DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,324,724

Bàn về thuật ngữ tiểu thuyết và truyện trong văn học Việt Nam - Trần Đình Sử

Thursday, September 8, 20166:37 PM(View: 3748)
Bàn về thuật ngữ tiểu thuyết và truyện trong văn học Việt Nam - Trần Đình Sử

Bàn về thuật ngữ tiểu thuyết và truyện trong văn học Việt Nam

Image result for gs trần đình sử
Gs Trần Đình Sử


Có một nghịch lí thú vị là thuật ngữ tiểu thuyết và truyện ở Trung Quốc đã có từ rất sớm, mà các cụ ta ngày xưa chỉ chọn thuật ngữ truyện, mà không chọn thuật ngữ tiểu thuyết. Chứng cớ là trong các tập Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái lục đều gọi là truyện. Về sau các truyện trong Truyền kì mạn lục, Thánh Tông di thảo, cho đến truyện Nôm cũng hầu hết đều gọi là truyện, mà không gọi là tiểu thuyết. Rõ ràng ở đây đã có một sự lựa chọn để tiếp nhận. Thuật ngữ tiểu thuyết được chấp nhận ở Việt Nam rất muộn. Phải đầu thế kỉ XX mới nhập vào. Nhưng xin nói ngay, nội hàm và bối cảnh tiếp nhận thuật ngữ này đã hoàn khác, không phải là tiểu thuyết vốn có của Trung Quốc xưa.

Vậy thử hỏi vì sao thuật ngữ tiểu thuyết từ xưa không được các cụ ta tiếp nhận? Theo thiển ý của tôi, hai chữ tiểu thuyết ở Trung Quốc ban đầu không có nghĩa tốt đẹp, chỉ là một gia trong “thập gia” – “tiểu thuyết gia” – với tư cách là một học phái đứng bét, không được trọng. Tiểu thuyết nói đến tiểu đạo, đối lập với đại đạo. Đến đời Tấn thuật ngữ tiểu thuyết thịnh hành (tiểu thuyết đời Hán phần nhiều là do người đời Tấn nguỵ tạo) thì tiểu thuyết có nghĩa là lời nói câu chuyện đầu đường cuối ngõ (nhai đàm hạng ngữ), như thế thì không vẻ vang gì. Vì thế các tác giả Việt điện u linhLĩnh Nam chích quái lục không dại gì mà lấy cái tên “tiểu thuyết” để gọi tác phẩm của mình. Việt điện u linh là thần phả kia mà, sao lại gọi là tiểu thuyết được? Còn Lĩnh Nam chích quái là các truyện chép có tham khảo các sử liệu hẳn hoi, sao lại gọi là tiểu thuyết được? Như vậy ta hiểu vì sao thuật ngữ tiểu thuyết không được chọn ở Việt Nam trung đại.

Bây giờ giải đáp câu hỏi thứ hai: Vì sao thuật ngữ truyện lại được chọn? Truyện trong văn học Hán được hiểu là thể loại văn xuôi ghi chép sự tích (có cốt truyện) của một người để truyền cho hậu thế. Trong Sử kí Tư Mã Thiên đặt thể liệt truyện để “kí nhất nhân chi thuỷ mạt”, tức ghi chuyện đầu đuôi của một người, đời sau không ai dám đổi. Truyện là thể loại của sử, có tính chất trang trọng. Trong sách Văn thể minh biện chia truyện làm bốn loại: sử truyện, gia truyện, thác truyện, giả truyện; Ngô Tăng Kì đời Thanh trong sách Văn thể sô ngôn chia làm sử truyện, gia truyện, tiểu truyện, biệt truyện (ngoại truyện)… Chữ Bân Kiệt sau này chia làm ba loại, sử truyện, truyện kí và truyện kí tiểu thuyết, đưa tiểu thuyết vào, chứ nguyên chỉ là thể loại của sử. Như thế người Việt chọn truyện là chọn tính sử của nó, chọn tính chất trang nghiêm, thực lục của nó, không coi nó là hoang đường, chưa chọn tính văn nghệ. Như thế cũng có nghĩa ý thức văn nghệ của người Việt phát triển khá muộn. Sau này với truyện Nôm, thì truyện lại chuyển sang tính hư cấu, như Nhị độ mai truyện, Phan Trần truyện, Phù Dung tân truyện, Trê cóc truyện… lại là một bước tiến nữa nhằm văn chương hoá sử truyện.

