DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,708,256

Bùi Văn Phú - Gs. Lý Chánh Trung có là trí thức cánh tả?

19 Tháng Ba 201612:00 SA(Xem: 1904)
Bùi Văn Phú - Gs. Lý Chánh Trung có là trí thức cánh tả?

Gs. Lý Chánh Trung có là trí thức cánh tả?

 

 

blank

Gs. Lý Chánh Trung (1928-2016)



Giới trí thức thời Việt Nam Cộng hòa ai cũng nghe biết đến giáo sư Lý Chánh Trung qua những bài viết gây sôi nổi về tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và về tinh thần tôn giáo nhập thế.
Qua những tập sách, cùng hàng trăm bài viết trên các báo, ông đưa ra lý luận triết học, những cái nhìn từ đường phố, qua đó phản ánh quan điểm của ông là chống lại sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, là mơ ước một xã công bằng, không còn cảnh người giầu bóc lột người nghèo.

Trong sinh hoạt của giới trí thức thời đó, giáo sư Trung không chỉ ngồi trong tháp ngà hay quanh quẩn ở sân trường, nơi giảng đường đại học để nói những điều lý thuyết mà ông đã dấn thân, xuống đường cùng với những nhà đối lập, những lãnh đạo tôn giáo, với thanh niên, sinh viên vì mục tiêu độc lập, tự chủ của đất nước. Ông tham dự ngày Ký giả Ăn mày dưới đường phố Sài Gòn, ông đến chùa Quảng Hương dự lễ ra mắt của Mặt trận Nhân dân Cứu đói.

Sinh hoạt của các phong trào, mặt trận này sau ngày 30/4/1975 đã được nhiều lãnh đạo thành đoàn xác nhận là những bình phong hoạt động của cộng sản.
Qua tác phẩm “Tìm về dân tộc”, xuất bản lần đầu năm 1967, khi tình hình chính trị miền Nam đầy rối ren và lính chiến đấu Mỹ đã được đưa vào Việt Nam, ông lên tiếng cảnh báo về một đất nước đang rơi vào hoàn cảnh bị đô hộ bởi người Mỹ, sau nhiều năm bị đô hộ bởi thực dân Pháp, cho dù ông đã được theo học ở các “trường dòng”, tức trường công giáo, từ Taberd ở Sài Gòn, Providence (Thiên Hựu) ở Huế và ông đã theo đạo công giáo năm 20 tuổi, chọn tên Thánh là Phêrô. Năm 1950 ông đi du học Bỉ tại Đại học Công giáo Louvain và tốt nghiệp cử nhân tâm lý học và cử nhân chính trị học.

Năm 1956 ông về nước, làm việc tại Bộ Giáo dục với chức Công cán ủy viên rồi lên đến Đổng lý văn phòng của bộ này. Ông cũng dạy triết tại các đại học ở Sài Gòn, Huế, Đà Lạt.
Ông chủ trương một đất nước hoàn toàn độc lập, không chấp nhận có trường Tây trên lãnh thổ miền Nam, vì cho rằng như thế sẽ đào tạo ra một lớp người Việt vong bản, mất gốc ngay trên quê hương. Ông kêu gọi phụ huynh cho con em theo học trường Việt cho dù số học sinh quá đông, đến 60 trong mỗi lớp, và trường sở phương tiện giáo dục còn thiếu thốn.
Rồi những năm sau đó ông lại chê hệ thống giáo dục của miền Nam khi ông viết trên báo Điện Tín ngày 20/1/1972:

Ngay trong một môi trường tương đối thuận lợi như VĐH Đà Lạt, tôi thấy công cuộc giáo dục chẳng đi tới đâu hết cả, ngoài cái việc cấp phát hằng năm một mớ văn bằng. Những văn bằng mỗi năm thêm mất giá! Chẳng những mất giá vì trình độ sút giảm mà còn mất giá vì văn chương chữ nghĩa ngày nay đã rẻ hơn bèo, vì bực thang giá trị đã hoàn toàn đảo lộn, vì chiến tranh đã bít nghẽn mọi tương lai”. [“Đối diện với chiến tranh” tr. 165. Lý Chánh Trung, Nxb Trẻ 2000]

Từ những cái nhìn về triết học, tôn giáo, và trên quan điểm dân tộc giáo sư Lý Chánh Trung đã tham gia vào chính trị, vào các phong trào tranh đấu.



