DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,824,768

Qua cửa “Thần phù” - Võ Chân Cửu

05 Tháng Tám 20163:19 SA(Xem: 2062)
Qua cửa “Thần phù” - Võ Chân Cửu
Tản văn  
   

Qua cửa “Thần phù”


Image result for thần phù



Ở một giờ khắc nào đó, nhất là khi mới hé nụ, dáng
 hoa bỗng mang một nét đẹp xuất thần. Chiếc cánh cong mình, nhụy như rung trước gió. Loài động vật đa phần cũng vậy. Đôi cánh bướm không bay theo nhịp thường thấy mà lại lượn vòng; chú sáo nhỏ một mình rỉa lông, khoe bộ mã. Có phải đó là những động thái “làm dáng”, như người đời vẫn gọi?
Khoảng gần cuối thập niên 1960 ở Miền Nam, triết thuyết và các luồng tư tưởng hiện sinh, hư vô, “sống thực”, “độc hành”… đã theo các nguồn sách báo, phim ảnh tràn vô học đường và xã hội. Người ta thấy ngày càng xuất hiện nhiều người sống lập dị khác biệt, nhất là trong giới trí thức và văn nghệ sĩ. Ngoài những số trẻ được gọi là “hippy” mặc áo quần tự xé, tóc tai rối bời hoặc để dài không chải, người ta gặp những chàng trai mang kính cận và chồng sách ngoại văn dày cộm ngồi hàng buổi trong các quán cà phê; hoặc có những nhà sư thoải mái vào các quán bia (có khi đi cùng một hai người nữ). Chung quy vì xã hội đang mất niềm tin. Cái ác và sự chết chóc do bom đạn, pháo kích diễn ra hàng giờ. Giá trị tinh thần và thân phận con người đã nhanh chóng trở thành vô nghĩa.
Cuộc sống tinh thần do các tôn giáo và các nhà truyền bá triết thuyết đem đến cho con người lúc này khá đa dạng. Sau các trường đại học Đà Lạt, Vạn Hạnh, thì các giáo hội có xuất phát từ miền Nam như Cào Đài, Phật giáo Hòa Hảo cũng thành lập các trường đại học. Nhiều tạp chí có màu sắc tôn giáo được ra đời. Một số nhóm trí thức tôn giáo có khuynh hướng chính trị đã cho lập các tạp chí văn nghệ nhằm cổ vũ hành động. Một số các cầm bút theo tôn giáo Tin Lành - lúc này còn tương đối ít tín hữu - cũng có một tờ báo văn nghệ riêng, là tạp chí Thoát. Các dòng văn chương mang màu sắc thần bí hoặc xưng là “về nguồn” đã nảy sinh tại nhiều miền “đất thánh” như Tây Ninh, Châu Đốc…Người làm văn nghệ trong giai đoạn này nếu không có bản lãnh, có sắc thái riêng dễ sa vào cảnh “nửa tăng-nửa tục” hoặc mang dáng dấp của những “ông đạo” vu vơ.
“Tảo mộ lênh đênh”
Vào khoảng cuối năm 1973, thi đàn Sài Gòn bỗng xuất hiện một ấn phẩm mang màu sắc lạ. Đó là thi phẩm “Tảo mộ lênh đênh” của tác giả Trần Đới. Bìa sách in hình chân dung tác giả phóng lớn: một người đàn ông cỡ tuổi ngoài 50, râu tóc xồm xoàn, đẹp lão, mang dáng dấp của các nhà văn và lãnh tụ kháng chiến ở vùng châu Mỹ La tinh (hình ảnh này đang được các tạp chí văn nghệ tự nhận là “dấn thân” ngợi ca và cổ vũ. Tác giả Trần Đới phần nhiều dùng thể loại thơ 8 chữ và lục bát. Chữ nghĩa câu thơ chứa hình tượng mộc mạc nhưng âm điệu chân thật, mang màu sắc thiên nhiên hoang dã, dẫu trong những bài viết về cảnh sống đô thị.
Sài Gòn
Sài Gòn có những giọt mưa
Dài như nỗi nhớ trong ta một ngày
Một ngày có những ngón tay
Vuốt mưa trên tóc dính mây nghìn trùng
Sài Gòn mưa vẫn ướt chung
Riêng ta ướt hết nửa vùng mưa chia
Ướt đi từ cõi ướt về
Ướt qua ướt lại dầm dề trang thơ
Sài Gòn lá cuối cành thu
Rẩy run nghe gió hoang vu thổi về
Lạnh dài là những tiếng xe
Nhớ xa là tiếng tỉ tê trong hồn
*
Vẫn đi ta với Sài Gòn
Mưa mưa gió gió đầy đường đầy tim
Đèn xanh là giọt lệ chìm
Nhạc vàng khói thuốc nổi nênh ngàn trùng
Vẫn về vô thủy vô chung
Nhớ thương là trận bão lòng bao la
Vắng ai ngày vắng đêm xa
Sài Gòn mưa vẫn thiết tha xuống người.
           Tập thơ “Tảo mộ lênh đênh” được bày bán trước tiên tại thư quán thuộc Viện đại học Vạn Hạnh, nằm ở mặt tiền ngay dốc cầu Trương Minh Giảng. Cạnh nhà sách là quán cà phê Nắng Mới nổi tiếng, nơi khá nhiều văn nghệ sĩ và trí thức vẫn đến “ngồi đồng”. Viện đại học Vạn Hạnh cho xuất bản tạp chí Tư Tưởng, ra hàng tháng, trong đó phần văn nghệ được nhiều cây bút sáng giá tham gia. (Viện đại học Vạn Hạnh từ khi thành lập đã là điểm tựa cho nhiều cây bút có tiếng trên lãnh vực nghiên cứu tư tưởng và văn học-nghệ thuật, như Nhất Hạnh, Bùi Giáng, Tuệ Sỹ, Trần Xuân Kiêm, Ngô Trọng Anh, Phạm Thiên Thư, Hồ Thành Đức, Phạm Thế Mỹ…Phân khoa Văn học và khoa học nhân văn lúc này do tác giả bộ sách Lịch sử triết học Đông phương, giáo sư Nguyễn Đăng Thục làm khoa trưởng (trước 1970 chức vụ nà do thi sĩ Phạm Công Thiện đảm trách). Bộ sách của GS Nguyễn Đăng Thục nhấn mạnh và đề cao triết lý tổng hợp của người Việt xưa và nay, nên khi xã hội có phong trào “về nguồn”, đã gây được nhiều ảnh hưởng đến tầng lớp trí thức và sinh viên. Viện đại học Vạn Hạnh là một điểm “mở” về tri thức, nên đã thu hút nhiều người đến gặp gỡ, đối thoại về triết luận, văn chương).
Sách bày bán trong thư quán Vạn Hạnh, đa phần thuộc loại nghiên cứu kinh điển, hoặc văn hóa Phật giáo. Các nhân viên nhà sách kể rằng khi mới chưng tập thơ Trần Đới lên kệ, tình cờ thầy Viện trưởng (Thượng tọa Thích Minh Châu) vô thấy, liền mở ra xem. Đọc qua nhan đề, lại thấy bìa cuối không ghi giá bán, Thầy liền nhíu mày hỏi: “Giá lênh đênh à?”. Người phụ trách nhà sách rất lo là sẽ bị quở mắng khi tự ý bày bán loại sách vu vơ, đi ngược với ý hướng “an định”, “nhất quán” cho người tu học. Nhưng có lẽ do nhận ra tác giả tập thơ chính người thợ lâu nay vẫn đến đây quét vôi định kỳ, nên thầy để sách lại vào kệ, như ngầm cho giới thiệu với độc giả.
Thi phẩm của Trần Đới in ra liển được thi sĩ Bùi Giáng trích dẫn bình luận và ngợi khen. Giọng thơ Trần Đới lại mang nét riêng, không lẫn lộn với các tác giả khác, nên nhiều độc giả yêu thích. Nhiều sinh viên sau đó cũng trầm trồ về tác giả, xem người thợ quét vôi này như một vị “hành giả”.
Thi sĩ Trần Đới vốn mặc đồ cư sĩ, là người ít nói. Thấy “ông thợ quét vôi làm thơ” ngày càng thân thiết với “Bùi trung niên thi sĩ” nên đã có những lời đồn đại về nguồn gốc nhân vật bí ẩn này. Có người từ Huế vào nói rằng đây nguyên là một cựu sinh viên đại học Huế. Trong đợt đấu tranh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, cô sinh viên xinh đẹp là người yêu của chàng trai này đã “ngã” vào tay một vị tăng lữ tranh đấu nổi tiếng. Thất tình, nên Trần Đới giả dạng làm người thất học luôn! Ông đi lang thang các tỉnh, tự kiếm sống bằng các nghề lao động phổ thông, rồi vào Sài Gòn sống nhờ tay nghề sơn nhà cửa, quét nước vôi. Trong bộ môn này, đây quả là một tay thợ điêu luyện. Tôi từng chứng kiến qua bàn tay ông, cây chổi dài kéo nước vôi đường nào đi đường nấy tăm tắp, không nhểu nhảo xuống nền một giọt nhỏ. Khi kẻ chỉ tuốt trên tường cao, vẫn chẳng cần dùng thang leo nhưng đường màu vẫn đi ngang, thẳng tắp!
      “Tảo mộ lênh đênh” là một phát hiện của thi sĩ Nam Chữ, vào lúc  anh mới đổi sang bút hiệu Phạm Mạnh Hiên, và đứng chủ trương nhà xuất bản Trung Quán (sau đổi thành Tân An, lấy tên một nhánh sông Côn chảy qua thành Bình Định). Cửa chùa luôn rộng mở. Và có lẽ trong thời gian này, để thay đổi không khí nên Nam Chữ thỉnh thoảng lại đến tá túc dưới các mái chùa. Trong lần đến ngủ nhờ ở khu phòng khách thuộc Trung tâm Quảng Đức (lúc này là trụ sở Tổng vụ thanh niên Phật tử), Nam Chữ đã  phát hiện ra tài thơ của ông thợ nước vôi Trần Đới cũng đang trú ngụ nơi đây. Nhận thấy bản thảo thi tập “Tảo mộ lênh đênh” khá thơ mộng, nên Nam Chữ đề nghị được đứng ra xuất bản luôn.
Ẩn mình, không tham gia bàn luận chuyện văn chương, tranh giành một chỗ ngồi ở “chiếu trên” hay “chiếu dưới” là cách chơi của nhà thơ Trần Đới. Nhưng, nếu có điều kiện thì ông ta lại sẵn sàng “du hành” hầu tiếp cận cái đẹp của thiên nhiên và tình đồng loại. Đó chính là tính cách rất đáng yêu của nhà thơ tài tử này.
Con chữ mong manh
“Qua bến nước xưa lá hoa về chiều. Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa. Khi đến cuối thôn chân bước không hồn. Nhớ sao là nhớ bóng người ngày thơ. Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy. Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh…”
         
Sau ngày đổi tiền lần thứ nhất (tháng 9-1975), gia đình tôi gần như lâm vào cảnh kiệt quệ. Mọi đồ đạc có giá trị,và cả 2 chiếc nhẫn cưới còn giữ lại, đã được vợ chồng tôi đem bán tháo cho đủ tiền mua căn nhà nhỏ gần ga xe lửa Gò Vấp. Nguồn thức ăn chính có được là đám lá nghệ vô tình ngoi lên xanh um ở ngoài mảnh sân sát đường rầy xe lửa. Hái lá nghệ xắt ra, bỏ vào thêm nắm gạo sẽ thành nồi cháo ấm lòng. Mấy rương sách cũ cũng đã bán xong. Tôi đang tính với vợ chuyện đi thuê một chiếc xích lô kiếm sống…
Bỗng nhiên chiều hôm đó tiếng đàn Măng-đô-lin quen thuộc đang khảy bài Nắng Chiều của tác giả Lê Trọng Nguyễn từ ngõ ngân vọng vào. Du sỹ Trần Đới bỗng xuất hiện! Lần đầu tiên chúng tôi gặp lại sau ngày 30/4. Không rõ được ai chỉ đường mà ông tìm ra đúng nhà tôi mới mua lại của một gia đình hồi hương.
Bước vào cửa, vừa dứt cung đàn là tiếng cười hà hà quen thuộc, đầy thương mến. Vẫn bộ quần áo cư sĩ màu già lam, cái khác bây giờ là ông có đeo thêm một tay nải. Thi sĩ trút từ đãy ra một nải chuối và một túm gạo, bảo Hạnh-vợ tôi đem vào nhà cất để dành. Ông đã trở thành một nhà khất sĩ bán chuyên nghiệp, đi khất thực với tiếng đàn điêu luyện từng vang lên dưới các mái chùa những đêm trăng. Theo anh Nguyễn Cao Vinh, người đảm trách việc phát phiếu cơm xã hội (cơm giá rẻ) ở trường Vạn Hạnh, thì ông Trần Đới không hề biết nhạc lý nhưng nhờ tài thẩm âm, nên các đầu ngón tay lướt dây đàn rất đúng giai điệu. Trong các đêm sinh hoạt “phong trào”, nhiều tay đàn trong đoàn văn nghệ sinh viên đã từng thán phục. Ông chỉ rành chơi đàn Măng-đô-lin. Có lẽ vì nó nhỏ gọn, dễ mang theo trong tay nải của một kẻ không nhà.
Trong tập “Tảo mộ lênh đênh” in tháng 10-1973, hình như Trần Đới đã mượn lời thơ vịnh xa gần về tiếng đàn của mình:

TẶNG TRANG TỬ
 
Trời chiều như nắng về khe
Cá đi còn lội nước hoe như vàng
Mây cao như núi đầu non
Có cây như đá lá còn rung rinh
Có người về hát không thinh
Mắt vàng nhìn nắng qua cành ve kêu
Có con chim nhớ rừng chiều
      Cánh mau như gió đuổi theo lá cành.
Tôi rất vui vì hai vợ chồng và đứa con nhỏ mấy tháng tuổi lúc đó được những nắm gạo “cứu độ” bất ngờ. Nhưng không khỏi ngậm ngùi vì sau cơn biến động biển dâu, cây đàn của người nghệ sĩ quen “tiếu ngạo giang hồ”, nay không phải chỉ dành cảm thán cùng con chim bay, con cá lội, mà phải ra giữa chợ đời, có khi trở thành chiếc cần câu cơm để về hổ trợ cho người bạn nghèo qua cơn khốn khó. Phải chăng đó là nghiệp chướng mà thi sĩ Trần Đới từng linh cảm và mang nặng trong lòng khi viết những vần thơ  nhớ về một người ở chị miền quê:

CHỊ TÔI
 
Củi về oằn oại vai lưng
Tay vin dốc đổ ngại từng bước đi
Mồ hôi đẵm mũi đá chì
                Ruột thì  đói lã dặm thì còn xa.
                                             (Tảo mộ lênh đênh)
-         Anh có tính về lại ngoài quê Lăng Cô hay không?
Thi sĩ Trần Đới hình như không muốn trả lời câu hỏi của tôi, nên lại dạo thêm vài cung đàn réo rắt, rồi đứng dậy vẫy tay chào từ biệt. Cứ cách vài ba ngày, ông lại xuất hiện cùng tiếng đàn và trút lại gia đình tôi mấy món thực phẩm rồi mất dạng. Chừng một tháng sau, hình như ông đã mất hút về cõi xa nào. Tôi hình dung đến miền quê ông ở, nên lần giở trang sách ông đã in:

LĂNG CÔ MỘT CHIỀU ĐÔNG
 
Vượn chợt hú, lênh đênh đời vô vọng
Sao sóng gành gió núi dội ngàn năm?
Gió chỉ hát lê thê buồn gắt gỏng
Sao chiều mù biển thét trời hờn căm?
Mây chỉ rên nửa bóng lạnh vô cùng
Sao đất đến mang tháng ngày u ám?
 
Đời chi thuở mãi mang hồn choáng váng
Chân về đi còn ngất lối đau mòn?
Bao nhiêu rồi là cát biển bùn non
Và đâu đến máu xương hồn vất vưởng?
 
Trời tuyệt vọng trầm khua tình tơ tưởng
Nước non mờ chút nắng bạc phai mau
Mưa ơi mưa bao giòng nước qua cầu
Bao giòng lệ cá tôm còn lặn ngụp.
 
Tôi đi giữa hồn mòn đường ký ức
Tìm máu xương hài cốt mục chưa về
Thoáng lênh đênh thành đá hét thảm thê
Mùa mông quạnh chợt sầu tê trăm tuổi.
 
Thoáng choáng váng muôn trời nghiêng tức tưởi
Mây rã rời chiều vọng lối còn khuya
Gió đảo điên hồn chạy trốn muôn bờ
Lời xơ xác máu lùa qua muôn tối.
 
Trời chợt tắt như trời nào cổ độ
Biển chợt chìm núi đổ như chiêm bao
Miền héo hắt chụp về như giấc ngủ
Tôi ra về hồn thảng thốt lao đao.
                                                                 (Tảo mộ lênh đênh)
Bài thơ làm trước kia khá lâu nhưng lại như những lời tiên tri. “Lời xơ xác máu lùa qua muôn tối”. Như vậy thì người thi sĩ ấy cũng khó dừng chân để được an cư!
Quả đúng như tôi dự đoán, trong khoảng thời gian từ 1980-1990, ông đã có về lại quê xứ, tu bổ thêm cho mảnh vườn cũ của gia đình. Nhưng bước chân giang hồ lại tiếp tục khiến ông không rời đi. Quê xứ Lăng Cô cũng chỉ để làm “một cõi đi về”. Những năm này, Trần Đới cùng cây đàn “Măng-đô-lin” thường tiếp tục ngược xuôi dọc giải đất miền Trung. Quê ngoại Trần Đới ở huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi, nhưng suốt từ đó đến Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang… chốn nào cũng là cõi vân du. Ba chìm bảy nổi, năm 1983, nghe tin thi sĩ Vũ Phan Long gặp khó khăn trong cuộc sống, ông đã ghé lại Quy Nhơn thăm, rồi ngược lên thành Bình Định, đề thơ gửi lại nhà thi sĩ Nguyễn An Đình khi nghe bạn đang phải đi làm lao động công ích nơi xa. Bài thơ như tiếng đàn Mandolin réo rắt, cầu mong bạn thơ vượt qua những khổ nạn cuộc đời:
      CHIỀU ANH ĐI
                          Tặng anh Vũ Phan Long
Chiều anh đi bằng mộng
Qua phố phường tìm em
Gặp em từng ngõ cổng
Mang sẵn Họ và Tên.

Chào em con số hên
Chào em cười dưới nắng
Chào em hay bỏ quên
Nạm gió chiều bay thẳng.

Chiều anh đi bằng mơ
Qua cõi bờ xa thẳm
Gặp đá nằm ngâm thơ
Trên đỉnh non tỉnh lặng.

Mặt biển lắng vào lòng
Hát lên ngàn lượn sóng
Con cá quậy thong dong
Bóng mờ anh lắng đọng.

Chiều anh đi lang thang
Thả đời vui xuống đất
Thả vần thơ lên trang
Thơ mỉm cười như Phật…

                              (25-4-1983)
 
Đầu năm 1990, Trần Đới xuất hiện trở lại ở Sài Gòn. Tôi thuyết phục đưa ông về trú tại một mảnh vườn nhỏ khá yên tĩnh gần cầu Bình Lợi. Nhưng chỉ chừng một năm sau, Trần Đới lại đeo tay nải lên vai để nói lời từ biệt. Lần này, ông tâm nguyện xuất gia tại tu viện Thường Chiếu (Long Thành). Vài năm sau,  trở thành Đại đức Thích Thông Bác. Vẫn nặng nghiệp thơ ca, thi sĩ Trần Đới từ đó đã lấy pháp danh làm bút hiệu, xuất bản vài tập thơ mới. Ngôn ngữ và hồn thơ bây giờ in màu đạo vị.

Con đường mà Trần Đới chọn không thể khác được, vì thơ ca khó có thể mang niềm hạnh phúc viên mãn đến cho con người! Thi sĩ “hành giả” đến với thơ bằng những con chữ mong manh. Như có, như không!

Nhưng rồi nhà thơ cũng qua khỏi cửa “Thần phù” của dòng đời ! Lênh đênh qua cửa thần phù/ Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm (cadao). Trên đường hành hương, Tỳ kheo Thích Thông Bác đã viên tịch tại một ngôi chùa thuộc phái Trúc Lâm ở tỉnh Vĩnh Phúc vào mùa hạ năn 2014.

 

 Võ Chân Cửu
(Lê Ngọc Trác gởi)


*


 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



Mua Bán Nhà

 

 


L/l: Marvin Tran

(714) 768 - 8810

 



blank

 

 

Nha Khoa