DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,821,075

‘Con nhớ Mẹ quá chừng’ (Viết về The Sympathizer) - Cam Ly

25 Tháng Tư 201612:00 SA(Xem: 3843)
‘Con nhớ Mẹ quá chừng’ (Viết về The Sympathizer) - Cam Ly

‘Con nhớ Mẹ quá chừng’

(Viết về The Sympathizer)

 

Giá trị của một cuốn sách, với tôi, nằm ở chất lượng và chiều sâu của những đối thoại mà cuốn sách có thể khơi gợi lên cho độc giả.



blank

The Sympathizer đã có hợp đồng bản quyền với một nhà xuất bản ở Việt Nam và đang trong quá trình dịch cuốn tiểu thuyết này.



Trong mấy năm gần đây, tôi để ý tìm đọc để xây dựng một tủ sách cho trẻ con trong nhà. Sách có nội dung liên quan đến Việt Nam là một phần trong tủ sách đó. Đối thoại về đề tài Việt Nam là một trong những cuộc đối thoại với trẻ con trong nhà mà tôi rất mong được có. Con gái gần 10 tuổi bắt đầu tò mò về lai lịch gia đình, và về bản sắc cá nhân. Con đến từ đâu, điều gì đã xảy ra trước đó để lúc này con ở vị trí mà con đang ở? Dù con không có đủ ngôn ngữ để diễn đạt những câu hỏi một cách rõ ràng, nhưng những thắc mắc nho nhỏ càng ngày càng trở nên hóc búa hơn, và tôi nhận ra mình đã bắt đầu lúng túng không trả lời được.

Tôi đọc cuốn The Sympathizer trong tâm thế đó, và thấy cuốn sách là một tiền đề cho những cuộc đối thoại (nếu diễn ra) rất khó chịu. Nhiều sách khác – cả văn và thơ – của người Mỹ gốc Việt mà tôi từng đọc là những tiền đề hoặc “mềm” hoặc “khó ưa” (chứ không phải “khó chịu”). Những chủ đề như tìm về cội nguồn, văn hoá gốc, ngôn ngữ, mối dây vô hình giữa họ hàng xa nhau vạn dặm… là chủ đề “mềm” mà các câu trả lời mang nhiều cảm tính. Những chủ đề “khó ưa” theo kiểu chửi bới thẳng thừng hoặc kết tội rành rành thì luôn có thể tìm một đối trọng tương đương và tính thuyết phục cũng tương đương.

 

Trong bối cảnh đó, điều mà The Sympathizer đặt ra gai góc hơn rất nhiều. Nếu một ngày con gái đọc xong rồi hỏi tôi, thế ông bà ngoại nghĩ gì về câu hỏi “Điều gì quí hơn độc lập tự do?”, và mẹ nghĩ gì về tính song nghĩa của cái chữ “không có gì” đó, tôi biết mình không có câu trả lời cụ thể. Nhưng tôi cũng hình dung, khi đọc sách và đối thoại cùng tôi, con bé sẽ phải đào bới trong mớ cảm xúc và suy nghĩ của nó để tự tìm cho ra câu trả lời cho câu hỏi mà hồi mới lớn tôi vẫn hỏi ba mẹ, là “tất cả những điều đó có đáng không?” (điều đó chứa đựng mọi điều trong lịch sử mà ba mẹ chứng kiến, trải nghiệm, và tham gia).

Theo góc nhìn của tôi về cuốn sách, dường như tác giả đến gần với chấp nhận số phận lịch sử, và nhận ra rằng cuối cùng những điều đó là đáng hoặc là có thể chịu đựng được, vì bằng một cách nào đó, những người đã trải nghiệm lịch sử cuối cùng đã tồn tại được. Hoặc là thế, hoặc là mặc dù trải qua mọi thứ đó, họ vẫn tồn tại được, và đó là “chiến thắng cuối cùng” của sức sống con người. Đọc xong mấy trăm trang sách, cuối cùng tôi tìm được cách hiểu đó để bấu víu vào khi đối thoại với con — với cá nhân tôi, một phần giá trị cuốn sách nằm ở đây. Không giống như nhiều cuốn sách “gốc Việt” khác hoặc là cố đẩy cho được ai đúng-ai sai, hoặc là cố đi đường vòng qua con voi trong phòng để “về nguồn” theo chiều văn hoá, cuốn sách này đặt câu hỏi khác và dường như khơi gợi câu trả lời khác.

Nói như thế không có nghĩa là cuốn sách không có “tính hiện thực phê phán” (ai đã sống qua thời học bình văn ở nhà chắc sẽ mỉm cười về cụm từ thông dụng trong công thức bình văn này). Người đọc trên thế giới nói chung sẽ rất khoái góc nhìn Ruồi trâu của tác giả (tinh thần “phản hệ thống” và tự trào chuyện thiên tả của chính mình của tác giả mang nhiều dấu ấn của thành phố và đại học Berkeley, môi trường học đường mà tác giả trải qua nhiều năm từ lúc đại học đến khi lấy bằng tiến sĩ). Người Việt hải ngoại vùng Tiểu Sài Gòn thế hệ trước có lẽ sẽ ức vì tác giả mang nhiều chuyện trong nhà ra khoe ngoài ngõ, nhất là những chi tiết về tha hoá nhân cách mà (theo như sách giải thích) là nhiều người trong cộng đồng cho rằng hoặc không phải lỗi của họ, hoặc họ có quyền làm thế vì những gì họ đã phải chịu đựng trước đó.


blank

Nhà văn Nguyễn Thanh Việt- tác giả The Sympathizer vừa đoạt giải Pulitzer 2016, hạng mục tiểu thuyết.




Trong những “cú đấm” mang tính hiện thực phê phán đó, nặng ký nhất là so sánh mang tính biểu tượng giữa chuyện tra tấn kiểu Chiến dịch Phượng Hoàng, thậm chí cưỡng hiếp thể xác tù nhân, mà tác giả viết rõ ràng là có sự chứng kiến của đại diện cho CIA của Mỹ, với chuyện “cưỡng hiếp” trí não, tinh thần, và lương tâm của tù nhân (trong mấy chương cuối cùng) của chương trình cải tạo.

Người đọc không thể đọc xong chương sách này mà không tự hỏi, suy cho cùng, cái nào man rợ hơn?

Để gây ấn tượng cho so sánh biểu tượng này, tác giả dùng đối trọng rất “độc” (độc đây không có nghĩa xấu) – đối trọng đặc tả hài nhi nhiễm chất độc Da cam với đặc tả tình trạng trí não và tâm thần của nhân vật trong quá trình “cải tạo” đã bị vặn xoắn méo mó không khác gì hài nhi, đến mức không còn biết thật-giả, đúng-sai là đâu nữa.

Tác giả miêu tả nhân vật bị cưỡng hiếp thể xác cuối cùng vẫn cực kỳ tỉnh táo vì biết mình là ai và mục đích của mình là gì, vẫn dùng đôi mắt đốt cháy người đối diện. Trong khi đó, nhân vật bị cải tạo tinh thần cuối cùng gần như rơi vào trạng thái méo mó vĩnh viễn. So với biểu tượng này, nằm ở cuối cuốn sách, những biểu tượng trước đó về tính hai mặt của giá trị Mỹ hoặc sự nhập nhằng về đạo đức của cả hai phía trong một cuộc chiến chỉ là mấy cái tát yêu cho vui mà thôi.

Có lẽ nhiều người Việt Nam sẽ đọc cuốn sách này với cặp mắt tương tự như những người đi qua thế chiến hoặc sống sót qua thời Hitler hay thời Khmer đỏ, và chuyện săm soi các tiểu tiết lịch sử là không tránh khỏi. Tuy nhiên, không tác giả nào dù siêu đến đâu có thể làm vừa lòng mọi người đọc có biết (hoặc nghĩ là mình biết nhiều) về sự thật lịch sử. Nếu đọc cuốn sách để tìm đến mục đích cuối cùng, tức thông điệp của cuốn sách là gì, tôi tin nhiều người sẽ đồng ý đây là cuốn sách nặng ký hơn rất nhiều cuốn sách khác về đề tài Việt Nam. Tôi cũng đánh giá cao khi tác giả không cố tình “quốc tế hoá” những chi tiết liên quan đến cộng đồng người Việt để khoác cho cuốn sách tấm áo mang tính phổ quát cao hơn. Những đoạn tả về một số người Việt hải ngoại trong các quán bia, quán phở, đi làm lấy tiền mặt, đi xe cà tàng, tụ tập ca hát hút thuốc phì phèo, mặc đồ “hàng chợ”, nói tiếng bồi, những người đàn ông từng hét ra lửa giờ cay đắng vì không còn uy với con cái, … chắc chắn làm nhiều người Việt mình đọc mà đau điếng.

Sợi dây mềm mại và ngọt ngào duy nhất – mà tôi tin là chứa đúng cốt lõi “thiện” của tác giả, và khiến tôi mềm lòng nhất – là những đoạn miêu tả về người mẹ Việt Nam. Đây là những miêu tả mang tính biểu tượng cho một Việt Nam thật sự nếu loại bỏ hết được những bi kịch xung quanh. Ngôn ngữ của tác giả khi đặc tả quan hệ giữa “mẹ Việt Nam” và “đứa con Việt chưa từng thuần Việt” mang đầy tình mẫu tử và lòng chở che vô điều kiện hoàn toàn khác ngôn ngữ sắc, đắng, cay, chua, và thông minh trải dài trong sách.

Chi tiết người dẫn chuyện làm bia mộ giả cho người mẹ Việt của mình – đặt trong nghĩa địa do Hollywood dựng làm phim trường như một dấu nhấn bi hài – rồi lặng lẽ ngồi xuống và “Mơi, tôi gi, da trán mình vào bia m. Mơi, con nh m quá chng” là chi tiết nhân bản và trong veo mà tôi giữ lại như ký ức cuối cùng về cuốn sách.

 

Cam Ly
(từ: VV)






*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Mười 20188:03 SA(Xem: 13)
Trong clip thâu âm Nguyễn Quốc Chánh đọc thơ của mình, thực sự, ta có thể nghe những âm thanh của một thành phố: tiếng vù vù của những chiếc xe máy lướt trên đại lộ, tiếng còi sốt ruột của những chiếc taxi đang cố gắng luồn lách qua đoạn đường ùn tắc, một giọng nói mạnh mẽ, dứt khoát vang lên giữa đám đông vừa kết tụ lại đồng thời vừa tản mát ra như một đám mây đơn lẻ. Đối với tôi, đấy chính là âm thanh của thành phố Hồ Chí Minh. Độ rỗng của căn phòng nhiều tiếng vang nơi thâu âm bài thơ có thể được cảm nhận rất rõ ngay từ giữa dòng thơ thứ ba ở bài thơ đầu tiên trong tập thơ được xuất bản dưới hình thức samizdat của Chánh – Ê, Tao Đây (2005): “Sài Gòn bị thủng, cái xác chưa chôn, thủ đô lún mỗi ngày vài phân, chính trị cũng nên cổ phần… Ký sinh vào thuật giả kim là đám chữ ruồi bu… Bí mật quốc gia là những bữa tiệc trên vận may của hoa anh túc, làm người nghĩa là nhục, làm người Việt nghĩa là siêu nhục… Một người rao trên mạng: cần một đối tác tình dục có ý tưởng và hành vi
10 Tháng Mười 20188:40 CH(Xem: 155)
Thí dụ cụ thể như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn, nhân vật chính là một nhà giáo trẻ muốn lấy một cô gái có chồng ở lại ngoài Bắc, xin phép cha xứ, cha không cho, đành chịu. Yêu cô khác vậy…Trai ngoại đạo lỡ yêu phải một cô gái công giáo, kể như tình yêu sẽ lỡ dở, trừ phi theo giải pháp xoay xở mà ca dao đã diễn tả: “Tôi quì lạy Chúa trên trời, Tôi lấy được vợ tôi thôi Nhà Thờ”. Nhà văn/nhà thơ đâu có đóng kịch, giả trá như vậy được, nên thường chỉ có một cách rời bỏ xóm đạo ra đi, sống trà trộn với dân vô đạo tà đạo bên ngoài, hay bằng cách kêu ầm lên như ở Âu châu một thời nào đó, là “Chúa đã chết rồi, chúng tôi tự do”, hay tối thiểu cũng bằng cách thôi không đến nhà thờ nữa, thôi giữ đạo trong mọi sinh hoạt thường nhật. Nhưng bỏ đạo công khai, đối với mọi cộng đồng giáo dân, là truyện to lớn, không mấy người muốn làm và làm được. Bởi thế cách hay nhất vẫn là giữ im lặng, tìm cách ra khỏi xóm đạo một cách nhẹ nhàng, như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn,
08 Tháng Mười 20189:35 SA(Xem: 106)
Mấy ngày nay dân làng Hoa Đào xôn xao về lễ tang ông Đại Vĩ. Ngôi làng trồng hoa ven đô tỉnh H, nằm bên vệ hồ Đông yên bình thơ mộng bỗng nhiên ồn ào huyên náo khác thường. Dòng người sang trọng từ các nơi về phúng viếng đông như kiến cỏ. Xe ô tô đời mới đủ loại, đắt tiền bạc tỷ cứ nối đuôi nhau xếp hàng trước cổng làng dài hàng cây số. Đường làng bay rợp cờ phướn màu vàng, ở giữa thêu quẻ Thuần Càn, ý nói người quá cố vĩnh biệt thế giới này vào giờ đại cát sẽ để lại cho dân làng nhiều điều may mắn, phúc lộc dồi dào. Làng Hoa Đào xưa có tên nôm là làng Kình. Chữ Kình có nghĩa là chống đối nên trong các loại đào thế, người chơi hoa cây cảnh làng Kình công phu tìm cho được cây đào có thế Kình thiên độc trụ đắt mấy cũng mua, để tưởng nhớ và tôn vinh truyền thống bất khuất của làng bao đời nay. Thời nào gặp buổi vận nước suy vi, kỷ cương băng hoại trong làng đều xuất hiện một bậc hào kiệt lãnh đạo dân làng nổi lên đấu tranh chống lại cường quyền ác bá. Ngay trong tổng, có ngôi làng lớn
05 Tháng Mười 20187:50 CH(Xem: 113)
Ông về hưu với quân hàm bốn sao một gạch. Đại uý Thoả như thế nghỉ hưu đã lâu. Suốt hai mươi lăm năm trong bộ đội, ông mãn nguyện với “ve áo” đó. Là mẫu người chất phác, trong sạch, ông đã phục vụ trong ngành hậu cần, nhưng bàn tay không bị dính bẩn, ông vẫn tự hào về điều ấy. Bà vợ khen ông là hiền lành tròn trịa, không mất lòng ai. Nhưng có lúc bà chê “Hiền quá hoá đần”. Nhà cửa tiện nghi đồ đạc trong nhà vẫn tềnh toàng cổ lổ. Toàn những thứ sắm từ những năm sáu mươi. Ông sống giản dị, nhiều khi quá quê mùa. Ông không bao giờ mặc quần áo may bằng sợi tổng hợp (đa-công, pô-li-ét-tơ). Ăn uống thế nào xong thôi, không uống rượu, không mê một món gì khác. Bà Thoả là dân gốc Thái Bình, thường bị chê là dân Thái “Lọ”. Năm Ất Dậu chết đói đầy đường, do tội của Phát-Xít Nhật gây ra. Theo bố mẹ anh em lây lất kéo nhau lên Hà Nội kiếm ăn, cả nhà chết dần chết mòn, lê lết đến ga Hàng Cỏ thì chỉ còn một mình cái đĩ Tũn, là bà, sống sót. Bà không nhớ và không hiểu tại sao bà còn sống được.
28 Tháng Chín 20186:59 CH(Xem: 193)
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều người nổi tiếng đã lần lượt rời bỏ cuộc sống: nhạc sĩ Tô Hải, nhà báo Bùi Tín, cựu Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, và gần đây nhứt là chủ tịch nước Trần Đại Quang. Mỗi cái chết đều tạo nên những phản ứng xã hội khác nhau, tùy theo góc nhìn. Trong truyện ngắn dưới đây của nhà văn Khuất Đẩu: Chôn đứng, người chết chỉ là một kẻ vô danh, bình thường. Điều không bình thường là bởi quá giàu, nên ông ta không cam chịu vô danh, phải có được cái danh mình muốn, bằng cách đi mua. Và không chỉ khoa trương trong lúc sống, ông ta còn nghĩ ra lắm chuyện cầu kỳ trong cái chết, buộc con cháu phải làm những việc kỳ quặc chưa ai từng làm… Tất nhiên, ông có thể sai khiến con cháu trong nhà bất cứ điều gì, nhưng lại không thể sai khiến thiên nhiên, trong đó có mưa bão, sấm sét…