DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,534,082

Lên Côn Sơn ngẫm chuyện cụ Ức Trai

Friday, August 5, 201112:00 AM(View: 29367)
Lên Côn Sơn ngẫm chuyện cụ Ức Trai

Lên Côn Sơn ngẫm chuyện cụ Ức Trai


Đền chính thờ Nguyễn Trãi

Đền chính thờ Nguyễn Trãi.


Đâu tiếng người xưa vọng về


Trong khúc 'Mộng uyên ương Hồ Điệp có câu rất hay rằng: Xưa nay thế gian chỉ thấy người nay cười, có ai thấy người xưa khóc đâu....' Khi tới tuổi ngũ thập tri thiên mệnh tôi mới có dịp đến Côn Sơn – Kiếp Bạc đốt dâng cụ Ức Trai - Nguyễn Trãi nén hương.


Cũng ở tuổi 50 (vào năm 1429), sau khi Phạm Văn Xảo bị chém đầu, Trần Nguyên Hãn tự vẫn, Quan hành khiển Nguyễn Trãi bị hạ ngục một thời gian, vừa được tha, cụ khăn gói về Côn Sơn sống ẩn dật:


Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

(Côn Sơn ca)


Trong chính sử nhà Lê không nói gì đến việc Lê Thái Tổ bắt Nguyễn Trãi hạ ngục rồi tha. Nhưng trong Tang thương ngẫu lục, Dương Bá Cung đã viết: “Nguyễn Trãi từng có việc bị hạ ngục rồi lại được tha”. Hẳn là ngày về Côn Sơn, tâm trạng của cụ Nguyễn Trãi chán nản lắm chốn quan trường, mặc dù lâu lâu cụ cũng phải về Kinh đô để chầu Vua.


Đọc lại bài thơ số 125 trong Quốc Âm thi tập dường như cụ muốn nói lý do vì sao bị bắt tống giam qua câu:


Tội ai cho nấy cam danh phận

Chớ có thân sơ mới trượng phu.


Chuyện người xưa mà như mới hôm qua. Men theo lối đi lên núi, ngược dòng suối Côn Sơn, len lỏi qua những rừng thông đã già. Con suối huyền thoại từng chở bao ngậm ngùi, cảm khái nhân tình, thi hứng của một tâm hồn lớn hơn 600 năm trước về nơi bất tử. Những bậc thang thấp, xây bằng đá granit rất công phu tinh xảo, khiến bước chân người lên núi như nhanh hơn, ngắn hơn và bớt mệt nhọc.


Vừa lưng chừng dốc hiện ra một bảng chỉ dẫn: rẽ trái là đền thờ Trần Nguyên Hãn, Trần Nguyên Đán và Thanh Hư Động, hướng thẳng lên khoảng 600 bậc tam cấp (600 m) là nền nhà Nguyễn Trãi, Thạch Bàn, Bàn cờ Tiên, Am Bạch Vân...


Con suối mùa khô không tiếng nước chảy róc rách, trơ những tảng đá không vết rong rêu. Chỉ có lũ ve sầu mùa hạ lắm chuyện nhao nhao kêu lên ầm ĩ từng chập! Chí ít, năm xưa tổ tiên chúng đã từng có công hát cho cụ Ức Trai Nguyễn Trãi nghe trong những ngày hè vắng vẻ, thanh nhàn khi ngồi ở Thạch Bàn làm thơ.



Gặp hai bạn trẻ Lê Hội Thẩm và Phạm Thị Thuần, SV Trường Cao đẳng Y Hải Dương (quê Thanh Hà) đang dạo ngắm cảnh. Thật đáng trân trọng quyết tâm của hai bạn trẻ chinh phục các di tích, địa danh gắn với đại thi hào nước Việt. Nếu suối Côn Sơn có nước chảy róc rách như bản nhạc trời reo ca, lội ngược theo suối chẳng mấy chốc là lên đến Thạch Bàn. Lên tới Bàn cờ Tiên, Am Bạch Vân tha hồ ngắm nhìn trời đất bao la, quang cảnh chung quanh sẽ lòng trần thanh thản, nhẹ nhõm...


Quãng lưng chừng suối có hai tảng đá lớn, khá bằng phẳng, có tên là Thạch Bàn (Bàn đá). Thạch Bàn lớn thường gọi là hòn đá trăm gian - một di tích hay được nhắc đến trong thơ văn cổ. Tương truyền, cụ Nguyễn Trãi thường ngồi đây ngắm cảnh, làm thơ và trăn trở suy tư vận nước. Suối Côn Sơn xưa được mô tả có cầu Thấu Ngọc bắc qua, được các sử gia và thi nhân ca ngợi như một công trình tuyệt mỹ tựa cảnh bồng lai.


Cụ thân sinh Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh trong Thanh Hư Động ký năm 1384 viết: “Khói đầu non, ráng ngoài đảo, gấm vóc phô bày. Hoa dọc núi, cỏ ven rừng, biếc hồng phấp phới. Bóng mát để nghỉ, chỗ vắng để ngồi, mùi thơm để ngửi, sắc đẹp để xem. Phàm những hình ảnh trong mát, tiếng suối reo xa vời mà hư không, sâu thẳm mà yên lặng, hợp với tai mắt và tâm hồn người ta, ở đây đều có đủ cả”.


Lên 5 tuổi, Nguyễn Trãi theo cha và ông ngoại về đây sinh sống một lần. Có lẽ từ thuở bé, tâm hồn Ức Trai đã được dưỡng nuôi bằng âm thanh đại ngàn lộng gió và chim muông, cỏ cây hoa lá để hun đúc và nuôi dưỡng một thiên tài.


Lẩn quẩn quanh Thạch Bàn, quay mặt bốn phương, tám hướng để mường tượng bóng dáng cụ ngồi làm thơ ở đây. Những vần thơ đẹp lung linh. Cụ đã ngồi sáng tác ở đây, gạt bỏ hết sự đời đen bạc để thi ca thăng hoa. Côn Sơn có đá rêu phơi/ Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.


Tượng đồng Nguyễn Trãi

Tượng đồng Nguyễn Trãi.


Công trình với 2.500 ngày công lao động


Tháng 12-2000, đền thờ Nguyễn Trãi được khởi công xây dựng tại chân núi Ngũ Nhạc, trên khuôn viên 10.000 m2 đất trong khu vực Thanh Hư Động, gần đền thờ mẫu thân cụ là bà Trần Thị Thái. Cụm quần thể bao gồm đền thờ chính, hai nhà Tả vu, Hữu vu, Nghi môn nội, Nghi môn ngoại, nhà bia, am hóa vàng, cầu kiều dẫn vào đền, cầu bắc qua suối Côn Sơn để lên khu vực đền thờ Trần Nguyên Hãn, Thanh Hư Động, Thạch Bàn, bàn cờ Tiên...


Công trình đền thờ Nguyễn Trãi rất quy mô, tráng lệ. Kiến trúc theo lối truyền thống cổ điển dân tộc Việt còn lưu lại trên các chùa đền từ thời Lý Trần. Một nguồn kinh phí lớn đối với một tỉnh còn khó khăn như Hải Dương, nhưng công sức lao động và những nghệ nhân xứ Đông có tâm, đức, tài đóng góp được ghi lại bằng hơn 2.500 ngày công lao động miệt mài, cần mẫn.


Đền thờ Nguyễn Trãi được xếp hạng di tích quốc gia vào năm 1962 và xếp hạng đặc biệt năm 1994. Mùa thu năm 1980, nhân kỷ niệm 600 năm ngày mất của cụ, tổ chức UNESCO công nhận Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa, từ đó lễ hội Côn Sơn được tổ chức.


Con đường trải nhựa từ Thị trấn Sao Đỏ vào đến xã Cộng Hòa nơi có đền thờ Nguyễn Trãi được trải nhựa khá đẹp mắt, quanh co uốn lượn qua những vùng đồi, có những hàng thông già vài trăm tuổi vẫn suốt ngày ca hát với đất trời.

ntrai_2



Không xô bồ, đông đúc như những khu du lịch văn hóa lịch sử, tâm linh phía Nam, giữa trưa ngày cuối tuần mà bãi gửi xe chỉ vài chiếc gắn máy với hai xe 16 chỗ chở học sinh mẫu giáo tham quan. Do quảng bá còn ít, hay vì dịch vụ phục vụ du lịch ở đây chưa phát triển?


Du khách mỏi mắt mới tìm được cuốn Chí Linh với văn hóa xứ Đông và hai cuốn khác viết về Nguyễn Trãi mà ở đâu cũng có. Sự khiêm tốn về dịch vụ du lịch còn thể hiện ở sự chào mời khách ăn uống, mua hàng lưu niệm ở khu ngoài đến cổng chính cách đền thờ 400 m chưa thật chuyên nghiệp.


Côn Sơn là mảnh đất thấm đẫm biết bao buồn vui cuộc đời Nguyễn Trãi từ Bình Ngô đại cáo đến Côn Sơn ca, Quốc Âm thi tập.

Trân Châu

BVN-TH

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, July 30, 202112:23 PM(View: 86)
Phật dạy rằng có vô số lượng kiếp, và tôi đang sống đây là kiếp người, lẽ ra cũng đáng mừng, nhưng lại là người dưới thời “chưa bao giờ tốt đẹp như bây giờ”, nghe ra thật mỉa mai nếu không muốn nói là rất đắng cay. Sau 1975, các xe xích lô ở Nha Trang phải vào hợp tác xã, có ghi biển viết tắt XLNT. Hỏi bác xích lô nghĩa là gì, bác tỉnh bơ: Xin Làm Ngựa Trâu! Ôi chao, người miền Nam và tiếng Việt Nam! Hay thấm thía! Thì đúng là gần nửa thế kỷ rồi làm kiếp ngựa trâu, giờ sắp vào lò luyện ngục, quỷ sẽ dắt đưa đi đầu thai. Chẳng biết sẽ thành chó, mèo, heo, gà hay giun dế… Thành kiếp gì cũng không bằng kiếp người. Ngẫm ra, cái hay của kiếp người là giàu nghèo sang hèn đều có quyền ước mơ. Có anh mơ làm tổng thống, có chị mơ làm hoa hậu, mơ tột đỉnh dù chẳng bao giờ thành sự thực. Nhưng vẫn cứ mơ, vì chẳng có điều 5, điều 7 nào trong hiến pháp cấm kỵ công dân cho dù hạng bét được quyền ước mơ cả. Vậy thì, tôi cũng có quyền mơ viển vông như thế này: mơ làm Chử Đồng Tử, một
Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 306)
Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi : - Xếp có dính dáng đến Duy Dân không? Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói : - Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái. - Xếp là nhà báo. - Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân. Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi
Wednesday, July 21, 20214:14 PM(View: 184)
Nghe tôi nói đến "Hiếu nhà băng", thiếu tướng Thạc nhướng lông mày, ngạc nhiên: – "Hiếu nhà băng" ở Zurich? Ông quen hắn à? Tôi gật: – Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy à? – Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy chúng tôi đặt cho hắn biệt danh "Hiếu tồ". – Trái đất tròn thật. Hoá ra hai ông quen nhau – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng thôi. Mãi đến năm ngoái gặp lại ở Genève mới có dịp tâm sự. – Ông thấy hắn ta thế nào? – Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút. – Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm ấy. Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, một chút ghen tị, hoặc cả hai. – Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái là làng nhàng, không có gì nổi bật. Trước khi về hưu ông ấy làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc
Thursday, July 15, 202110:51 AM(View: 192)
rong tháng Tám vừa qua, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời tại Quận Cam, Nam California, khi ông từ Pháp sang đây để lo việc ấn hành sách cho nhà xuất bản của ông. Ông là một người của sách vở, tuy không phải là một người sáng tác hay biên khảo nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời thật là nhiều. Từ bốn mươi năm qua, ông chính là người phát hiện ra những giá trị của sáng tác và biên khảo của biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa chúng đến với người đọc với một tấm lòng trân trọng và trìu mến. Chính công việc và cung cách xuất bản sách của ông đã cho thấy ông là một người nghệ sĩ thứ thiệt, một nhà văn hóa nhiệt tình với đất nước. Có thể nói Thanh Tuệ là sách, sách là Thanh Tuệ, và chữ sách ở đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất, thanh tao nhất mà từ xưa đến nay nhân loại đã dành cho thứ sản phẩm văn hóa này. Một người thích sách vở sống vào giữa thập niên 1960 tại Sài Gòn thì không thể không để ý đến một
Wednesday, July 7, 202112:00 PM(View: 240)
Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973. Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để