Vậy tại sao đầu thế kỉ XX lại chọn dùng hai chữ tiểu thuyết? Trước hết ta nên hiểu rằng, hai chữ tiểu thuyết ở Trung Quốc vốn có địa vị thấp. Hai chữ tiểu thuyết đầu tiên có trong thiên Ngoại vật của Trang Tử, không liên quan gì với thể loại, Đời Hán Nghệ văn chí có ghi 15 loại tiểu thuyết gia, nhưng thất truyền hết, không biết trong đó nói gì. Hồ Ứng Lân đời Minh nếu tiểu thuyết gồm sáu loại: chí quái, truyền kì, tạp lục, tùng thoại, biện đính, châm quy. Ngoài chí quái, truyền kì, bốn loại kia chẳng liên quan gì đến tiểu thuyết ngày xưa và ngày nay. Sách Tứ khố đề yếu chia tiểu thuyết làm ba loại: tự thuật tạp sự, kí lục dị văn và chuế tập toả ngữ, nói chung đặc trưng không mấy liên quan đế khái niệm tiểu thuyết thời nay. Có thể nói thời trung đại người Trung Quốc cũng chưa có khái niệm tiểu thuyết rõ ràng. Các tiểu thuyết lớn như Tam Quốc diễn nghĩa thì gọi là bình thoại, Tây du kí, Thuỷ hử truyện, Hồng lâu mộng là Thạch đầu kí. Chúng chưa bao giờ được gọi là tiểu thuyết. Chúng được gọi bằng tiểu thuyết là câu chuyện về sau. Khái niệm tiểu thuyết mang nội dung hiện đại ở Trung Quốc bắt đầu lưu truyện là khởi tự ông Lương Khải Siêu, người sau khi xuất dương Nhật Bản về, tiếp nhận khái niệm tiểu thuyết ở Nhật Bản, mới đề xương khẩu hiệu “tiểu thuyết cứu quốc”, dùng tiểu thuyết tố cáo xã hội lạc hậu, vẽ ra lí tưởng tương lai. Ông dịch tiểu thuyết Giai nhân kì ngộ của Nhật của tác giả Sài Tứ Lang mà sau này ông Phan Châu Trinh đem diễn ra quốc âm dưới dạng truyện Nôm đầu thế kỉ XX. Phan Bội Châu cũng tiếp nhận Lương Khải Siêu mà viết Trùng Quang tâm sử. Khái niệm tiểu thuyết ở Việt Nam là dịch từ thuật ngữ roman của phương Tây. Thuật ngữ này có cội nguồn Nhật Bản. Người Nhật mượn từ tiểu thuyết vốn có của Trung Quốc mà dịch chữ roman tiếng Pháp hay novel tiếng Anh vốn có nội hàm không dính dáng gì tới thuật ngữ tiểu thuyết ở Trung Quốc. Khi Lỗ Tấn viết Trung Quốc tiểu thuyết sử lược là ông lấy khái niệm tiểu thuyết của phương Tây mà khảo và viết lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc theo khái niệm mới. Ông cũng du học Nhật Bản và cũng tiếp thu tiểu thuyết từ Nhật Bản. Vì vậy, cách hiểu truyện và tiểu thyết trong Từ điển văn học bộ mới là nhầm lẫn, cần được đính chính. Cần phân biệt thuật ngữ tiểu thuyết vốn có trong thư tịch Trung Quốc và thuật ngữ tiểu thuyết nhu là thuật ngữ dịch từ roman của phương Tây, rồi từ nội hàm ấy mà xem lại truyền thống tiểu thuyết của Trung Quốc và Việt Nam.

Thuật ngữ tiểu thuyết ở Việt Nam được sử dụng rất muộn. Khi Lương Khải Siêu đã sử dụng nghĩa mới của tiểu thuyết từ cuối thế kỉ XIX, thì ở Việt Nam, các tác giả như Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu cho đến các cuộc thi tiểu thuyết trên báo Nông cổ mín đàm cũng chưa dùng thuật ngữ này, mà gọi là truyện. Có lẽ phải đến những năm 20 tiểu thuyết mới thịnh hành. Năm 1918 khi đăng Sống chết mặc bay, Nam Phong gọi nó là đoản thiên tiểu thuyết. Đến khi Phạm Quỳnh viết Khảo về tiểu thuyết năm 1929 thì ông chủ yếu dựa vào tiểu thuyết phương Tây để phân tích. Như vậy trong lí luận văn học hiện đại người ta vận dụng khái niệm và thuật ngữ tiểu thuyết hiện đại để nhìn lại tiểu thuyết trong truyền thống. Vả chăng trong truyền thống, tiểu thuyết chưa phải là tên của thể loại, mà tên của một loại văn phong cho nên nói chung nó không bao giờ ghép được với tên tác phẩm như tên thể loại thông thường (ví dụ Hồng Bàng thị truyện, hay Ngọc Tỉnh liên phú, Bình Ngô đại cáo…). Tiểu thuyết là tên một phạm vi, một lĩnh vực, chỉ đến hiện đại nó mới được coi là tên một thể loại.



Hà Nội, ngày 5 tháng 9 năm 2016
Trần Đình Sử
(từ: VV)



*

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, July 7, 20202:14 PM(View: 61)
Tôi xin tự giới thiệu tôi tên là Nguyễn Tường Thiết, tác giả của cuốn sách Nhất Linh Cha Tôi. Tôi rất vinh dự hôm nay được nói chuyện với quý vị, những độc giả ở trong nước đang quan tâm đến cuốn sách Nhất Linh Cha Tôi vừa được tái bản và phát hành ở Việt Nam, để giới thiệu cuốn sách này, đồng thời cũng để trình bầy một vài nét đặc biệt về con người Nhất Linh, Nguyễn Tường Tam. Cách đây 14 năm, tuyển tập hồi ký Nhất Linh Cha Tôi được xuất bản lần đầu ở Hoa Kỳ vào đúng dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của thân phụ tôi, ngày 25 tháng 7 năm 2006. Hôm nay, cũng vào dịp kỷ niệm 57 năm ngày mất của ông, ngày 7 tháng 7 năm 2020, cuốn sách Nhất Linh Cha Tôi được tái bản và phát hành lần đầu tiên ở Việt Nam; và nếu không xẩy ra vụ dịch Covid-19 thì chắc hẳn giờ đây tôi đã hiện diện trong buổi ra mắt sách này để trực tiếp nói chuyện với quý vị. Bài nói chuyện của tôi gồm hai phần. Trong phần đầu tôi giới thiệu cuốn sách Nhất Linh Cha Tôi, trong phần sau tôi giới thiệu con người Nguyễn
Monday, July 6, 20202:34 PM(View: 31)
Đúng thế. Nhưng tôi không phải là người đầu tiên nói về vấn đề này. Trong tập sách kể trên, Hồ Xuân Hương - bà chúa thơ Nôm là bài viết tiêu biểu hơn cả. Xuân Diệu đã viết và sửa công phu chuyên luận 83 trang này liên tục 22 năm từ 1958 đến 1980. Thực ra thì Xuân Diệu không phải là người đầu tiên đưa ra khái niệm này. Trước ông từ 8 đến 30 năm, từ năm 1950, Lê Tâm đã gọi Hồ Xuân Hương là Bà chúa thơ Nôm rồi. Bạn sẽ thấy rõ điều đó trong tập sách mỏng có tên là Thân thế và thi ca Hồ Xuân Hương của Lê Tâm, do Nhà xuất bản Cây Thông, Hà Nội, ấn hành năm 1950. Đây là một vấn đề rất lớn và rất phức tạp, tồn tại nhiều chục năm, cũng có cơ sở để kết thúc được rồi, nếu người ta muốn kết thúc, muốn mọi sự rõ ràng. Mà bạch hóa là cái rất khó được thực hiện ở Việt Nam ta. Từ thời Lê, cụ Nguyễn Gia Thiều đã viết: Cái quay búng sẵn trên trời Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm Ý cụ Nguyễn có độ bao quát lớn về triết học và nhân sinh, nhưng trong trường hợp này, tôi thấy cụ Nguyễn như (TNM)
Saturday, July 4, 20202:11 PM(View: 58)
“Trai khôn tìm vợ chợ đông / Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”. Câu dạy khôn này ngày nay đã lỗi thời. Từ lâu rồi. Chốn “ba quân” ngày xưa, trước 1975, tại Việt Nam đã có bóng hồng. Đó là các nữ quân nhân. Nhưng hoạt động của những anh thư của đảng kaki ngày đó chỉ giới hạn trong phạm vi xã hội và y tế. Không ai nỡ mang hoa ra chiến trường. Ngày nay, chị em phụ nữ Việt chúng ta ở bên Mỹ cũng mang đồng phục nhưng oai phong hơn nhiều. Họ cũng xông pha ra chỗ mũi tên hòn đạn ngang ngửa với các nam nhi. Nam nhi người Việt cũng như nam nhi người Mỹ, to như những ông hộ pháp. Cạnh tranh trong một tình thế lép vế như vậy nhưng chị em phụ nữ oai hùng chẳng kém chi ai. Chẳng phải là ngày phụ nữ, chẳng lễ mẹ chi, tự nhiên tôi muốn nhắc tới những bậc anh thư Việt Nam lỗi lạc này bởi vì tôi ngợp với những con cháu bà Trưng bà Triệu nơi xứ người. Tướng gốc Việt trong quân đội Mỹ có năm vị. Dẫn đầu là Thiếu Tướng Lương Xuân Việt của Lục quân. Vệ Binh Quốc Gia có Chuẩn Tướng Lập Thể Flora.
Thursday, July 2, 202012:35 PM(View: 90)
Ngay từ thuở nhỏ ta được dạy nói cảm ơn khi ai đó giúp mình. Lời cảm ơn không phải để xã giao mà thật sự biểu lộ lòng biết ơn chân thành của mình đối với người đó. Thế nhưng có lẽ chưa bao giờ ta được dạy nói cảm ơn ta vì nhiều khi ta coi chuyện cảm ơn mình là một điều gì đó lố bịch, kỳ cục, không cần thiết! Trái lại nhiều khi ta còn có khuynh hướng nói xấu mình, bất mãn với mình, thậm chí… nguyền rủa mình. Nhiều người lớn tuổi nhìn vào gương mỗi ngày thấy mình già đi với những dấu chân chim ở đuôi mắt, vết hằn ở khóe miệng, nếp nhăn nhúm ở bàn tay… đã không thể chấp nhận được mình, đã âu sầu buồn bã, có người phải căng da mặt, bơm xóa vết nhăn hy vọng giữ mãi vẻ trẻ trung nhưng chỉ được một thời gian ngắn rồi cũng “hiện nguyên hình”, có khi tệ hơn! Xây dựng hình ảnh về chính mình (self image) rất quan trọng. Nếu đó là một hình ảnh tích cực, nó sẽ giúp cho mình tự tin hơn và từ đó ảnh hưởng đến “môi trường” xung quanh, còn nếu là một hình ảnh tiêu cực thì sẽ rất không hay.
Tuesday, June 30, 20208:37 AM(View: 90)
Năm 1993, Nhà xuất bản Tân Thư in tập truyện Thằng Bắt Quỷ, gồm các truyện của tôi đã đăng trên tạp chí Hợp Lưu cùng vài truyện viết trước 1975. Ngay sau đó xuất hiện bài viết của Dịch giả Phan Huy Đường, ký tên Trần Đạo, tựa đề Thằng Bắt Quỷ, Ba mươi năm nung nấu một ngọn lửa [bài đăng trên tạp chí Hợp Lưu, số đặc biệt về nhà văn Mai Thảo]. Gần một năm sau tôi mới nhận được một thư tay, từ Paris của ông. Sau thủ tục thăm hỏi, ông đề nghị, và đã dịch tác phẩm của tôi sang Pháp ngữ. Trải mấy mươi năm, rất mong được gặp mặt nhau, dzô một ly rượu, ông đã qua đời năm 2019 tại Paris. Tháng Ba năm 2008, tôi nhận được một thư của một Kẻ Xa Lạ, nhà văn Đặng Thơ Thơ. Cô thông báo với tôi là Ban Biên tập tuần báo mạng Văn chương Không biên giới Da Màu sẽ thực hiện một số Đặc biệt Văn chương Cung Tích Biền. Số đặc biệt này khá phong phú, từ 23 đến 28 tháng 8-2008. Cô là chủ biên, viết bài nhận định, có thêm một bài phỏng vấn 4 [bốn] triền miên phiêu bồng dài dặc. Hai năm sau, nhân dịp cô từ Mỹ