DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,215,570

‘Con nhớ Mẹ quá chừng’ (Viết về The Sympathizer) - Cam Ly

Monday, April 25, 201612:00 AM(View: 5238)
‘Con nhớ Mẹ quá chừng’ (Viết về The Sympathizer) - Cam Ly

‘Con nhớ Mẹ quá chừng’

(Viết về The Sympathizer)

 

Giá trị của một cuốn sách, với tôi, nằm ở chất lượng và chiều sâu của những đối thoại mà cuốn sách có thể khơi gợi lên cho độc giả.



blank

The Sympathizer đã có hợp đồng bản quyền với một nhà xuất bản ở Việt Nam và đang trong quá trình dịch cuốn tiểu thuyết này.



Trong mấy năm gần đây, tôi để ý tìm đọc để xây dựng một tủ sách cho trẻ con trong nhà. Sách có nội dung liên quan đến Việt Nam là một phần trong tủ sách đó. Đối thoại về đề tài Việt Nam là một trong những cuộc đối thoại với trẻ con trong nhà mà tôi rất mong được có. Con gái gần 10 tuổi bắt đầu tò mò về lai lịch gia đình, và về bản sắc cá nhân. Con đến từ đâu, điều gì đã xảy ra trước đó để lúc này con ở vị trí mà con đang ở? Dù con không có đủ ngôn ngữ để diễn đạt những câu hỏi một cách rõ ràng, nhưng những thắc mắc nho nhỏ càng ngày càng trở nên hóc búa hơn, và tôi nhận ra mình đã bắt đầu lúng túng không trả lời được.

Tôi đọc cuốn The Sympathizer trong tâm thế đó, và thấy cuốn sách là một tiền đề cho những cuộc đối thoại (nếu diễn ra) rất khó chịu. Nhiều sách khác – cả văn và thơ – của người Mỹ gốc Việt mà tôi từng đọc là những tiền đề hoặc “mềm” hoặc “khó ưa” (chứ không phải “khó chịu”). Những chủ đề như tìm về cội nguồn, văn hoá gốc, ngôn ngữ, mối dây vô hình giữa họ hàng xa nhau vạn dặm… là chủ đề “mềm” mà các câu trả lời mang nhiều cảm tính. Những chủ đề “khó ưa” theo kiểu chửi bới thẳng thừng hoặc kết tội rành rành thì luôn có thể tìm một đối trọng tương đương và tính thuyết phục cũng tương đương.

 

Trong bối cảnh đó, điều mà The Sympathizer đặt ra gai góc hơn rất nhiều. Nếu một ngày con gái đọc xong rồi hỏi tôi, thế ông bà ngoại nghĩ gì về câu hỏi “Điều gì quí hơn độc lập tự do?”, và mẹ nghĩ gì về tính song nghĩa của cái chữ “không có gì” đó, tôi biết mình không có câu trả lời cụ thể. Nhưng tôi cũng hình dung, khi đọc sách và đối thoại cùng tôi, con bé sẽ phải đào bới trong mớ cảm xúc và suy nghĩ của nó để tự tìm cho ra câu trả lời cho câu hỏi mà hồi mới lớn tôi vẫn hỏi ba mẹ, là “tất cả những điều đó có đáng không?” (điều đó chứa đựng mọi điều trong lịch sử mà ba mẹ chứng kiến, trải nghiệm, và tham gia).

Theo góc nhìn của tôi về cuốn sách, dường như tác giả đến gần với chấp nhận số phận lịch sử, và nhận ra rằng cuối cùng những điều đó là đáng hoặc là có thể chịu đựng được, vì bằng một cách nào đó, những người đã trải nghiệm lịch sử cuối cùng đã tồn tại được. Hoặc là thế, hoặc là mặc dù trải qua mọi thứ đó, họ vẫn tồn tại được, và đó là “chiến thắng cuối cùng” của sức sống con người. Đọc xong mấy trăm trang sách, cuối cùng tôi tìm được cách hiểu đó để bấu víu vào khi đối thoại với con — với cá nhân tôi, một phần giá trị cuốn sách nằm ở đây. Không giống như nhiều cuốn sách “gốc Việt” khác hoặc là cố đẩy cho được ai đúng-ai sai, hoặc là cố đi đường vòng qua con voi trong phòng để “về nguồn” theo chiều văn hoá, cuốn sách này đặt câu hỏi khác và dường như khơi gợi câu trả lời khác.

Nói như thế không có nghĩa là cuốn sách không có “tính hiện thực phê phán” (ai đã sống qua thời học bình văn ở nhà chắc sẽ mỉm cười về cụm từ thông dụng trong công thức bình văn này). Người đọc trên thế giới nói chung sẽ rất khoái góc nhìn Ruồi trâu của tác giả (tinh thần “phản hệ thống” và tự trào chuyện thiên tả của chính mình của tác giả mang nhiều dấu ấn của thành phố và đại học Berkeley, môi trường học đường mà tác giả trải qua nhiều năm từ lúc đại học đến khi lấy bằng tiến sĩ). Người Việt hải ngoại vùng Tiểu Sài Gòn thế hệ trước có lẽ sẽ ức vì tác giả mang nhiều chuyện trong nhà ra khoe ngoài ngõ, nhất là những chi tiết về tha hoá nhân cách mà (theo như sách giải thích) là nhiều người trong cộng đồng cho rằng hoặc không phải lỗi của họ, hoặc họ có quyền làm thế vì những gì họ đã phải chịu đựng trước đó.


blank

Nhà văn Nguyễn Thanh Việt- tác giả The Sympathizer vừa đoạt giải Pulitzer 2016, hạng mục tiểu thuyết.




Trong những “cú đấm” mang tính hiện thực phê phán đó, nặng ký nhất là so sánh mang tính biểu tượng giữa chuyện tra tấn kiểu Chiến dịch Phượng Hoàng, thậm chí cưỡng hiếp thể xác tù nhân, mà tác giả viết rõ ràng là có sự chứng kiến của đại diện cho CIA của Mỹ, với chuyện “cưỡng hiếp” trí não, tinh thần, và lương tâm của tù nhân (trong mấy chương cuối cùng) của chương trình cải tạo.

Người đọc không thể đọc xong chương sách này mà không tự hỏi, suy cho cùng, cái nào man rợ hơn?

Để gây ấn tượng cho so sánh biểu tượng này, tác giả dùng đối trọng rất “độc” (độc đây không có nghĩa xấu) – đối trọng đặc tả hài nhi nhiễm chất độc Da cam với đặc tả tình trạng trí não và tâm thần của nhân vật trong quá trình “cải tạo” đã bị vặn xoắn méo mó không khác gì hài nhi, đến mức không còn biết thật-giả, đúng-sai là đâu nữa.

Tác giả miêu tả nhân vật bị cưỡng hiếp thể xác cuối cùng vẫn cực kỳ tỉnh táo vì biết mình là ai và mục đích của mình là gì, vẫn dùng đôi mắt đốt cháy người đối diện. Trong khi đó, nhân vật bị cải tạo tinh thần cuối cùng gần như rơi vào trạng thái méo mó vĩnh viễn. So với biểu tượng này, nằm ở cuối cuốn sách, những biểu tượng trước đó về tính hai mặt của giá trị Mỹ hoặc sự nhập nhằng về đạo đức của cả hai phía trong một cuộc chiến chỉ là mấy cái tát yêu cho vui mà thôi.

Có lẽ nhiều người Việt Nam sẽ đọc cuốn sách này với cặp mắt tương tự như những người đi qua thế chiến hoặc sống sót qua thời Hitler hay thời Khmer đỏ, và chuyện săm soi các tiểu tiết lịch sử là không tránh khỏi. Tuy nhiên, không tác giả nào dù siêu đến đâu có thể làm vừa lòng mọi người đọc có biết (hoặc nghĩ là mình biết nhiều) về sự thật lịch sử. Nếu đọc cuốn sách để tìm đến mục đích cuối cùng, tức thông điệp của cuốn sách là gì, tôi tin nhiều người sẽ đồng ý đây là cuốn sách nặng ký hơn rất nhiều cuốn sách khác về đề tài Việt Nam. Tôi cũng đánh giá cao khi tác giả không cố tình “quốc tế hoá” những chi tiết liên quan đến cộng đồng người Việt để khoác cho cuốn sách tấm áo mang tính phổ quát cao hơn. Những đoạn tả về một số người Việt hải ngoại trong các quán bia, quán phở, đi làm lấy tiền mặt, đi xe cà tàng, tụ tập ca hát hút thuốc phì phèo, mặc đồ “hàng chợ”, nói tiếng bồi, những người đàn ông từng hét ra lửa giờ cay đắng vì không còn uy với con cái, … chắc chắn làm nhiều người Việt mình đọc mà đau điếng.

Sợi dây mềm mại và ngọt ngào duy nhất – mà tôi tin là chứa đúng cốt lõi “thiện” của tác giả, và khiến tôi mềm lòng nhất – là những đoạn miêu tả về người mẹ Việt Nam. Đây là những miêu tả mang tính biểu tượng cho một Việt Nam thật sự nếu loại bỏ hết được những bi kịch xung quanh. Ngôn ngữ của tác giả khi đặc tả quan hệ giữa “mẹ Việt Nam” và “đứa con Việt chưa từng thuần Việt” mang đầy tình mẫu tử và lòng chở che vô điều kiện hoàn toàn khác ngôn ngữ sắc, đắng, cay, chua, và thông minh trải dài trong sách.

Chi tiết người dẫn chuyện làm bia mộ giả cho người mẹ Việt của mình – đặt trong nghĩa địa do Hollywood dựng làm phim trường như một dấu nhấn bi hài – rồi lặng lẽ ngồi xuống và “Mơi, tôi gi, da trán mình vào bia m. Mơi, con nh m quá chng” là chi tiết nhân bản và trong veo mà tôi giữ lại như ký ức cuối cùng về cuốn sách.

 

Cam Ly
(từ: VV)






*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, February 19, 20208:21 PM(View: 49)
Tuệ Sỹ ngồi đó, chiếc bóng sậy gầy. Sững như một ngọn gió. Đôi mắt tròn to, long lanh. Mãi long lanh với miệng cười. Như Niêm Hoa Vi Tiết. Bỗng ông bật dậy đi rót cốc nước lọc cho tôi, cho ông. Tôi im lặng dõi theo dáng nguòi nhỏ bé di động, lắng nghe tiếng vạt áo lam phất phất trong căn phòng nhỏ một buổi chiều. Rồi chắp tay cung kỉnh, thưa Thầy khoẻ không? Miệng cười nở rộ hơn, ánh mắt tinh nghịch hơn, Tuệ Sỹ đáp như reo, anh thấy tôi khỏe không hè? Tôi cười nheo mắt, Thầy khoẻ con mừng. Trông ông khỏe hơn mấy năm trước thật, lúc mới ra tù được đúng một tháng. Ngày ấy đầu ông như đóng trốc, da bọc sát sọ, mường tượng như Thế thân Thiền sư Vũ Khắc Minh, không ngồi kiết già nhập đại định ở chùa Đậu nữa, mà đi lại, mà nói cười, nhập vào cơn huyễn mộng. Nay da đầu đã nhuận thắm, những vết chốc ghẻ biến mất, nhưng cái ót sọ ông vẫn nhô ra quá khổ với thân mình. Quá khổ đối với thế tục. Chắc nó phải cứng, khiến bạo quyền lui lại. Tuệ Sỹ luôn cười, bằng “đôi mắt ướt tuổi vàng cung
Sunday, February 16, 20207:21 AM(View: 112)
Hồ Trường An là một trong những nhà văn nền móng của văn học hải ngoại, cùng với Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Võ Đình, Kiệt Tấn; trẻ hơn có Đỗ Kh. và Trần Vũ. Nhưng Hồ Trường An đã không được đánh giá đúng mức, thậm chí còn bị coi thường, với những biệt hiệu như nhà văn miệt vườn, bà già trầu... mới nghe tưởng là tôn vinh, thực ra, ẩn dấu một sự kỳ thị ngầm có ý chê bai tiếng Nam quê mùa, lại được Hồ Trường An kể lể dài dòng như đàn bà con gái. Tên thật là Nguyễn Viết Quang, Hồ Trường An là bút hiệu chính, ông còn ký những tên khác: Đào Huy Đán, Đinh Xuân Thu, Đông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Đoàn Hồng Yến và Đặng Thị Thanh Nguyệt. Hồ Trường An có nghiã là họ Hồ ở chợ Trường An (gần chợ Vĩnh Long). Và họ Hồ này "phải là" con cháu Hồ Biểu Chánh. Hồ Trường An sinh ngày 11/11/1938 tại xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình có truyền thống văn học. Cha là nhà thơ Mặc Khải (tên thật là Nguyễn Viết Khải),
Wednesday, February 12, 20209:06 PM(View: 282)
Ngày 31 tháng 1, năm 2020 Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh của Báo Người Việt phổ biến một thông báo với nội dung: Thông báo gửi toàn thể nhân viên NV. Xin thông báo cùng các bạn, kể từ ngày Jan 15, 2020, ông Đinh Quang Anh-Thái. và kể từ ngày Jan 24, 2020, ông Đỗ Quý Toàn, hai ông sẽ không còn làm việc với công ty NV dưới bất cứ mọi hình thức nào khác! Như thế là thế nào? Dẫu không phải là nhân viên hoặc cộng tác viên của NV, nhưng do một cơ duyên đã cho bản thân cá nhân dịp tìm hiểu, giao tiếp với người sáng lập Người Việt, Đỗ Ngọc Yến từ những năm 50, 60 qua các hoạt động Báo Ngàn Khơi (1957), Trại Hướng Đạo Trãng Bom (1958); mối giao tiếp càng chặt chẽ hơn trong thập niên 70 khi cộng tác với Đỗ Ngọc Yến qua Báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc ở Sài Gòn. Sau hơn nửa thế kỷ quen thân từ Đỗ Ngọc Yến, bản thân dần biết thêm Đỗ Quý Toàn, Đinh Quang Anh Thái và hiểu ra giữa họ có một Giây Liên Lạc – Mối Ân Tình Huynh Đệ Rất Chặt Chẽ. Vậy tại sao có lần đỗ vỡ quá đổi bất ngờ và ngạc nhiên như vậy đã
Monday, February 10, 20208:25 PM(View: 83)
Có người vặn vẹo tôi: Ông bịa chuyện vừa thôi, lão Tư Lâm vốn là thợ kéo mật, sau ba năm học bố túc văn hóa về làng Tào, nếu không phải đảng viên thì lão ta dù là con ông giời cũng chả ai cho làm chủ nhiệm hợp tác xã, chứ đừng nói được bầu làm chủ tịch… Bạn đọc trách tôi cũng có lý, lẽ ra tôi phải kể chuyện lão Tư Lâm được kết nạp đảng như thế nào trước khi kể chuyện lão được làm chủ nhiệm hợp tác xã, cũng như chuyện đảng viên của mụ Tuyền Bếp. Vâng, xin đa tạ sự quan tâm góp ý của bạn đọc và những người quan tâm tới làng Tào. Lão Tư Lâm sau khi học bổ túc văn hóa được ba tháng thì người ta phát hiện lão chưa phải là đảng viên, việc này được báo cáo lên lãnh đạo huyện. Nhiều người trong Thường vụ huyện ủy giật mình: Cán bộ nguồn mà không phải là đảng viên thì sao gọi là cán bộ nguồn được? Chủ tịch Hoàng Nhất Nam cười ruồi: - Một quần chúng như đồng chí Tư xứng đáng hơn nhiều đảng viên. Đảng cần mở cửa đón những người dám nghĩ, dám làm như đồng chí Tư đã mang lại lợi ích vô
Monday, February 3, 20208:06 PM(View: 133)
Sau này nghĩ đến chị Ngát làm tôi nhớ đến cả miền Bắc mà tôi đã xa nó từ năm 1952. Cái tên của chị quả hăm mốt năm ở miền Nam tôi rất ít hoặc không hề nghe, nó như một cái tên đặc trưng của gái miền Bắc. Khi tản cư qua Điền Hộ mùa hè năm ấy, tôi mới tám chín tuổi. Dọc đường, nhiều khi gia đình còn phải thuê người gánh hai anh em tôi mỗi đứa mỗi đầu. Những dòng sông, con đê, những thửa ruộng nứt nẻ, những đứa trẻ cỡ tôi vỏn vẹn với cái quần đùi, chăn trâu trên những cánh đồng cỏ cháy, những mẹ già mặc váy đụp lúp xúp quang gánh đi bên đường, những chiếc xe đò chạy bằng lò than chết máy dọc đường đang được đám lơ tài quay cho máy tái nổ, những ngôi nhà vách rơm trộn bùn, những thánh đường lỗ chỗ dấu đạn… Điền Hộ cuối thời chống Pháp, sang thời Việt Minh kiểm soát trong mắt tôi là như thế. Những sản phẩm từ mạn ngược, xứ Thanh của tôi, từ những chum vại Lò Chum cho đến nước mắm Kẻ Bạng Ba Làng, qua cửa Thần Phù, đem vào đây để phân phối đi xuống phương Nam gần như vắng bóng. Hơn một