DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,380,257

T. Vấn - Nhìn lại mình khó đến vậy sao?

Sunday, June 5, 201612:00 AM(View: 4502)
T. Vấn - Nhìn lại mình khó đến vậy sao?


Nhìn lại mình khó đến vậy sao?



clip_image001(Ảnh : http://bearingarms.com)


Trong nước, vụ cá chết tuy chưa giải quyết, nhưng dư luận lại quan tâm đến một vấn đề khác nóng hơn. Đó là việc ông Bob Kerrey, một cựu chiến binh Mỹ trực tiếp tham gia chiến tranh ở Việt Nam, được mời giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Đại học Fulbright Việt Nam (FUV).

Phản ứng mạnh nhất, và sớm nhất, đến từ bà Tôn Nữ thị Ninh, một nhân vật ngoại giao Cộng Sản. Theo bà này:

“ông Bob Kerry hoàn toàn không thể giữ vị trí Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam. Và cũng không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật ông đã là người đã trực tiếp tham gia vào cuộc thảm sát thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, người già tại thôn Thạnh Phong vào tháng 2/1969 . . .”

Vụ Thạnh Phong là như thế nào? Hãy nghe nhà văn Nguyên Ngọc (trong nước) :

Đầu năm 1969, Bob Kerrey là đại úy, chỉ huy một trung đội SEALs, kiểu đơn vị biệt kích tinh nhuệ nhất hải quân Mỹ. Phân đội của ông được báo có lãnh đạo cao cấp của Việt cộng sẽ họp cùng bí thư chi bộ địa phương ở Thạnh Phong, một ấp nhỏ ven biển thuộc tỉnh Bến Tre. Ông cho đơn vị của mình tập kích vào Thạnh Phong. Ông nói rằng ông không tự tay giết người, điều ấy có thể tin, một người chỉ huy không nhất thiết phải tự mình bắn. Nhưng ông thừa nhận ông chịu trách nhiệm toàn bộ: họ đã giết chết 24 người, trong đó có 14 phụ nữ và trẻ em cùng một ông già. Bob nói: “Cuối cùng vẫn là những người phụ nữ đã chết, những đứa trẻ đã chết… vẫn là cái chết.” Và là tội ác. “Tội lỗi đối với tôi là cảm giác đầy hủy diệt…”. Suốt 32 năm nay. Suốt đời…

Sau chiến tranh, Bob Kerrey từng là thượng nghị sĩ, là thống đốc bang, là ứng viên tổng thống Hoa Kỳ, và trên tất cả các cương vị đó, ông đã có đóng góp quan trọng và lâu dài cho quan hệ Việt – Mỹ và trao đổi giáo dục giữa hai nước, ông cũng là một trong những nhân vật hàng đầu thiết kế chương trình kiên trì suốt nhiều năm cho sự ra đời của FUV hôm nay. Có thể nói không quá, ông đã làm tất cả cho Việt Nam, cho giáo dục Việt Nam… Nhưng chưa bao giờ ông coi là có thể bù đắp tội lỗi đã gây ra. . .”.

Mới đây nhất, nhân vật ưa trình diễn Đinh La Thăng  vốn không bỏ qua một cơ hội nào để lấy điểm người Sài Gòn cũng vội vã ý kiến:

 “Tôi thiết nghĩ trong vấn đề liên quan đến ông Bob Kerrey, chúng ta nên được soi sáng bởi cách xử lý và truyền thống tự trọng, nhân ái, vượt qua thù hận, vị tha, và hướng tới tương lai của ông cha ta trong suốt chiều dài lịch sử hào hùng của dân tộc.

Nếu chúng ta không giàu lòng tha thứ, thì dân tộc này đã không thể mạnh mẽ và đáng được kính trọng như ngày hôm nay. . .”.

Dường như, sợi dây thần kinh xấu hổ của các vị lãnh đạo cộng sản đã bị bất khiển dụng, đã bị tê liệt hết thuốc chữa rồi.

Trong chiến tranh, đối đầu nhau là hai bên tham chiến, sẵn sàng bắn giết nhau trước hết là để tự vệ, để sống còn. Mấy anh Việt Cộng ở Thạnh Phong chết nhát, không dám ra trực diện đối đầu với đám lính Mỹ súng ống đầy người, nên núp trong dân, lấy dân làm mộc che thân. Trong trường hợp này, “Collateral Damage” là điều không thể tránh khỏi. Thử hỏi, không có tin tình báo về mấy anh lãnh đạo cao cấp Việt Cộng đang tụ họp bàn chuyện gây xáo trộn ở địa phương thì làm gì xẩy ra vụ Thạnh Phong. Giết người, nhất là đàn bà, trẻ em, dù trong thời chiến, vẫn phải xem là có tội. Với vụ Thạnh Phong, đơn vị lính Mỹ dưới quyền ông Bob Kerrey có tội bao nhiêu thì đám lãnh đạo Việt Cộng chết nhát dùng dân che thân phải mang tội gấp hai lần như vậy. Không có đám hèn nhát các ông thì những người dân vô tội Thạnh Phong chắc chắn sẽ không phải chết oan. Để rồi ngày nay nói về sự kiện ấy với tư cách kẻ không có tội lên án kẻ có tội. Đó là một thái độ thiếu lương thiện với lịch sử, với chính vong linh những người chết oan năm ấy.

Cái giọng điệu của quý ông bà Việt Cộng hôm nay nói về Bob Kerrey, dù bênh hay chống việc ông ta được mời giữ chức vụ Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam, đều cố tình làm ngơ chi tiết “không có lửa làm sao có khói” này. Lại còn mở miệng nhân nghĩa “vượt qua thù hận, vị tha”.

Tôi chưa bao giờ đồng tình với việc quân đội Mỹ có mặt ở miền Nam trước đây, vì sự có mặt của họ đã làm cho miền Nam mất chính nghĩa, không chỉ với người dân trong nước mà còn cả với thế giới vốn không hiểu biết nhiều lắm về thực chất cuộc chiến lúc bấy giờ. Bây giờ, người dân trong nước và thế giới có mở mắt ra thì mọi sự cũng đã rồi.

Thế nhưng đã hơn 40 năm sau cuộc chiến, những luận điệu tuyên truyền ấu trĩ thời chiến tranh vẫn cứ được đem ra nhai đi nhai lại. Để làm gì vậy? để xoa dịu cái mặc cảm ăn mày ăn nhặt hôm nay với kẻ cựu thù năm xưa chăng? Hay không dám nhìn thẳng vào mình, không dám nhận ra những sai lầm làm chết ba triệu con người Việt Nam để chẳng được cái tích sự gì, ngoài hơn hai mươi năm cố gắng thoát ra khỏi hậu quả của sự sai lầm năm xưa?

Mới đây, trong một bức thư gởi người tù bất khuất Trần Huỳnh Duy Thức, ba nhân vật của những ngày Sài Gòn xuống đường thời miền VNCH Huỳnh tấn Mẫm, Huỳnh Kim Báu, Lê Công Giàu đã đem những ngày tù của mình thưở ấy ra so sánh với với sự tù đầy hiện nay của anh Trần Huỳnh Duy Thức :

“ . . . chúng tôi cũng từng là những người tù chính trị trước năm 1975, đã từng bị tra tấn, đánh đập dã man, có người tưởng đã chết nếu không được bạn cõng đi tìm cách chạy chữa với hy vọng mong manh còn nước còn tát. Cho đến nay, một số trong chúng tôi vẫn đang bị hành hạ bởi những di chứng của cuộc sống trong tù buổi ấy. . .”.

Dường như quý ông tác giả bức thư nói trên đã quên mất rằng ngày xưa họ bị tù vì tiếp tay cho cái chủ nghĩa bất nhân cộng sản chiến thắng, để ngày nay nó đã bỏ tù bao con người đòi hỏi tự do dân chủ cho đất nước, trong đó có anh Trần Huỳnh Duy Thức. Chia sẻ thì cứ chia sẻ, đồng cảm thì cứ đồng cảm, nhưng chớ nên so sánh, đã không ích gì mà đôi khi còn gây phản ứng ngược trong nỗ lực liên kết những người cùng chí hướng. Tôi tin rằng nếu quý ông nói trên đã dám nhìn lại chính mình thì hẳn sẽ không có đoạn văn rất “phản cảm” nói trên.

Nhìn lại mình khó đến vậy sao?

Chúng ta đã sống qua một giai đoạn lịch sử đầy những nhiễu nhương. Sai Đúng Phải Trái Sống Chết Công Tội đan lẫn vào nhau, xoắn xuýt vào nhau, thành búi, thành bó. Để gỡ những mớ rối rắm ấy cần thời gian rất dài. Mà những người trong cuộc nhiều nhất cũng chỉ còn vài năm nữa để sống. Sao mỗi người trong chúng ta không thể tự sòng phẳng với mình, tự lương thiện – dù chỉ một lần – với chính mình ? Mà giả như không thể làm được điều đó – vì nó khó quá, vì nó ngược lại với bản chất của con người mình – thì ít nhất, cũng đừng làm rối rắm thêm mớ rối rắm hiện nay, đừng mang thêm tội lừa dối các thế hệ mai sau nữa.

Để vài năm nữa đây, nằm bất động một chỗ, vì tai biến mạch máu não, vì các chứng bệnh già lão, mình cũng tạm an tâm đã làm việc phải làm, đã không làm việc không nên làm.

Phải không ?



T.Vấn

(NT3 SVSQ/ĐH/CTCT/ĐL)

(tác giả gởi)

Mời đọc:


Bạch hóa Thái thượng hoàng

Xã trưởng tân truyện

5 anh một…một duột

Ảo Vọng

Đạo và thằng gian




6

 

Click vào:

Amazon Sấp Ngửa

 

Và có bán tại:

Tự Lực

Tú Quỳnh

 

*



Tran Triet's photo.

Click vào:

 Amazon Mẫu Hệ


Có bán tại:


Người Việt Shop

Tự Lực

Tú Quỳnh

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, September 26, 202012:41 PM(View: 23)
Chỉ cần nói “West Point”, ai cũng biết đó là chi rồi. West Point là cái tên…dân gian, nói ra ai cũng hiểu. Tên chính thức của ngôi trường này là United States Military Academy (Học Viện Quân Sự Hoa Kỳ). Nhưng nếu lười biếng, chỉ cần nói The Academy hay The Point thì cũng biết liền chính là hắn! Được Tổng Thống Thomas Jefferson thành lập vào năm 1802, đây là học viện quân sự đầu tiên của Hoa Kỳ. Ngày nay mỗi năm trường thâu nhận khoảng 1300 sinh viên nhập học. Thời gian huấn luyện là 4 năm. Như vậy trong trường luôn luôn có 4 khóa tổng cộng khoảng trên 4 ngàn sinh viên. Chính ra con số này phải hơn nhưng vì mỗi khóa có khoảng 2% sinh viên bị loại mỗi năm, nên vào thì nhiều, ra thì ít, khoảng trên dưới một ngàn tân khoa mỗi khóa. Đây là một quân trường nhưng muốn vào học còn khó hơn vào những đại học danh tiếng. Tỷ lệ được chọn chỉ khoảng 9%, có nghĩa là trong 100 lá đơn xin học, chỉ có 9 thí sinh được nhận. Sở dĩ khó như vậy vì West Point chọn lựa sinh viên không chỉ dựa vào thành
Thursday, September 24, 20207:11 AM(View: 85)
Tôi qua Mỹ năm 11 tuổi tức là thuộc thế hệ Việt – Mỹ, sinh ở Việt Nam nhưng trưởng thành ở Mỹ. Trước năm 75 tôi sống ở trong khu nhà dành cho sĩ quan trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau 75, nhà của tôi bị tịch thâu, bố tôi đi tù cải tạo, mẹ tôi dẫn ba đứa con còn thơ dại lên trên Sài Gòn ở nhờ nhà người anh ruột. Đứa lớn nhất là tôi lúc đó được năm tuổi và cô em út của tôi lúc đó mới được một tuổi. Năm tôi lên bảy tuổi đã biết đọc thành thạo và đọc ké sách mà các anh chị họ con của bác tôi họ mượn của bạn bè. Tôi luôn luôn là đứa được đọc sau cùng mà phải đọc cho lẹ để mấy anh chị mang đi trả. Thủa ấy mấy anh chị của tôi cũng còn đang học dưới trung học nên toàn thích coi truyện kiếm hiệp và sách Tuổi Hoa. Phần tôi, vớ được cuốn truyện nào là tôi đọc và mê hết không kể thể loại. Từ năm tám tuổi tôi đã được đọc “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa”, “Liêu Trai Chí Dị” luôn cả truyện tình cảm của Dung Sài Gòn và Võ Hà Anh. Nghĩ lại tôi thấy buồn cười vì mẹ tôi không cấm mà chỉ cười khi tôi
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 320)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 243)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 736)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi