DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,823,342

Giữa Cơn Giố Lốc (Chương 2, 3, 4, 5) - Đào Hiếu

30 Tháng Ba 201612:00 SA(Xem: 2068)
Giữa Cơn Giố Lốc (Chương 2, 3, 4, 5) - Đào Hiếu

Giữa Cơn Gió Lốc



Image result for giữa cơn gió lốc của đào hiếu



Chương 2



Cang đứng tựa cửa sổ. Chiếc quần tây thời trang rộng thùng thình không giấu nổi hai bắp đùi vạm vỡ săn chắc của một cậu trai ở tuổi đang lớn. Hữu hoàn toàn không thấy trên cái thân thể ấy còn lại chút dấu tích gì của cái thằng Cang ốm nhom ngày trước thường mặc quần xà loõng, cả ngày lang thang quanh các trại lính Mỹ để xin đồ hộp.
 Tú đưa một nhận xét:
 - Nó giống cha. Vài năm nữa chắc cao tới thước tám.
 Hữu hỏi đứa em út:
 - Bây giờ cao tới thước mấy rồi?
 - Thước bảy. Cang trả lời và ngồi xuống đi-văng.
 Bên ngưỡng cửa, một viên trung sĩ quân đội Sài Gòn vẫn đứng yên lặng, đầu hơi cúi xuống.
 Hữu hỏi:
 - Em không được khỏe?
 Nghi gượng cười:
 - Tôi cứ bị mất ngủ luôn.
 - Vẫn ở Bồng Sơn?
 - Dạ, vẫn ở đó. Còn anh thì chừng nào đi Sài Gòn?
 - Có lẽ vài hôm nữa.
 Nghi kiếm một cái ghế và ngồi xuống. Bộ quân phục đã phai màu và nhàu nát. Nghi không có vẻ gì là một quân nhân. Bộ quân phục thật không thích hợp chút nào với cái dáng mảnh mai, với nước da trắng xanh gần như tái mét của anh.
 Người cha trở vào trước bàn thờ. Lũ con đứng quanh ông, ông hỏi thăm từng người và hỏi thằng Cang cột chiếc khăn trên cổ làm gì. Nó bảo cột cho đẹp chơi.
 Duy và người vợ cũng vào thăm Nghi nhưng khi chị Duy vừa bước chân vào phòng thì đã bị cặp mắt Tú nhìn chòng chọc. Tú nói nhỏ với Cang nhưng cốt để cho người chị dâu nghe.
 - Nó lấy sợi dây chuyền của tao đó.
 Cang cả cười. Người chị dâu cau mặt lại. Người cha nghiêm giọng nói:
 - Chúng bay đừng cứ khích bác nhau nữa, có được không?
 Tú nói:
 - Thưa cha được. Nhưng cha bảo nó trả sợi dây chuyền năm chỉ cho con mới được.
 Người chị dâu sấn lại:
 - Ai cướp vàng của cô? Cô nói một tiếng nữa coi! Trước mặt cha, tôi là chị, tôi phải dạy cô mới được.
 Duy sấn ra, án ngữ giữa vợ và cô em gái trong khi người cha thở dài. Ông nói:
 - Tao bảo tụi bay không nghe thì tao đi.
 Nói xong ông bước ra cửa. Hữu theo cha ra ngoài. Duy cũng đẩy vợ đi ra khỏi phòng. Còn lại ba anh em ngồi trên ba gốc đi-văng. Im lặng. Nghi bỗng hỏi đột ngột:
 - Tú, tao nghe nói mày làm sở Mỹ?
 - Dạ.
 - Làm việc gì?
 - Anh đừng lo. Tôi chẳng làm gì xấu đâu.
 - Vậy mà tao nghe nói mày tiêu tiền như nước rồi cấp tiền bạc cho thằng Cang ăn chơi, hút sách đàng điếm. Nó mà hư thì mày phải coi chừng.
 Cang cãi lại:
 - Em đâu có hút.
 - Vậy mày đi theo bọn hút làm gì?
 - Em đi học sửa ra-dô chớ đâu có theo bọn hút.
 - Thì chính tụi bạn mày mét tao.
 Cang làm thinh. Tú hỏi:
 - Mày học sửa ra-dô bao lâu rồi?
 - Ba tháng.
 - Còn bao lâu mãn khoá?
 - Ba tháng nữa.
 - Thế bây giờ đã sửa được chưa?
 Cang nhăn mặt, quắc mắt ngó chị nó:
 - Hỏi vô duyên! Học mới ba tháng mà sửa gì. Bà im đi cho rồi, bà.
 Nghi nói:
 - Mày phải coi chừng, khôn hồn thì tránh xa tụi hút xách. Nếu không nghe lời tao thì mày chết mặc kệ mày, sau này đừng kêu ca.
 Thằng Cang đứng lên, lẳng lặng đi lại phía cửa.
 - Mày đi đâu đó?
 - Không đi đâu hết.
 - Mày trả lời tao cái giọng đó hả?
 Cang cũng to tiếng đáp lại:
 - Chớ tui làm gì mà anh hạch sách tui quá vậy? Anh cũng chẳng cho tui được đồng nào. Hồi nhỏ tui đói rách lang thang đầu đường xó chợ, tui sống thèm khát đủ thứ mà có biết xin xỏ ai. Bây giờ chị Tú nuôi tui chớ mắc mớ gì anh. Tui có xin xỏ gì anh đâu mà anh khó chịu?
 Nghi dìm cơn giận xuống và nói gỡ gạt:
 - Mày ngon! Tao biết mày ngon rồi. Mặc kệ mày tao không cần biết tới nữa.
 Thằng Cang đứng lên, rút cái lược ở túi sau ra, ngó lui ngó tới tìm cái gương nhưng không thấy, cuối cùng nó đành dùng tay vuốt hai bên mai và sau gáy rồi vừa bước ra cửa vừa nói:
 - Tui đi chơi. Tối tui không về đâu.
 Nói xong nó biến sau cánh cửa.
 Nghi nói:
 - Tao không tin nó học sửa ra-dô. Coi tướng nó là tướng ăn chơi chớ đâu phải là tướng làm ăn. Ít bữa nó đòi cưới vợ cho mà coi.
 - Thà nó cưới vợ còn hơn theo cái tụi hút xách.
 - Mày cúp tiền coi nó lấy gì mà hút.
 - Cúp thì nó bám vô tụi gái điếm.
 Nghi ngã mình xuống chiếc ghế dài. Anh nói như nói một mình:
 - Chẳng lẽ không còn cách nào ngăn cản nó được hay sao?


Chương 3



Image result for giữa cơn gió lốc của đào hiếu



Ăn xong Duy uống một viên thuốc bổ màu đỏ khi dùng trà, lấy một cây tăm xỉa răng, rứt một tí bông gòn lau cây tăm rồi ngậm trong miệng và lặng lẽ lên gác một mình.
 Căn gác thấp và tối om. Duy mở cánh cửa sổ gần mái ngói. Trên khung trời xám đen phía ngoài đã có mấy đóm sao nhỏ sáng yếu ớt trên đầu các ngọn cây tre cây gòn ngoài vườn.
 Bốn mươi năm dài qua đi lúc nào không hay. Bốn mươi năm trong đời thì đã có gần ba mươi năm cần cù làm việc. Xây được một cái nhà, sắm được một cái xe, sinh được một bầy con. Đó là sự nghiệp của một đời người hay sao?
 Những vì sao bên ngoài đã hiện rõ hơn, lấp lánh khắp nơi. Lá cây đen sậm, lay động mơ hồ.
 Đã gần mười năm rồi kể từ khi anh dời đến Qui Nhơn và sống cuộc đời đều đặn như một chiếc đồng hồ. Mọi người đều cho anh là một kẻ an phận, thực ra anh cũng đã trải qua một tuổi trẻ hào hùng và sống động.
 Năm Duy mười sáu tuổi cũng là năm mà cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Người anh cả đã đi bộ đội, còn Duy, anh gia nhập vào đội xung kích của làng. Làng anh ở cách thị trấn An Khê chừng hơn ba mươi cây số. Hồi ấy An Khê còn là vùng bị chiếm. Giặc Pháp phát xuất từ An Khê thường xuyên hành quân càn quét làng mạc, các quận xã ở dưới chân đèo hay có khi xa hơn nữa. Hàng ngày chúng còn cho máy bay ném bom hay nã moọc-chê vào các làng đông dân, giết hại đồng bào, tàn phá nhiều thôn xóm.
 Mỗi lần tin tình báo của ta cho biết là “Tây xuống” thì lập tức đồng bào, già, trẻ, lớn bé đều gồng gánh bồng bế nhau vào tận trong rừng trong núi đá trong hang sâu mà trốn. Trong lúc ấy thì bộ đội và dân quân du kích bố trí sẵn sàng. Những trận đụng độ đã diễn ra quyết liệt. Duy là một chiến sĩ trong toán xung kích.
 Ngày kia cả làng lại được tin “Tây xuống”. Tổ du lích triển khai đội hình nhưng hôm đó Duy bị sốt nặng, nên phải nằm nhà. Anh thiếp đi trong cơn mê và khi tỉnh dậy thì thấy tây đen, tây trắng đứng lố nhố.
 Duy bị bọn Tây bắt trong hai năm. Một ngày kia bọn chúng đem anh ra khỏi trại giam, tống lên một chiếc xe dodge có hai tên lính da đen cầm súng ngồi kèm. Chúng chở anh xuống đèo An Khê và dừng lại ở một khúc quanh cây cối rậm rạp. Hai tên lính lê dương xuống xe trước. Một tên nói:
 - Lôi nó xuống!
 Duy được mở còng và dẫn đến đứng giữa thảm cỏ xanh. Tên lính da đen bảo Duy đứng xoay lưng lại phía chúng. Trước mặt Duy lúc ấy là một thung lũng.
 Duy nghe tiếng lên đạn. Ngay trong giây phút ấy anh muốn nhảy xuống vực. Nhưng loạt súng đã vang lên chát chúa. Loạt thứ hai lại vang lên và Duy nghe rất rõ. Anh ngạc nhiên quay lại thì hai tên lính da đen phá lên cười. Một tên nói:
 - Chạy đi! Chạy đi, thằng bé da vàng!
 Duy ngơ ngác hỏi:
 - Tại sao các anh tha tôi?
 - Vì tụi tao là dân phi Châu, cũng dân da màu như mày. Về đi! Nhanh lên! Bên kia ngọn đồi là Việt Minh.
 Hai người lính da đen quay lưng tiến về chiếc xe dodge. Duy cũng hối hả bước lẫn vào đám cây rừng rậm rạp.
 Thế là Duy trở về vị trí chiến đấu nơi làng cũ cho tới khi có lệnh đình chiến.
 Năm ấy Hữu lên bảy tuổi, Nghi sáu tuổi, Tú lên ba và Cang vừa mới chào đời. Đây là năm đánh dấu những biến cố quan trọng trong gia đình Duy! Người anh cả tập kết ra Bắc. Duy ở lại bị chính quyền Diệm bắt giam, tra khảo suốt mấy năm, đến khi được thả ra thì anh chỉ còn là một cái xác ốm nhom, suy yếu và bệnh tật.
 Ít lâu sau, cha Duy có vợ bé. Biến cố ấy khởi đầu cho những thảm kịch của gia đình anh sau này.
 Cha Duy vốn là một người tài hoa. Hồi Pháp thuộc ông cai quản cả một gia đình giàu có, ông xây riêng một cái lầu đúc, sáng vác lưới đi rập cu đất với lũ con, buổi chiều trở về giao con thịt cho vợ làm chả ram. Ông kéo bạn bè lên lầu uống rượu… Mọi người nhậu nhẹt, hát bội đánh chầu, đàn nhị đàn tranh đủ thứ.
 Trong thời kháng chiến cha thu mình lại như con công rụt cổ, xếp cánh xếp đuôi cho hợp với thời thế. Vả lại giặc giã rầm rầm, chết chóc tang thương khắp nơi, cơm gạo thiếu thốn, có ai nghĩ tới chuyện đàn địch, hát bội hát bè, cha cũng đi làm rẫy làm ruộng, cha cũng tăng gia sản xuất. Bây giờ đình chiến rồi, cha hết làm ruộng, cha xòe cánh xòe đuôi ra thành con công rực rỡ, hào hoa, con công biết đàn địch, biết đa tình…
 Duy thì bị mật vụ Diệm theo dõi, quanh năm lẩn quẩn xó nhà không làm gì được. Anh nản, quyết định lấy vợ.
 Khi cha có vợ bé, có nghĩa là ông đã lập riêng một phe. Và khi Duy lấy vợ, anh cũng mặc nhiên lập riêng một phe khác.
 Mẹ và những đứa con còn lại “tử thủ” cái gia đình nghèo xác xơ.
 Mười sáu năm trôi qua, Hữu đã lớn và đã vào đại học. Còn ta, ta đã già rồi, đã hết thời rồi, cũng như Nghi nó thi rớt, trốn tránh mấy năm rồi bị bắt lính, lần hồi mò lên chức trung sĩ. Nó trở thành kẻ lầm lì, câm điếc và bất thường. Cang thì bị bỏ hoang giữa cuộc đời ở tuổi mười sáu, sống nhờ vào Tú, đua đòi, và ương ngạnh.
 Duy mất hết uy tín. Anh bó tay trước mọi người. Anh trở thành cái bóng mờ trước lũ em, anh càng ngày càng chán nản buông xuôi phó mặc và tuyệt vọng. Mình già rồi. Cô lập và cô độc.
 Duy lẩm bẩm và trở mình trong đêm. Chiếc đồng hồ tay anh để dưới gối kêu tích tắc tích tắc đều đặn. Duy lấy ra xem thì đã gần ba giờ sáng.
 Anh nhìn ra khung cửa nhỏ. Những vì sao khuya vẫn còn lấp lánh trên cao. Khu vườn phía dưới thấp tối đen và vang dậy tiếng côn trùng.


Chương 4





Image result for giữa cơn gió lốc của đào hiếu




Hữu trở lại Sài Gòn thì bị mất chân dạy kèm. Dù sao đối với anh, thất nghiệp cũng là chuyện thường.
 Hữu bước ra đường, mua một trái cốc vừa chín tới, to như nắm tay. Anh vừa đi vừa ăn dưới bóng mát của hai hàng me cao, ăn chưa hết trái cốc đã đến trường Luật.
 Người bạn hỏi ngay khi Hữu bước vào lớp:
 - Có chuyện gì buồn vậy?
 Hữu chỉ chiếc băng tang trên áo:
 - Mẹ tôi vừa mới mất.
 Một người con gái mặc “rốp” trắng, đeo kính cận gọng đen từ ngoài hành lang bước vào. Cô ta vẩy tay:
 - Lâu quá mới thấy anh tới trường.
 - Chào Diệp.
 Người con gái nhí nhảnh bước tới, trên tay cầm một cái đồ chơi bằng nam châm nhỏ như bao thuốc. Cô ta đưa cái đồ chơi ra trước mặt hai người bạn trai. Đó là một tấm bìa cứng, nhỏ có vẽ một thằng Tây đầu trọc và không râu. Tấm bìa được ép ny-lông, ở trong đựng một nhúm bột quặng sắt. Diệp cầm thỏi nam châm nhỏ trên tay và nói:
 - Các anh coi đây.
 Cô dùng thỏi nam châm kéo những vụn sắt lên trên cái đầu trọc của bức hình và xếp chúng thành một mái tóc hippy, xong cô lại đem bột quặng lên làm một bộ râu mép. Phút chốc chú Tây trắng đất trọc không râu biến thành một anh hippy tóc dài râu rậm trông rất ngộ nghĩnh.
 - Sắp làm luật sư rồi còn ưa đồ chơi trẻ con.
 Hữu chào Diệp rồi đến phòng học vụ mua những bài giảng mới. Sau đó anh đón xe buýt xuống Sài Gòn, đi bộ đến chỗ hẹn đón cái móc thường lệ vào lúc chín giờ bốn mươi lăm phút, sáng thứ năm.
 Đồng chí Bảy Trung đến rất đúng giờ. Hai người gặp nhau trước một quán sách đường Lê Lợi. Bảy Trung đưa bao thuốc Salem mời Hữu, anh rút một điếu rồi bỏ luôn bao thuốc vào túi mình. Trong bao thuốc đựng sáu cái kíp nổ.
 Hữu ghé sạp báo mua một tờ Chính-Luận rồi đi thẳng lại bến xe buýt.




Chương 5




Image result for giữa cơn gió lốc của đào hiếu



Hữu đánh răng vội vàng. Người bạn ở chung đã thức dậy và đang ngồi ở bàn học. Ngọn đèn chụp xinh xắn được bật lên, cái gương trước mặt, lọ keo xịt tóc và hộp phấn (loại dành riêng cho các cô) xếp một bên.
 Anh ta soi gương, dùng tay đè đè, tém tém, vuốt vuốt mái tóc rồi xịt keo chải lại một lần nữa.
 Khi Hữu mặc quần áo xong thì anh bạn đã có một mái tóc thật bóng và đang dùng phấn thoa lên mặt để che dấu cái nước da tái mét cố hữu của mình trước khi đi học bằng chiếc Yamaha đàn ông màu đỏ tía.
 Hữu lỡ một chuyến xe lam đi Sài Gòn. Anh quyết định lần này không nhượng bộ, không lịch sự với mấy người phái nữ nữa.
 Chiếc xe lam vừa đậu lại là Hữu bám lấy ngay. Hàng chục bàn tay đàn bà, đàn ông, người già, quân nhân, học sinh đều bám chặt lấy thành xe một lúc. Đàn ông có lợi thế hơn nhờ mang giày và ăn mặc gọn gàng. Đàn bà đi guốc mặc áo dài, lên xe sao bằng đàn ông. Hữu choáng ngay một chỗ. Giữ vững vị trí. Chiếc xe đầy nhóc ngay. Nó rú ga, vọt tới như một kẻ thoát thân.
 Hữu phải mất hai vòng xe lam và mấy trăm thước đi bộ mới đến được phòng xem mạch sang trọng của một ông bác sĩ mà theo lời rao thì ông ta đang cần một thơ ký.
 Hơn tám giờ bác sĩ đến. Một vài người vào, rồi trở ra, đi vội vàng với một vẻ u buồn hay một nụ cười gượng trên môi. Đến phiên Hữu, bác sĩ hỏi:
 - Anh biết đánh máy không?
 - Biết.
 Bác sĩ chỉ cái máy chữ:
 - Anh thử một chút tôi xem.
 Hữu ngồi lại bàn. Lóc cóc… Lóc cóc…
 - Được rồi, ông bác sĩ hỏi tiếp: anh biết nói tiếng Pháp không?
 - Biết. Tôi là sinh viên.
 Ông bác sĩ già cười:
 - Nhưng mà này, anh có xe gắn máy không?
 
*

 
 Hữu lại cuốc bộ, lại nhảy lên xe lam đến một địa chỉ khác, tiếp tục cuộc hành trình thất nghiệp của mình. Anh có trong tay hai cái địa chỉ nữa. Một tư thục cần giáo sư và một số ngoại kiều cần người dạy tiếng Việt.
 Hữu phải mất gần mười lăm phút đi vòng vòng trong hẻm mới tìm ra được trường trung học nọ. Trường làm anh ngạc nhiên. Trước hết là cái tên, Trường Việt-Mỹ. Một cái tên anh chưa nghe ai nhắc đến bao giờ thế mà phía dưới tấm bảng lại đề một câu “Sáng lập năm 1950” tính ra đến nay đã gần hai mươi năm. Điểm làm Hữu ngạc nhiên nữa là nơi đó không có vẻ gì là một cái trường mà chỉ là một cái biệt thự lớn, cũ kỹ, tường vôi đã loang lổ nhiều chỗ, cửa nẻo đã bị mọt ăn hư hao quá nửa và ngoại trừ những cái cửa lớn, còn tất cả những cửa sổ đều mất cánh. Trường có một cái sân hẹp trồng vài cây nhãn lồng còm cõi, mái lợp ngói vảy và ở một chái nhà rợp bóng chim én bay lượn kêu ríu rít quanh hàng trăm cái tổ của chúng.
 Trong văn phòng không có ai cả, Hữu ngồi đợi cạnh bàn giấy. Đó là một cái phòng lớn ăn thông với phía sau. Một lão già mù loà lần mò đi vào cái cửa sau của văn phòng để sang một cái phòng nhỏ nào đó kế bên, làm gì lục đục bên đó một lúc rồi lại đi ra phía sau cũng bằng cái cửa lúc nãy, một lát lại có một đứa nhỏ chừng bảy tám tuổi cũng đi qua đi lại bằng cái cửa ấy, thỉnh thoảng nó dừng lại, tò mò ngó Hữu rồi nheo mắt một cái và đi mất.
 Hữu đến ngồi ở ghế đối diện để khỏi hướng mặt về phía cái cửa ấy nữa. Trước mặt anh một bản đồ thế giới lớn như cái đi-văng treo bên cạnh bảng thời khoá biểu bằng ván ép đóng đinh chi chít và trên những cái đinh ấy gắn đầy những mẩu bìa cứng tròn tròn bằng cái nút quần và đủ màu sắc.
 Hữu quay lại khi nghe có tiếng giày. Một người đàn ông ốm nhom như que củi chìa tay ra trước mặt anh. Ông trạc năm mươi, tóc hơi quăn và ăn mặc còn chải chuốt lắm. Ông vào đề ngay:
 - Anh xin dạy môn gì?
 - Dạ, Anh văn.
 - Anh đã dạy ở đâu chưa?
 - Dạ có chứ, tôi dạy Anh văn nhiều năm nay.
 - Mỗi tuần anh rảnh mấy buổi?
 - Dạ chiều thứ hai, sáng thứ tư và chiều thứ sáu.
 Ông hiệu trưởng cúi mặt xuống có vẻ nghĩ ngợi một chút rồi ngẩng lên quyết định đột ngột:
 - Thôi được, như thế này, trường chúng tôi ít học sinh nên chúng tôi không thể trả lương cao được vậy nếu anh chấp thuận mỗi giờ đệ nhất cấp hai trăm và đệ nhị cấp ba trăm thì mời anh ngày… à… hôm nay hai mươi, mời anh ngày hai mươi lăm đến đây chúng ta họp chút xíu và đầu tháng tới khai giảng.





Đào Hiếu
(còn tiếp)







*




 

Mẫu Hệ


tác giả



Trần Yên Hòa
 


(tái bản, 2016)


đã phát hành toàn cầu




Amazon Mẫu Hệ






Tran Triet's photo.

 


*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



hoa_72-content

 

hinh_quang_o_dam_cuoi_o_mai_1-content

 Cindy Y. Tran



 




 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn