DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,097,724

Kẻ đào ngũ trong Phá Vây của Phù Thăng - Trần Hoài Thư

Sunday, February 7, 201612:00 AM(View: 6738)
Kẻ đào ngũ trong Phá Vây của Phù Thăng - Trần Hoài Thư

Kẻ đào ngũ trong Phá Vây của Phù Thăng

Phá Vây của Phù Thăng được nhắc nhở nhiều bởi vì tác phẩm này nằm trong danh sách “tai nạn văn chương”.
Trên Diễn đàn sách xưa (sachxua.net) có đăng phần tiểu sử và một vài ý kiến về lý do tại sao tác giả bị đày đọa, trù dập:


blank

(hính từ website: sachxua.net)



Nhà văn Phù Thăng, tác giả tiểu thuyết Phá vây, đã qua đời vào trưa ngày 21.2 tại quê nhà, xã Cộng Lạc, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, hưởng thọ 81 tuổi. Nhà văn Phù Thăng tên thật là Nguyễn Trọng Phu. Năm 1947, ông vào bộ đội, là Trung đội trưởng trinh sát Trung đoàn 42 – trung đoàn chủ lực Liên khu 3. Năm 1954, ông về công tác tại đơn vị bộ đội xây dựng công trường thuộc Quân khu 3. Năm 1959, về Phòng Văn nghệ quân đội phụ trách biên tập. Năm 1960, ông được biên chế về Xưởng phim Quân đội và viết kịch bản phim.

Sau sự kiện tác phẩm “Phá vây” năm 1963, ông chuyển sang Báo Thể dục Thể thao. Năm 1964, ông chuyển về Xưởng phim truyện Việt Nam, sáng tác kịch bản phim cho đến năm 1988 nghỉ hưu tại quê nhà.

Bút danh Phù Thăng là nói lái của Thằng Phu

Một số tác phẩm tiêu biểu
Con nuôi của trung đoàn
Phá vây
Trường ca Hoa vạn thọ (giải ba cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam, năm 1960)
Kịch bản phim: Biển lửa, Quê nhà, Tiếng gọi phía trước…

Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây.

(Chân dung nhà văn-Xuân Sách)

…Trần Đăng Khoa nói văn tắt trong Chân Dung Và Đối Thoại về nguyên nhân Phù Thăng ‘’mang hoạ’’: ‘’Tập sách sẽ là con thuyền xuôi chèo mát mái nếu không có vài dòng Phù Thăng luận về chiến tranh…’’ (CD&ĐT trang 66).

Nguyễn Quang Thân trên TT&VH số 55 ngày 24.02.2008 – thì trích ‘’cụt lủn’’ về nguyên nhân tai họa của Phù Thăng chỉ do một câu than vãn: ‘’… Đời Lính là đời quá nhọc nhằn’’.

Nói và trích dẫn như vậy quá thiếu, khiến người đọc dễ gây phản cảm : Lẽ nào chỉ viết có thế mà ‘’đầy đoạ’’ một con nguời – một nhà văn đến tận đáy cuộc đời ?

Sự thực đoạn văn nặng kí như sau : ”… Chiến tranh đã gây lên và sẽ gây lên bao nỗi đau khổ, vất vả, tủi nhục, căm giận khác nữa… Chiến tranh không có gì đáng ca ngợi cả, và đời lính chỉ là cuộc đời nhọc nhằn mà thôi. Nếu như trong chiến đãu có thu được cái vinh quang chân chính của nó, thì cũng đã trả một gía quá đắt. Phải sớm kết thúc cuộc đổ mắu cùng những thảm họa của nó !”.

Đây mới là nguyên nhân chính khiến tác giả mang họa.

(nguồn: sachxua.net)


****


Từ những nhận định trên, đã bắt tôi phải ra công tìm cho được tác phẩm này để đọc để biết thực hư thế nào. Tại sao lại gọi là “tai nạn”? Điều gì đưa đến cái mà người ta gọi là “tai nạn” để rồi sau đó mấy mươi năm tác phẩm và người viết được trả lại danh dự?

 

Trước hết là tôi đặt câu hỏi cho những nhà văn, nhà thơ ngay cả những người trong nhóm VANVIET – tức là nhóm bao gồm những nhà văn/nhà thơ độc lập gốc miền Bắc chủ trương một nền văn chương nhân bản, rằng tại sao gọi sự kiện trù dập đày đọa này là một tai nặn ?

Tai nạn có nghĩa là rũi ro, không cố ý. Đây là một quốc sách, một chính sách, một chỉ thị từ ban tuyên huấn, tức là từ Đảng. Mà Đảng thì không bao giờ lầm. Như vậy cái gọi là tai nạn ấy chứng tỏ là Đảng bị lầm, chứ thật ra không cố ý ư?