blank

Tác phẩm của Gs. Lý Chánh Trung


Trước Tết năm 1968, ông cùng 65 giáo chức đại học ký tên vào một thư ngỏ với mục đích kêu gọi ngưng bắn giết trên quê hương: “Để có không khí thích hợp cho những cuộc đối thoại cởi mở giữa những phe tham chiến và nhất là để cứu hàng ngàn người tiếp tục đổ máu trong khi những người có trách nhiệm đang đi tìm sáng kiến giải quyết xung đột, chúng tôi thiết tha kêu gọi các phe tham chiến hãy kéo dài vô hạn định thời gian hưu chiến nhân dịp Tết Nguyên đán và tìm phương thức tiến ngay đến hòa bình thực sự”. [Báo Sống Mới ngày 24/1/1968, in lại trong “Đối diện với chiến tranh” tr. 22]

Một tuần sau khi lời kêu gọi được đưa ra, bộ đội cộng sản Bắc Việt mở những cuộc tấn công vào các tỉnh thành miền Nam ngay trong những ngày đầu năm âm lịch. Đó là Tổng Tấn công Tết Mậu Thân đã đi vào lịch sử của cuộc chiến tranh tàn khốc trên quê hương.
Lời kêu gọi đó của những người trí thức, vì thực sự muốn hòa bình hay việc làm này đã được một ai trong lãnh đạo thành đoàn cộng sản chỉ đạo, để che đậy cho chiến dịch tấn công quân sự đang được khai triển? Nghi vấn đó cũng đã được nhiều người đặt ra cho giáo sư Lý Chánh Trung: Ông chỉ là người trí thức công giáo cánh tả, thuộc Thành phần thứ Ba hay ông được cộng sản móc nối để hoạt động nội thành?

Trong quá khứ ông đã phát biểu rằng ông không là đồng chí với người cộng sản mà chỉ đồng hành với họ. Ông được cho là đứng chung với những nhóm tranh đấu cho một miền Nam không lệ thuộc ngoại bang, không cộng sản.

Nhưng nhìn lại các phong trào tranh đấu chống chính quyền ở miền Nam, sau ngày 30/4/1975 nhiều cán bộ nội thành đưa ra những bằng chứng cho thấy nhiều tổ chức cánh tả và Thành phần thứ Ba đã được điều phối bởi cộng sản.

Những nhân vật chính trị như Ngô Công Đức, Nguyễn Văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quý Chung; tôn giáo như Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín và thành phần sinh viên học sinh như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Công Khế, Ngô Kha, chưa kể đến những người đã quyết định vào bưng theo cộng sản như Trương Như Tảng, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường v.v…

Sau ngày 30/4/1975 giáo sư Lý Chánh Trung đã bị nhiều sinh viên một thời xem ông là thần tượng phản đối vì thái độ ủng hộ chính quyền mới của ông trước vấn đề sinh viên không được học hành mà bị bắt buộc phải đi nghe nhà nước tuyên truyền chính trị, về vấn đề học tập cải tạo kéo dài đối với quân cán chính miền Nam.
Trong khi đó ông tham gia Mặt trận Tổ quốc, là ủy viên ban chấp hành trung ương, làm phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh và được đưa vào Quốc hội các khoá VI, VII và VIII.
Ông chỉ bị thất sủng và sau đó bị loại ra khỏi các chức vụ nhà nước sau khi ông phát biểu năm 1988 về việc bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tức thủ tướng, mà chỉ có một ứng cử viên. Ý của ông là không muốn bầu cử độc diễn vì trước đây ở Sài Gòn ông đã chống lại ông Nguyễn Văn Thiệu ra tranh cử chỉ có một mình vào năm 1971.

Khoảng thời gian đó là lúc có chính sách đổi mới về kinh tế và cởi trói về văn nghệ nên ông còn mời nhà văn Dương Thu Hương đến nói chuyện về những tác phẩm của bà.
Giáo sư Trung cũng được chú ý đến nhiều khi viết bài trên báo đưa ra nhận định là môn học chính trị về triết thuyết Mác-Lê không còn hợp thời đại vì thày thì không muốn dạy và trò cũng không còn muốn học.

Sau khi các chế độ cộng sản ở Đông Âu sụp đổ và Liên bang Xô-viết tan rã thì ở Việt Nam mọi thứ lại bị xiết lại, với cá nhân ông, cũng như trong sinh hoạt của giới trí thức, văn học.



blank
50 bài báo trước năm 1975 của Gs. Lý Chánh Trung
được xuất bản trong nước năm 2000



Giới trí thức miền Nam cũ mong đợi ông sẽ có những thái độ với nhà cầm quyền cộng sản trước những bế tắc của xã hội do bởi chính sách độc tài chuyên chính dựa trên chủ thuyết Mác-Lê, như một số nhân vật đã lên tiếng là Tướng Trần Độ, nhà toán học Phan Đình Diệu, ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách, linh mục Chân Tín, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, luật sư Đoàn Thanh Liêm, giáo sư Đoàn Viết Hoạt, luật sư Lê Hiếu Đằng v.v… Nhưng ông đã không lên tiếng.
Kể từ đầu thập niên 1990 ông hầu như im lặng trước những vần đề của thời cuộc.

Đến năm 2000, 50 bài viết của ông từ thời Việt Nam Cộng hòa được cho phép in lại trong tập “Đối diện với chiến tranh”. Đó là những bài chọn ra từ 300 bài viết đã được đăng trên các báo ở miền Nam như Sống Mới, Đối Diện, Tin Sáng, Điện Tín trước năm 1975.

Nhiều người trách thái độ xu thời theo cộng sản của ông. Theo hồi ký của kỹ sưVõ Long Triều, một người từng là bạn của giáo sư Trung, thì đó là vì thái độ ham danh lợi của ông.
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa giáo sư Lý Chánh Trung năng nổ xuống đường, có dăm bảy tác phẩm được xuất bản và rất nhiều những bài chính luận, nhận định về sự đồi trụy văn hóa, bất công xã hội, về nguy cơ bị nô lệ ngoại bang đã được đăng trên các báo và tạp chí.
Nhưng trong 40 năm sống với cộng sản, ông dường như im lặng trước một xã hội vẫn đầy bất công, nền giáo dục xuống cấp, hòa hợp hòa giải dân tộc không có, quyền tự quyết không được tôn trọng là những điều trước đây ông luôn quan tâm và công khai lên tiếng.

Giáo sư Lý Chánh Trung sinh ngày 23/12/1928 tại Trà Vinh, mất ngày 13/3/2016 tại Sài Gòn, hưởng thọ 89 tuổi.
Các tác phẩm của ông: Cách mạng và đạo đức (1960), Ba năm xáo trộn (1967), Tìm về dân tộc (1967), Tìm hiểu nước Mỹ (1969), Những ngày buồn nôn (1972), Tôn giáo và dân tộc (1973) và Đối diện với chiến tranh (2000).



Bùi Văn Phú
(từ: DĐTK)





*






Truyện dài


 

Mẫu Hệ



tác giả


Trần Yên Hòa
 


(tái bản, 2016)


đã phát hành toàn cầu



Nhà Xuất Bản Bạn Văn Nghệ (tái bản) 2016, phát hành

trên hệ thống Amazon

428 trang, bìa màu láng.

Giá:

$17 USD


Quý độc giả khắp nơi muốn mua sách xin click vào:




Amazon Mẫu Hệ






Tran Triet's photo.

 


*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



hoa_72-content

 

hinh_quang_o_dam_cuoi_o_mai_1-content

 Cindy Y. Tran

 







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:31 SA(Xem: 27)
Năm 1979 là năm tệ hệ nhất của đời tôi ở cái đất Sài thành. Ban ngày tôi ra chợ sách bán sách và thuốc lá ké một góc sạp sách của người bạn cùng đơn vị trước 75 để kiếm sống qua ngày. Sách lèo tèo vài ba cuốn. Thuốc lá thì vài bao. Vốn liếng đều do cô bạn nhỏ cùng quê tốt bụng giúp đỡ. Nhiều bữa không bán buôn được gì tôi chạy ra đầu đường uống nước máy trừ cơm. Ban đêm rúc vào một góc nào đó ngủ bụi. Vậy mà cũng lây lất ngày này qua tháng nọ như một phép lạ. Một hôm, anh bạn trẻ Đỗ Thất Kinh từ trên Bản Thuột về Sài Gòn tìm kế sinh nhai, may mắn tìm được một chân giao bơ đậu phọng cho khách hàng. Đang đói, tôi bám theo liền. Chật vật vậy mà hai anh em cũng sống qua ngày. Có điều ban đêm tôi phải tìm chỗ ngủ vì bạn tôi cũng ở lậu; rầy đây mai đó nhưng khá hơn tôi là bạn ngủ dưới một mái nhà.
21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 196)
Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 301)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 124)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 212)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương