DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,825,406

Bụi đời (Chương 2, tiếp) - Triệu Xuân

19 Tháng Ba 201612:00 SA(Xem: 1832)
Bụi đời (Chương 2, tiếp) - Triệu Xuân
Bụi đời




Image result for bụi đời triệu xuân



Chương 2

tiếp



Tuấn đạp xe phom phom trên đường. Đây là chiếc xích lô mới toanh mà thằng Ngọ dẫn Tuấn đi mua. Sau lần cho Tuấn chơi "nhất dạ đế vương", thấy Tuấn cứ băn khoăn mãi về chuyện tiền bạc, Ngọ nói:

- Tao cho mày mượn. Làm ăn khá sẽ trả tao, kẹt thì thôi. Với tao, hai ba chỉ có nhằm nhò gì. Tao mong giúp mày.

- Mày không đặt điều kiện gì thật sao?

- Không!

- Tao cám ơn mày. Tao nhớ ơn mày suốt đời.

Và cuộc đời lại tươi đẹp trong mắt Tuấn. Có tiền trang trải xong nợ nần, có chút tiền kiếm được hàng ngày, gia đình Tuấn đã có cơm ăn no. Tuấn lại lo đi tìm Diệp. Mỗi đêm, sau khi tìm Diệp đến khuya mà không thấy, Tuấn buồn bã đạp xe về, không sao ngủ được. Những đêm sau đó, Tuấn biết tìm cách nguôi ngoai cõi lòng: Kiếm một cô gái có vẻ trẻ và sạch sẽ nhất trong tụ điểm gái chơi Tao Đàn, chở trên xe xích lô, tấp vào một xó kín nào đó... Với kiểu cách ấy, Tuấn về đến nhà mệt rã rời, nằm xuống là ngủ thiếp đi luôn cho đến bảy giờ sáng hôm sau.

Đời một phu xích lô không bao giờ có tiền để dành. Tuấn vất vả lắm mới kiếm đủ tiền nuôi má và hai em. Rồi má Tuấn chết. Ngọ lại đến đúng lúc. Nó bỏ tiền ra cho Tuấn lo tang lễ. Tuấn không ngờ thằng Ngọ chí cốt với Tuấn đến vậy. Người mẹ mù lòa đáng thương của Tuấn được mồ yên mả đẹp. Tuấn mang ơn Ngọ suốt đời.

Tuấn đã hứa với má trước khi bà nhắm mắt lìa đời là sẽ nuôi hai em ăn học thành người. Bà mẹ nghe con trai nói câu đó rồi trút hơi thở tàn. Thằng Hùng, cái Thoa rất ngoan và siêng học. Trong con hẻm này, ai cũng tấm tắc khen hai anh em nó. Chúng nó không bao giờ chửi thề. Chúng nó đến trường hàng ngày, không bao giờ chơi bài bạc, không hề ăn cắp vặt. Đó là những điểm khác hẳn với trẻ con trong hẻm.

Má Tuấn chết được một tuần, Ngọ mua gà, rượu và trái cây về cho Tuấn cúng tuần. Đêm ấy, hai đứa uống nhiều. Lúc Ngọ ra về, Tuấn nắm tay Ngọ:

- Ngọ ơi, tôi... biết lấy gì đền ơn Ngọ?

- Có chi, có chi. Thôi, ngủ đi cho khỏe, mai chạy xe. Độ này tao thấy mày xuống sức quá. Tao thương mày, Tuấn à.

- Tại tôi mất ngủ vì thương má. - Tuấn rơm rớm nước mắt.

- Tao biết. Ngày ba má tao chết trận, tao còn bé, chả biết gì. Dù sao, má mày chết đi... đỡ cực cho... bà ấy. - Ngọ toan nói đỡ "cực cho mày" nhưng kịp sửa lại - Mày có nhớ con bé mắt một mí đó không?

Tuấn cười, gật đầu, lấy tay lau nước mắt.

- Sáng mai, đến thăm các em cho khuây khỏa nghe. Cứ sầu thảm mãi như vầy, còn làm ăn gì được!

Chín giờ sáng, Ngọ đến nhà Tuấn. Nó đi bộ.

- Xe Honda đâu? - Tuấn ngạc nhiên hỏi.

- Lâu lâu, mày chở tao coi!

- Ồ! Còn gì bằng. Mày sẽ thấy tao chạy xe tuyệt vời.

Tuấn chạy xe quả là tuyệt vời. Qua cầu Thị Nghè, Tuấn co người đạp. Xe xích lô của Tuấn vượt qua tất cả các loại xe, trừ xe hơi. "Nếu không có cảnh sát, tao qua mặt cả xe hơi". Tuấn thấy hứng. Nó tự hào khoe với Ngọ. Nó cảm thấy hãnh diện được phục vụ Ngọ, người mà nó hàm ơn.

Hai đứa chơi trò "nhất nhật đế vương". Hôm nay không phải chỉ ba em mà tới sáu em phục vụ. Tắm hơi, xoa bóp, làm tình, ăn uống, đùa giỡn, coi bói, coi phim con heo, lại xoa bóp, lại ăn uống, lại vừa làm tình vừa coi phim con heo. Tuấn cảm thấy cuộc đời có lý quá. Tội gì mà suy tư. Cứ mặc sức tận hưởng. Cao hứng, nó còn đọc thơ Lý Bạch, bài "Tương Tiến Tửu":

 Nhân sinh đắc ý tu tận hoan

 Mạc sử kim tôn không đối nguyệt!

Nó đọc thơ bằng âm Hán-Việt, rồi dịch nghĩa một cách sành sỏi khiến các em phục nó, tán tụng nó là "thi sĩ trứ danh". Khi Tuấn vừa giảng giải xong hai câu thơ trên: "Đời người khi đắc ý nên tận hưởng niềm vui. Đừng để chén vàng cạn trơ dưới ánh trăng", thì các em reo lên, chúc rượu Tuấn. Em Tuyết cầm lon bia Heineken rót vào vai Tuấn cho chảy tràn xuống ngực, và cô gái mắt một mí ấy uống bia trên ngực Tuấn. Đúng lúc ấy, chuông điện thoại réo. Nữ chủ nhân giơ tay ra hiệu cho tất cả im lặng.

- Hello! Xin lỗi, ai đầu dây đó ạ?

-...

- A! Anh Năm! Good morning Mr Năm. How are you?(1)

Tuấn thấy mụ ta phát âm tiếng Anh khá hay. Bên kia đầu dây nói gì đó, mụ cười ré lên, đáp lại:

- I'm fine, thanks.(2)

-...

- Sao? Ngay bây giờ à? Mấy người? Ba người à? Nhân vật rất quan trọng à? Ông lớn à? Rất tiếc! Em không tiếp khách hôm nay. Hẹn đến tối được không? Dạ. Dạ. Em chờ anh Năm mà! Không tiện đi ban đêm? Dạ. Sáng mai vậy. Dạ. Em chờ mà cưng. Dạ. See you tomorrow morning. Good-bye.(3)

Mụ buông ống nghe, thở dài nói với Ngọ và Tuấn:

- Lại phải tiếp mấy thằng cha chuyên đi chùa(4) không hà. Không tiếp là bị "hốt ổ" ngay! Mấy em chuẩn bị nghen. Sáng mai, anh Năm đưa khách bự tới đó! Phải chiều khách hết ga nghen.

Tuyết lên tiếng:

- Cái gì bự hả cô Ba? Em sợ nhất là mấy lão bụng bự thôi. Nó đè em nghẹt thở mà chẳng làm nên trò gì. Mấy lão bụng bự đáng đem bắn bỏ!

- Không phải bụng bự mà là "ghế" bự, hiểu chưa? Làm trái ý mấy ông lớn là rũ tù cả đám nghe không?

- Dạ nghe ạ. Cái gì bự cũng ô kê, trừ cái bụng!

Cả bọn phá lên cười. Tuyết lao vào Tuấn, lôi Tuấn vô phòng riêng.

Năm giờ chiều, hai đứa rời "động" Cô Ba. Ngọ hỏi Tuấn:

- Mày có đói không?

- Có.

- Đi ăn nghe?

- Đừng vô nhà hàng, mắc mà không ngon.

- Ừ. Mày thích ăn gì?

- Vô tiệm lẩu dê.

- Số dách. Mày giống tao y chang.

Hai đứa ăn uống no say. Ngọ bảo Tuấn bằng cái giọng tự nhiên như nói một câu chuyện bình thường:

- Mày về nhà ngủ. Ngủ cho ngon. Đúng ba giờ sáng, dậy đạp xích lô đến đón tao tại... - Nó ghé sát tai Tuấn nói địa chỉ - Mày biết nơi đó chớ?

- Chỗ đó là nhà ai?

- Nhà bồ của tao!

- Sao phải đón sớm vậy?

- Giờ đó mày đi là giờ người ta chạy xe ba bánh đi Chợ Lớn rồi, không sớm đâu. Cố gắng đến địa chỉ vào ba giờ hai mươi nghe.

- Được. Tao đúng hẹn mà.

- Ô kê. Mày dông đi.

Công việc đầu tiên mà Ngọ nhờ, cái hẹn đầu tiên mà Ngọ hẹn, Tuấn chỉ lo ngủ quên. Tuấn vặn đồng hồ lúc hai giờ ba mươi đổ chuông. Cẩn thận hơn, Tuấn dặn các em, nếu thấy chuông đổ thì kêu dậy.

Đặt lưng xuống giường, Tuấn ngủ say như chết. Tuấn ngủ mà không hề mộng mị. Tuấn không mơ thấy Diệp nữa. Khi chuông đồng hồ reo, Tuấn nghe mang máng bên tai nhưng không tài nào mở mắt nổi. Sức lực bỏ ra chạy xích lô suốt ngày quả là không thấm gì so với sức lực trút vào các em ở "động" Cô Ba. Tuấn mệt rã nhưng cũng đầy thỏa mãn. Nó tự hào vì đã được thỏa sức tận hưởng. Hồi chuông đồng hồ hết giây, im lặng trở lại. Chợt Tuấn giật mình vì tiếng lịch kịch bên nhà ông Tư hàng xóm. Bà Tư bán xôi ở chợ Thị Nghè. Sáng nào, bà cũng dậy rất sớm, dậy đúng vào lúc ba giờ mười lăm để nấu xôi. Tuấn vùng dậy. Chết rồi! Trễ hẹn thì còn mặt mũi nào nhìn Ngọ nữa. Tuấn đạp xe như điên trên đường. Nhờ tốc độ cực lớn, nó đến địa chỉ chậm có năm phút. Có hai bóng đen ở gốc cây me xuất hiện. Ngọ vẫy tay gọi Tuấn. Xe đến, hai người lên xe. Ngọ bảo đây là bạn nó, bị bệnh, nó cần đưa bạn đến ông thầy lang ở Biên Hòa bằng chuyến tàu sớm. Tuấn chỉ cần chạy đến ga Hòa Hưng là được.

Tuấn không hề hay rằng, người ngồi trên xe, đội nón, quấn khăn kín đầu kia chính là Nhân đại bàng. Nhân và Ngọ vừa thực hiện một quả đầy khó khăn. Không hiểu thuốc mê dởm hay sao mà khi Ngọ đang mở khóa, Nhân đại bàng đang làm thịt cô con gái thì bố cô ta tỉnh dậy. Ông ta cầm cây gậy có sẵn ở đầu giường phang vào đầu Nhân. May mà vì sức yếu, cú đánh thượng của ông già không nhằm nhò gì. Cũng rất may là ông già không kêu la mà chỉ hành động. Ngọ nhào tới. Nó bóp cổ cho ông già há miệng ra rồi nhét khăn vào. Sau đó, nó ấn cả hũ thuốc mê cho ông già thiếp đi. Toàn bộ số tiền hai bố con ông già vừa bán thùng đồ mới nhận, bị Ngọ và Nhân vét sạch. Hai đứa xóa dấu vết. Chờ mãi không thấy Tuấn, Nhân đang hằm hè chửi Ngọ thì Tuấn đến.

Tuấn đưa Ngọ và người bệnh đến ga Hòa Hưng.

Ngọ bảo Tuấn:

- Đi liền đi.

- Để tôi phụ anh đưa ảnh lên tàu.

- Tao biểu đi liền đi! - Ngọ quát.

Ga Hòa Hưng là nơi thuận lợi nhất đối với Nhân và Ngọ. Từ đây, chúng có thể tẩu tán rất nhanh theo con đường nhỏ dần về khu Cống Bà Sếp, hoặc leo tàu đi đến bất cứ nơi nào chúng cần xuống. Ở Cống Bà Sếp, Nhân có một người mẹ già. Hai đứa chia tiền rồi chia tay. Nhân bảo Ngọ nhớ cho Tuấn tiền.

- Dạ. Đại ca khỏi lo!

- Lâu lâu, hãy cho nó nhập cuộc để nó quen dần...

- Dạ.

Tuấn còng lưng đạp xe suốt ngày hôm đó được mười lăm đồng bạc. Về tới nhà, hai đứa em đang chờ Tuấn. Chỉ có một nồi cơm, chưa có thức ăn. Tuấn đưa tiền cho Thoa chạy ra chợ mua rau về nấu canh chua với tôm khô. Ba anh em ăn cơm, trò chuyện vui vẻ. Thằng Hùng khoe nó được cấp giấy khen. Cái Thoa kể với hai anh chuyện nó được thầy hiệu trưởng khen ngợi trước toàn trường trong lễ chào cờ đầu tuần. Ngọ đến. Nó đưa cho Tuấn một ngàn đồng.

- Tiền gì đây? Anh cho tôi vay hoài sao?

- Không. Của anh bạn gửi cho đó.

- Anh bạn sáng nay à?

Ngọ gật đầu.

- Ảnh đang bệnh mà! Sao anh còn nhận?

- Nghe tao kể về gia cảnh mày, ảnh thương, ảnh gửi cho.

Tuấn cầm tiền, cúi đầu, cảm động không nói nên lời. Ngọ nhỏ nhẹ:

- Tao đã biểu mày từ lâu, vô hội ăn chơi của tao là yên chí lớn. Mày sẽ thấy mọi người đối xử rất sòng phẳng và nghĩa khí. Thôi, tao về nghe. Mày lo may sắm quần áo cho cả ba anh em. Mày ăn mặc lùi xùi quá. Mai mốt, tao còn dẫn mày đi tiêu khiển ở "động" đặc biệt, mang lại hứng thú gấp ngàn lần những thứ mày đã biết. Đến đó rồi, mày sẽ muốn tới đó suốt đời...



*

Điều Ngọ hứa với Tuấn chính là ma túy.

Vào những năm trận mạc ác liệt nhất tại Việt Nam, đội quân viễn chinh Mỹ thực thi sứ mệnh "bảo vệ tự do" tại xứ sở nhiệt đới này đã thực sự là nguồn quảng bá và tiêu thụ xì ke rất lớn. Cùng với bom đạn, chất độc hóa học, việc quảng bá xì ke, lối sống hưởng lạc, người Mỹ quả là đã làm được một kỳ tích: hủy hoại nền tảng đạo lý của dân bản xứ, đặc biệt là giới trẻ.

Có một người, vào thời kỳ ấy, nhìn thấy Đức Mẹ hiển hiện... Người ta liền cho xây ở nơi Đức Mẹ giáng trần một nhà thờ lớn, mang tên "Fatima", và kế đó là nhiều tòa nhà đồ sộ dùng làm trường học của giáo xứ - gần ga Bình Triệu, Thủ Đức. Dân mộ đạo trong miền nườm nượp về đây để cầu nguyện và cúng quả. Trên con đường từ quốc lộ dẫn vào nhà Chúa, người ta cho dựng ở giữa tim đường liên tiếp những bức tượng miêu tả cảnh Chúa Giêsu khổ nạn, vác cây thánh giá lên ngọn đồi chịu hành hình. Giáo xứ Fatima có lẽ đã động lòng Chúa ở trên cao, cho nên... hòa bình đã được vãn hồi. Sau năm 1975, một phần cơ sở giáo hội Fatima, tức là trường đào tạo các tu sĩ, đã được Nhà nước sử dụng vào mục đích y tế.

Ngày 23 tháng mười một năm 1975, một trung tâm chữa trị bệnh ghiền ma túy mang tên "Trường Phục hồi nhân phẩm" được thành lập. Dân ghiền Sài Gòn không chịu nổi cái danh "Trường Phục hồi nhân phẩm". Họ căm thù cái tên ấy và những nhân viên của nó. Họ gọi vắn tắt bằng "bọn Fatima". Họ xa lánh "bọn Fatima" như xa lánh quỷ sứ. Họ liên kết với nhau để khủng bố nhân viên Fatima khi có điều kiện. Họ bố trí "trinh sát" thường trực ở Sở Công an, Sở Thương binh - Xã hội và đặc biệt là ở trung tâm cai xì ke Fatima để thông tin cấp kì về những biện pháp, những chiến dịch "gom quét" dân ghiền, đĩ điếm.

Ở Fatima luôn luôn có một ngàn dân ghiền được chữa trị. Lớp cũ chưa ra, lớp mới đã vô. Có lúc, tại Fatima, con số "học viên" lên tới một ngàn năm trăm người.

Đứng đầu ban giám đốc Fatima là một người tầm vóc nhỏ bé, đã gần năm mươi tuổi: ông Quang.

Ông Quang làm việc trong một căn phòng rộng chưa đầy chín mét vuông, chỉ vừa đủ kê một bộ xa lông, một chiếc bàn làm việc giống y hệt cái bàn nhỏ của học trò. Tất cả đồng nghiệp của ông đều làm việc trong những ô vuông rất nhỏ. Toàn bộ diện tích được nhường cho việc chữa trị, ăn ở, vui chơi, lao động của học viên. Ở đây có mấy từ bị cấm ngặt: không được gọi "dân ghiền", gọi "con nọ", "thằng kia". Chỉ được gọi "anh, chị, em học viên" mà thôi. Nhân viên Fatima nào lỡ lời nói nặng với học viên sẽ bị kỷ luật.

Ông Quang và các đồng nghiệp của ông ăn cơm cùng bếp tập thể với học viên, cùng chén đũa, bàn ghế tại nhà ăn tập thể. Thức ăn, đồ uống y hệt của học viên.

Thành phố Sài Gòn đang lâm nạn đói. Bữa ăn tại Fatima vô cùng kham khổ. Ông Quang se lòng, không nuốt nổi chén cơm độn hai phần ba hạt bo bo, khi nhìn thấy các em học viên của ông bỏ ăn vì không ai ăn nổi. Những thân hình tiều tụy, răng long tóc rụng, lở ghẻ cùng mình, môi thâm, vai so lại, chân tay run rẩy, mang theo đủ thứ bệnh lậu, phổi, thận, gan, mục xương, nhiễm trùng máu, v.v. đang lặng lẽ đi qua trước mặt ông. Ông Quang cảm thấy mình có tội.

Ở gốc cây điệp, một học viên ôm đàn ghi ta hát bài ca anh tự sáng tác. Anh vốn là một nhạc sĩ:

 Mặt trời đen, quá đen, đen như đời ta

 Cuộc đời như chó hoang lang thang về đêm

 Nụ cười ta đánh rơi mất khi còn thơ

 Từng niềm tin vỡ tan, bước xa mộng mơ...

Lời ca thật não nùng, oán than... Ông Quang buông đũa đứng dậy. Ông Tình - phó giám đốc - hỏi:

- Anh không ăn được sao?

- Ông ăn đi, tôi thấy mệt quá.

Ông Quang ra ngoài. Trưa nắng chói chang. Ở dọc lối đi của vườn hoa, hàng trăm học viên đang ngồi. Họ cởi trần. Người nào cũng mang trên ngực, trên lưng, trên cánh tay những dấu chàm: "Hận kẻ bạc tình", "Cô đơn", "Đàn bà là rắn độc", "Lỗi đạo làm con", "Xa quê nhớ mẹ hiền", "Khi ta chết, ai xây mồ?", "Hận đời đen bạc", "Sanh nhầm thế kỷ", hình vẽ trái tim bị dao găm đâm thủng tóe máu... Mấy năm qua, ông Quang đã thấy hàng ngàn lần những dòng chữ, hình vẽ ấy trên thân thể tiều tụy của học viên. Đến mức, ông chỉ cần nhìn thoáng là biết dấu chàm ấy mang nghĩa gì. Những người này đang thiếu một thứ, theo ông Quang, không phải chỉ thiếu thuốc. Họ đang thiếu tình thương. Chính những dấu chàm khắc trên ngực, trên lưng, trên cánh tay của họ đã biểu hiện một điều: Họ thiếu tình thương. Ông rất đồng ý với bà Tư giám đốc Sở khi bà nói rằng: "Phải đối xử với học viên như người mẹ đối với con; như người chị, người anh đối với em...". Vậy, liệu có nên chăng cứ duy trì lực lượng cảnh sát canh gác quanh trường như hiện nay? Đây là trường học trở lại làm người, chứ đâu phải nhà tù? Những biện pháp vũ trang bảo vệ đâu có mấy tác dụng. Học viên vẫn tìm cách trốn trường. Vẫn có chuyện đánh lộn, nhảy lầu tự vẫn. Vẫn có băng đưa thuốc vào buôn bán trong trường. Vậy để cảnh sát canh gác làm chi?

Cai ma túy hữu hiệu nhất là phương pháp tự mình. Vậy cai quản cái trường này không gì hơn là để chính học viên tự quản. Không tin làm sao thương? Nói thương các em nhưng lại không tin, nhốt như nhốt tù, ai mà chịu?

Rồi còn chuyện ăn uống. Cực khổ quá. Phải cải thiện bữa ăn. Bằng cách nào? Ngân sách thành phố cấp ít quá, chưa đủ mua gạo, mua chất đốt. Giá chợ tăng với tốc độ vũ trụ... Để các em đói rách như vầy, làm sao mà phục hồi nhân phẩm được? Chính các em học viên đã nhiều lần đề xuất việc này.

A, thôi trúng rồi! Để các em tự quản! Tại sao không cho các em quyền được lao động, làm ra tiền của để sống? Lao động và hiệu quả của nó sẽ giúp các em giành lại niềm ham sống, niềm tin yêu...

Chiều hôm đó, ông Quang trao đổi với ông Tình, với các đồng sự của ông. Ông điện thoại cho giám đốc Sở.

- Chị Tư à, tôi muốn đề xuất với chị hai việc. Không biết có nên nói qua telephone không?

- Chuyện về mấy em, mấy cháu thì cứ nói. Tôi chắc là chú không nói gì ngoài chuyện đó.

- Thưa chị, đúng vậy! Tôi đề nghị cho phép nhà trường thực hiện chế độ tự quản, chuyển đơn vị cảnh sát đi nơi khác...

Thấy ông Quang ngừng lại như để thăm dò phản ứng của mình, bà Tư giục:

- Chú nói tiếp đi.

- Mấy năm nay, các em học viên phản ứng rất nhiều về chuyện cảnh sát giám sát các em như cai ngục với tội nhân...

- Rồi. Tôi hiểu. Còn đề xuất thứ hai là gì?

- Tôi muốn liên hệ với công ty lương thực của chị Ba nhận gạo về gia công bánh tráng, bún. Cũng tương tự, tôi sẽ ký một số hợp đồng sản xuất gia công may mặc, đồ gỗ và nhạc cụ... Tay nghề các em ở đây phong phú lắm. Cốt sao các em được lao động, trực tiếp làm ra của cải... Một công đôi việc, vừa giáo dục các em, vừa để các em tự cải thiện đời sống...

- Ăn uống cực khổ quá, tôi hiểu. Tôi đồng ý với chú về cả hai đề nghị. Ngày mai, chú sẽ nhận được văn bản chính thức của Sở chấp thuận hai đề xuất đó. Vấn đề là... nếu xảy ra sự cố? Chú đã tính đến chuyện đó chưa?

- Dạ rồi.

- Có chủ quan không?

- Thưa chị, tôi tin các em. Ngay cả các em mới vào hung dữ nhất, cũng chỉ là những nạn nhân. Chúng chỉ là nạn nhân... Chị biết đó. Tôi coi các em như em, như cháu, như... con của mình.

Giọng ông Quang lộ rõ xúc động. Bà Tư hiểu tâm trạng của đồng chí mình. Bà ân cần:

- Thôi nhé. Sáng mai, tôi sẽ xuống trường. Chị em ta sẽ bàn bạc cụ thể phương cách thực hiện. Chú đã trao đổi với các đồng chí trong ban giám đốc chưa?

- Dạ rồi, ai cũng nhất trí.




Triệu Xuân
(còn tiếp)







*






Truyện dài


 

Mẫu Hệ



tác giả


Trần Yên Hòa
 


(tái bản, 2016)


đã phát hành toàn cầu



Nhà Xuất Bản Bạn Văn Nghệ (tái bản) 2016, phát hành

trên hệ thống Amazon

428 trang, bìa màu láng.

Giá:

$17 USD


Quý độc giả khắp nơi muốn mua sách xin click vào:




Amazon Mẫu Hệ






Tran Triet's photo.

 


*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



hoa_72-content

 

hinh_quang_o_dam_cuoi_o_mai_1-content

 Cindy Y. Tran

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn