học ở đó. Ngôi trường trung học Trần Cao Vân thân yêu đã gần gủi ấp ủ trong tuổi học trò thơ dại của tôi biết bao nhiêu kỷ niệm.

 Tôi còn nhớ rất rõ, phía bên trái ngôi trường lúc đó còn lợp tôn, tường quét vôi trắng, phía bên trái có một cây đa cổ thụ cành lá xum xuê. Vào những ngày cuối thu trời bắt đầu lạnh và cây lá bắt đầu vàng thì những đàn sáo từ đâu bay về tụ tập kêu inh ỏi. Chim sáo là một loài chim thường được người ta nuôi trong nhà để tập cho chim sáo hót và tập nói tiếng người. Chim sáo hót hay và nói tiếng người cũng rất hay, nhưng đó là những con chim lẻ, được cưng quý trong lồng, còn ở đây, trên tàng cây đa cổ thụ bên hông trường Trần Cao Vân, vào buổi chiều, đàn sáo sau một ngày kiếm ăn trở về đậu đầy trên cành đa và kêu vang trời. Hình ảnh đó đã ghi đậm trong tâm hồn tôi như một dãi lụa hồng êm mát, mà khi ở bất cứ nơi nào, nhìn đàn chim sáo là tôi nghĩ đến trường Trần Cao Vân.

 

Trăm năm tôi vẫn nghe lời hót

chim sáo

trong chiều bình yên xưa

 

 Tôi cứ nghĩ chỉ một mình tôi nhớ đến đàn sáo năm xưa chiều chiều bay về đậu đầy trên cây đa cổ thụ, mà nhà văn Trần Hoài Thư cũng vậy, Trần Hoài Thư tức thầy Trần- Quý Sách, là giáo sư Trần Cao Vân trong những niên khóa 63-64-65, cũng nhớ về trường cũ mình đã dạy bằng những lời thơ. 

 

Mấy mươi năm chưa một lần về thăm

Thị trấn ấy biết còn đàn sáo ngụ

 Ngôi nhà trọ có giàn hoa giấy đỏ 

Gốc cây xưa còn đỏ một quảng trời 

 

 Có thể tôi không cô đơn trong nổi nhớ, nhât là nhớ về một đàn sáo cũ đã hút xa trong trí nhớ những ba, bốn mươi năm. 

 Ở Tam Kỳ suốt bảy năm trung học, tôi thuộc hết những ngỏ ngách, những đường mòn, những lối đi ngang về tắt. Từ Khỗng Miếu đến tòa Hành chánh tỉnh, khu trường Nữ Trung hoc, bệnh viên tỉnh, đến khu Nam Phủ cũ, rồi Ga xe lửa, thôn Trường Xuân, qua An Thổ, Phường 1, những địa danh một ai trong các bạn đã một lần có dấu chân qua, chắc sẽ nhớ vô cùng.

 

 Năm học đệ tam, tôi ở trọ một nhà người thân dưới phố. Ngôi nhà có những khung cửa sổ nhìn qua bên kia xóm An Thổ. Cũng vào những ngày mùa thu, đứng bên nầy nhìn qua bên kia, tôi thấy cả một vùng hoa sưa nở. Hoa sưa nở một màu vàng rưng, vàng cả đất trời An Thổ. Mùi hoa sưa không thơm nhưng màu vàng thì quá tuyệt. Xuân Diệu trong ''Phấn thông vàng'' tôi đã học năm đệ lục đệ ngũ, nghe rất đẹp, nhưng tôi chưa trông thấy nên không tưởng tượng nổi, nhưng màu vàng của hoa sưa An Thổ tôi đã thấy, màu vàng ruộm cả một vùng trời, khiến tôi liên tưởng đến một động hoa vàng của Phạm Thiên Thư sau nầy:

Rằng xưa có gã từ quan

Lên non tìm động hoa vàng ngủ say.

Động hoa vàng của tôi có thể là màu hoa sưa vàng rực đó.

 

 “Anh đã đi qua tuổi thơ ở đó, mỗi buổi sáng đi học từ ngã ba trường Tàu đến trường Trần Cao Vân, với đồng phục áo trắng quần xanh, anh tung tăng như chú chim sẻ nhỏ, thấp thoáng đâu đó bóng dáng nữ sinh các trường trung học: Nữ Trung học, Bồ Đề, Hưng Đạo, Đức Trí, Nguyễn Dục. Áo trắng nữ sinh rất là yểu điệu thục nữ, các em có thể đi bộ, hay đi xe đạp hàng đàn. Giọng cười nói như tiếng hót của loài chim khuyên líu lo. Tà áo đó, dáng dấp đó, đã cho anh những nỗi buồn vui không tên tuổi, tình yêu không định nghĩa với bao xao xuyến đầu đời. Anh nhìn lên khung trời An Thổ, một màu hoa sưa vàng au, màu vàng của áo hoàng hậu, màu hoàng yến trộn lẫn với màu vàng hoa cúc, tạo cho hoa sưa có một màu vàng riêng rất khó pha màu, khó diễn tả. Màu vàng nhìn đến sững sờ, màu vàng òa vỡ nỗi đam mê khát vọng, màu vàng nức nở nhức nhối, anh ôm màu vàng vào đời suốt bao nhiêu tháng năm hoài vọng, những tháng năm học trò.

Tôi đã đi qua, đã gặp màu vàng hoa quỳ ở Đà lạt, tôi đã nhìn ngắm thung lũng hoa vàng ở San Jose, nhưng tôi vẫn yêu màu vàng hoa sưa khu An Thổ.”

 

Đó có thể là màu của hoài niệm.



Trần Yên Hòa

(hết)


Mời nghe nhạc:

 

Ngay ay dau roi -Thu Phuong

Tuổi Ngọc - Ca sĩ Thái Hiền ( Phạm Duy)

Tuổi Thần Tiên - Thái Hiền

Thái Hiền - Tuổi Mọng Mơ


 

*




Độc giả muốn có sách

Hãy vào:


Amazon







*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



hoa_72-content

 

hinh_quang_o_dam_cuoi_o_mai_1-content

 Cindy Y.

 

 




 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 13, 20199:39 AM(View: 171)
Em đến một chiều không hẹn trước. Em cho tôi một góc chiều riêng. Một góc chiều nên tôi trải chiếu. Nằm cạnh bên em chiếc chiếu căn phần. Tôi lại thấy chiều xanh rất tỏ. Trời rất xanh và em rất xinh. Hồn tôi thấp thoáng thân du mục.
Wednesday, September 4, 201910:27 AM(View: 470)
Tôi với anh Thành Tôn đã kết thân từ hơn hai mươi năm qua, tôi coi Thành Tôn như người anh, vì tôi biết những tính tốt của anh đối với bạn bè. Và anh cũng coi tôi như một người em, vừa
Monday, August 26, 20196:02 PM(View: 356)
Một chuyến ở Mỹ về, Lộc cùng Thương đi viếng chùa bà chúa Xứ, Núi Sam, Châu Đốc. Lộc đi xe đò từ bến xe liên tỉnh Sài Gòn - Châu Đốc.
Thursday, August 1, 20198:49 PM(View: 332)
Màu mắt ấy một ngày nao rạng rỡ. Đưa ta lên mấy tận tầng trời. Em hoài hũy là loài hoa rất lạ. Dắt ta vào quá khứ xinh tươi. Ta đã ngắm từng đường tơ kẻ tóc. Ta say mê em bởi mắt môi hường. Bởi một thuở từng làm thơ thương nhớ. Đến vô cùng như cơn gió đưa hương.
Sunday, July 28, 20198:49 AM(View: 1290)
Buổi chiều, hắn hẹn với Phường đi ăn ở quán Trảng, một quán có đủ món nhậu VN, nghe nói rẻ mà ngon. Phường trả lời qua điện thoại, khi nào em về, anh ra đón em rồi mình đi ăn luôn.