Đọc cả Phá Vây, cái bóng Đảng như bóng của đôi cánh kên kên che rợp trên từng thân phận con người, từ dân cho tới những người lính. Tôi không hiểu tại sao các ông nhà văn nhà thơ lại không thấy được cái mấu chốt của vấn đề. Cứ đổ thừa tại vì tác phẩm bàn luận về chiến tranh. Xin nhớ rằng tác phẩm nảy được nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản lần đầu tiên vào năm 1963. Bộ chính ủy, tổng cục tuyên huấn ở đâu? Bộ những vị có trách nhiệm xuất bản không hiểu thế nào là “lề trái”, “lề phải” trước khi xuất bản?

Tại sao quí vị ấy lại không dám bơi qua sông như nhân vật Hiếu đã bơi qua sông, dù biết rằng trước sau cũng sẽ phải chết. Đó là một sự thách đố, thách thức của một người trí thức bị lừa gạt, đã nhận chân được đâu là thật đâu là giả dối. Đó là tiếng nói của tuổi trẻ đòi lấy quyền cho mình, không phải vì Đảng hay Doàn hay đù má cái mục đích nhân danh mỹ từ chó đẻ nào hết:

Người ta mà đã ngờ vực điều gì, thì sống cũng chắng yên đâu”. Hừ ! Sống không yên, thì chết cũng được. Một ý nghĩ liều lĩnh nảy ra trong trí tưởng tượng của Hiếu: Ta sẽ chết, một cái chết ra chết, một cái chết khiến mọi người phải suy nghĩ.
(Phá vây, trang 589)

Người ta là ai? Là Đảng. Đảng là ai ? là cái đảng tổ 5 người. Ngờ vực cái gì. Vì Hiếu là một người trí thức, giàu lòng nhân bản. Mà trí thức tức là biết suy nghĩ, biết đâu là chánh là tà, là sự thật và giả dối. Mà nhân bản thì bắt tù binh Pháp, trước khi hỏi khẩu cung, cho ăn uống, và ăn nói đàng hoàng, như người có học, chứ không pohải cái kiểu dùng bạo lực tra tấn…hay cái kiểu “tội ác các anh đáng lẽ bị xứ bắn này cách mạng khoan hồng’ từ cái bọn chăn trâu làm quan tòa sau 1975 !
Cả một chương, tác giả đã dành trọn cho Hiếu. Để Hiếu làm luật sư tự biện hộ lấy mình. Năm 1963, Nhất Linh ở miền Nam tự vẩn bằng thuốc độc và để lại di chúc: Đởi tôi để lịch sử xử…
thì cũng năm ấy, ở miền Bắc, Hiếu để lại chúc thư trong Phá Vây:

Ta sẽ chết, một cái chết ra chết, một cái chết khiến mọi người phải suy nghĩ.

Và anh đã chết thật. Chết bằng viên đạn của người anh ruột của Hiếu. – một đảng viên CS cuồng tín. Giữa em ruột và Đảng, thì Đảng là trên hết, dĩ nhiên. KInh khủng!

 


Trần Hoài Thư
(từ: Blog THT)





*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



hoa_72-content

 

hinh_quang_o_dam_cuoi_o_mai_1-content

 Cindy Y.

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 20, 20192:51 PM(View: 24)
Trước hết, đừng quên nghị quyết của Ủy Ban Cochinchine vào tháng 5/1857. Theo tinh thần Nghị quyết này, Pháp cần biểu dương lực lượng ở Đại Nam, thiết lập một tân trào với nòng cốt là “các thày kẻ giảng, với sự ủng hộ của 600,000 giáo dân Ki-tô.”[1] Petrus Key rời Pinang vào năm 1858, trở lại Cái Mơn của Linh mục Borrelle (Giám mục Lefèbvre đang ở Chợ Quán), và chờ đợi để phục vụ “những nhà giải phóng được Thiên Chúa gửi xuống cứu độ giáo dân An Nam.” Vì Trung tá Jauréguiberry không tin tưởng GM Lefèbvre và từng lên án Lefèbvre phá hoại việc thương thuyết một hòa ước, nên Petrus Key chưa được trọng dụng ngay. Nhưng Petrus Key vẫn được làm thông ngôn ở Chợ Quán, với lương 20 đồng một tháng. Trong một phiếu trình lên Rigault de Genouilly, Jauréguiberry cho biết một thông ngôn tên “Petrus” phải uống thuốc quinine để chữa trị bệnh sốt rét, và ông ta định đưa “Petrus” ra Đà Nẵng để thẩm vấn các quan viên Việt bị Pháp bắt giữ. Tháng 6/1859, Petrus Key tháp tùng Linh mục Theophile
Tuesday, September 17, 20196:27 AM(View: 91)
Ngày hôm sau chúng tôi bay ra Đà Nẵng, thuê xe đi Hội An thăm Dinh phái 1 và Từ Đường phái 2 của dòng họ Nguyễn Tường, sau đó viếng nghĩa trang riêng của gia tộc. Đứng trước hàng bia mộ, nơi yên nghỉ của những người thân yêu, cảm giác này thật khó diễn tả! Cảm giác ấy vừa mơ hồ lại vừa cụ thể như phảng phất đâu đây cái kì bí giữa hai cõi âm dương. Sau hai ngày ở Đà Nẵng và Hội An chúng tôi ra Huế. Không khí ở đây có phần mát mẻ và tĩnh lặng hơn. Tôi tiếc là chưa có dịp đi đò trên sông Hương để nghe nhạc cung đình Huế. Đọc tác phẩm “Mưa trên cây sầu đông” của Nhã Ca, tôi định bụng ra Huế lần này sẽ coi thử “cây sầu đông” (còn gọi là “cây xoan”) xem nó ra thế nào, và tại sao người ta hay ví con gái đẹp với khuôn mặt trái soan? Vậy mà Huế đã vào đông rồi mà cây sầu đông tôi vẫn chưa có dịp nhìn thấy. Vì gia đình cháu Tường Anh chỉ có gần hai tuần lễ ở Việt Nam mà chương trình kéo dài từ Nam ra Bắc nên chúng tôi đến nơi nào cũng chỉ “cưỡi ngựa xem hoa” rồi lại vội vã lên đường đi
Thursday, September 12, 20198:46 AM(View: 225)
Đầu năm 1970, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Trần Quốc Lịch được thăng cấp Đại Tá Nhiệm Chức, chỉ huy các tiểu đoàn cơ hữu (TĐ 5, 7, 11) và các đơn vị tăng phái, thống thuộc hành quân trong giai đoạn 1970-1972. Tháng Chín, 1972, do công trận, chiến tích các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 2 thâu đoạt, Đại Tá Lịch được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng; 1 Tháng Mười Một, 1972, Đại Tá Lịch tiếp thăng cấp chuẩn tướng nhiệm chức; Tháng Bảy, 1973, Chuẩn Tướng Lịch được lệnh bàn giao Sư Đoàn 5 lại cho Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tiếp giữ chức vụ chánh thanh tra Quân Đoàn IV/Quân Khu 4. Cuối năm 1974, Chuẩn Tướng Lịch bị câu lưu do tội danh tham nhũng, tạm giam tại Đề Lao Chí Hòa, buộc phải giải ngũ, giáng xuống cấp đại úy! Phiên tòa quân sự chính thức xét xử Đại Úy Trần Quốc Lịch về tội danh tham nhũng chưa thực hiện thì xẩy ra biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Vụ án Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch chìm khuất trong đại nạn nước mất nhà tan. Chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội
Tuesday, September 10, 20198:45 PM(View: 118)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn. Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đình
Wednesday, September 4, 201911:51 AM(View: 98)
Đến với nhau trong văn chương không phải là sự tình cờ. Và vì vậy, khi Nguyên Minh đến với thế giới chữ nghĩa là mang đến cả một niềm đam mê không biết mệt mỏi. 18 tuổi anh và bạn bè làm tờ Gió Mai ở Huế. Và từ đó đến nay anh có hơn 50 năm tuổi nghề, mặc dù có những lúc, thời gian đã chặn anh lại nửa đường. Nhưng thời gian mang những dấu ấn lịch sử kia đã không thể trói tay chân, đầu óc anh. Hết Gió Mai, ở Phan Rang anh lại cùng Ngy Hữu và bạn bè ra tờ Ý Thức, tờ báo in ronéo đẹp nhất Miền Nam thời bấy giờ và cũng tập trung đông đảo người viết trẻ nhất. Cả cuộc đời Nguyên Minh không thể thiếu mùi mực in, mùi giấy và kim chỉ. Vắng chúng chừng như anh không thể nào sống nổi thêm giây phút nào nữa, như một Trần Hoài Thư ở New Jersey vừa khâu sách trên bàn ăn tối vừa tiếp bạn xa! Thời in ronéo chấm dứt, có lúc Nguyên Minh thẫn thờ như kẻ mất hồn giữa thị trấn tràn gió và cát bay. Anh quyết định bỏ Phan Rang, chốn quê nhà yêu dấu của mình, vào Sài Gòn để làm một điều gì đó cho văn chương,