DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,534,074

Về Quê - Trần Yên Hòa

Monday, August 15, 201112:00 AM(View: 24108)
Về Quê - Trần Yên Hòa

Về Quê



Làng cũ Tam Kỳ


imagescakaspae

Sông Tam Kỳ


Đến nửa đầu thế kỷ XX, địa danh Tam Kỳ còn dùng để chỉ một xã thuộc tổng Chiên Đàn, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và “làng Tam Kỳ” cùng “làng Tứ Bàn” là hai trong các làng địa phương trước Cách mạng tháng Tám trực thuộc xã ấy.

Vị trí hai làng cổ Tam Kỳ đến thời điểm đó có thể xác định như sau: Nam giáp làng Phú Hưng và làng Khương Mỹ (nay thuộc xã Tam Xuân I) mà ranh giới là sông Tam Kỳ. Đông và Đông Nam giáp làng Phú Quý thượng (nay thuộc phường An Phú) mà ranh giới là sông Bàn Thạch; Bắc và Tây Bắc giáp hai làng Mỹ Thạch (nay thuộc phường Tân Thạnh) và làng Phương Hòa (nay thuộc phường Hòa Thuận); Tây giáp thôn Trà Cai của làng Chiên Đàn (nay thuộc phường Hòa Thuận) và tây nam giáp làng An Dưỡng và Trường Xuân (nay thuộc phường Trường Xuân).

Tam Kỳ là ngôi làng rất xưa. Theo gia phảcác họ tộc tiền hiền tại đây, những cư dân đầu tiên đến vùng đất này từ niên hiệu Hoằng Định (1600) đời vua Lê Kính Tông (tộc Trần) và từ 1740 đời vua Lê Hiển Tông (tộc Nguyễn). Tên làng có lẽ có trước 1767, bởi đến thời điểm đó, địa danh Tam Kỳ còn được dùng để chỉ một khu vực rộng hơn đó là Tam Kỳ tân lập xã (1). Làng có các ấp: Hương Trà, Hương Sơn thượng, Hương Sơn hạ, Hòa Phước, Hòa An ấp, Hòa An khuôn (2). Hương Trà, một ấp nằm sát tả ngạn sông Tam Kỳ là nơi định cư sớm nhất của các di dân từ xã Kim Chuyết, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hương Sơn hạ là ấp định cư ban đầu của di dân tộc Nguyễn từ xã Ngọc Lâm, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa vào (3).



imagescadpdev7

Nữ sinh. (ảnh minh họa)


Đình làng Tam Kỳ nằm ở khu vực ấp Hòa Phước (gần khu vực Quỳnh Phủ hội quán hiện nay) (4). Gần đấy có một giếng Chăm cổ đáy vuông, thành vuông có bốn trụ nhô cao thường được gọi là giếng Bốn Trụ. Giếng đó đến nay hãy còn (ở khu vực khối phố 1 phường Hòa Hương, thành phố Tam Kỳ).

Bến của “tuần đò Tam Kỳ” giữa thế kỷXVIII được nhắc trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn nay không thể xác định nằm ở khu vực nào ở tả ngạn sông Tam Kỳ. Có khả năng bến ấy nằm ở khu vực giữa cầu cũ và cầu mới Tam Kỳ hiện nay. Nơi ấy, khoảng 1952-1954, gọi là “bến thương thuyền” là nơi tập trung những thuyền buôn từ các nơi đổ về; những thuyền này trước đỗ ở bến Chợ Vạn sau vì máy bay Pháp oanh tạc đã tụ cả về đây.

Khu vực “Hòa An khuôn” có một địa danh là“Phủ cũ” xuất phát từ việc ghi nhận tại đây có lỵ sở của phủ Tam Kỳ xưa. Nền lỵ sở này ngày nay là nơi tọa lạc của trụ sở phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ. Hiện còn một cây đa cổ thụ tuổi có thể hơn 200 năm nằm sát khu vực này.
Cách phủ lỵ Tam Kỳ về hướng Nam Đông Nam khoảng 500 mét có một gò đất rộng, bằng phẳng gọi là “Gò Nha”. Chẳng rõ đấy có phải là nơi tọa lạc của một số nha môn thuộc phủ Tam Kỳ xưa? Nhưng chắc nơi ấy chẳng phải là “nha sơn phòng” vốn lúc đó đặt ở Dương Yên thuộc huyện Bắc Trà My bây giờ.

Ven sông Tam Kỳ, phía trên đường thiên lý, có một khu đất gọi là “Gò mả đông” thuộc khu vực làng Hương Sơn thượng. Tương truyền đây là nơi chôn rất nhiều nạn nhân của một trận đói lịch sử (?) thời xưa; như phía hữu ngạn sông Tam Kỳ có “Gò dịch” chôn nạn nhân của một trận dịch thời trước (?). “Gò mả đông” là nơi thực dân Pháp hành hình nhà yêu nước Trần Thuyết, một thủ lĩnh nông dân địa phương trong phong trào kháng sưu chống thuế năm 1908.

Ga Tam Kỳ nằm gần sát cột cây số đường sắt chính giữa ga Hà Nội và ga Sài Gòn. Từ cuối thế kỷ XIX, khi hòan thànhđường sắt xuyên Việt, ga Tam Kỳ đã hình thành. Ga này nằm ở trung điểm khoảng cách giữa ga Quán Rường (nay là ga An Mỹ) ở phía Bắc và ga Phú Hưng còn gọi là ga tạm Khương Mỹ (nay không còn) ở phía Nam thuộc địa phận xã Tam Xuân I, Núi Thành.
Từ ga Tam Kỳ, người Pháp thiết kế một con đường thẳng xuống hướng Đông Bắc (nay là đường Huỳnh Thúc Kháng), song song với đường băng qua đường sắt xuống chợ Vạn (nay là đường Trần Cao Vân). Nối hai con đường ấy, có một quan lộ (nay là một đoạn của đường Trần Dư). Chỗ góc tiếp giáp đoạn quan lộ ấy với đường xuống chợ Vạn (nay thuộc khu vực Nhà văn hóa thành phố và trường THPT Lê Quý Đôn),đầu thế kỷ XX người Pháp đặt một đồn đại lý ở đấy. Cái đồn quân sự - hành chánh ấy đã được nhắc đến trong một bài thơ của thân mẫu cố giáo sư Tạ Quang Bửu, có chồng làm giáo thụ từng sống ở địa phương này:


“Phong cảnh Hà Đông có phải đây?
Có đồn đại lý, có lầu Tây
Nước sông Bàn Thạch quanh quanh chảy
Ngọn núi Tùng Lâm (5) lớp lớp xây?
Kim Đái đai vàng đâu chẳng thấy?
Thạch Kiều cầu đá hãy còn đây!
Sông Tiên nào thấy ông tiên tắm?
Bủa lưới giăng câu mấy chú chài!(6).


Sát đồn đại lý về phía Tây Nam là một bệnh viện mà dân địa phương quen gọi là “Nhà thương” (7). Phía đối diện đồn đại lý, cách 100 mét về phía Đông, là Sở Bang tá. Thân phụông Nguyễn Tăng Hích (tức nhạc sĩ Trần Hòan) từng một thời làm việc ở đây. Cạnh đấy, về phía đối diện là Nhà Dây thép (nay là trụ sở Bưu điện thành phố Tam Kỳ). Đồn Thương chánh nằm trên đường quốc lộ xế về phía Nam (nền đất đó nay gần vị trí trụ sở của Ủy ban Thanh tra tỉnh). Có thể kể thêm một số cơ sở khác như Maternité còn gọi là “Nhà thương đẻ” (nay thuộc khu vực chợ mới Hòa Hương) và Abattoir (Lò mổ gia súc) cũng gần khu vực đó.

Giữa khu Chợ Mới (nay là đường Huỳnh Thúc Kháng nối dài) và Chợ Vạn có trường tiểu học Pháp Việt (Ecole de plein exercice) còn gọi là trường Kiêm Bị (nay thuộc khoảng phía sau khu vực có hiệu trà Mai Hạc đường Phan Châu Trinh). Nhiều thế hệ học sinh cao niên còn nhớ tên các thầy từng làm đốc học nơi đây như thầy Đốc Cảnh (Trần Cảnh), thầy Đốc Hoành (Hà Thúc Hòanh), thầy Đốc Cầm, thầy Đốc Thuyên (con trai chí sĩ Trần Quý Cáp) …
Cùng với ngôi trường trên còn có trường Nữ tiểu học Pháp Việt ( Ecole de jeunnes filles)(8). Bà Lê Đình Lâm (còn gọi là bà Trợ Lâm - thân mẫu giáo sư nông học Lê Văn Căn), một nữ trợ giảng người phủ Tam Kỳ từng làm hiệu trưởng trường này.

Những trụ sở của các tôn giáo tại làng Tam Kỳ xưa có rất muộn và ít: có thể kể chùa Tịnh Độ, chùa Tam Bảo, nhà thờ công giáo địa hạt Tam Kỳ (xây năm 1937) và một nhà nguyện Tin Lành (xây sau 1940).Ở Tam Kỳ xưa, ngoài đạo thờ tổ tiên theo truyền thống, đến giữa thế kỷ XX, sốngười có tín ngưỡng khác không nhiều.

Làng Tứ Bàn gồm bộ phận dân cư đến định cư ở ven sông Bàn Thạch - một nhánh của sông Tam Kỳ - nơi lưu truyền câu ca:


Hồ, Huỳnh, Trần, Nguyễn. Đỗ, Đinh, Lê
Đồng hướng Nam du hội nhất tề…”.


Tại khu vực này, có một miếu thờ 7 họ tộc đã được nhắc đến trong câu ca trên; đó là “Miếu thất phái” sau trở thành trụ sở đình làng Tứ Bàn còn được gọi là “đình thất phái”.

Chếch về phía Nam“đình thất phái” khoảng 300 mét là Quỳnh Phủ Hội Quán do các người Hoa gốc Hải Nam thành lập. Trong khu vực Hội Quán này có chùa Chiêu Ứng được xây dựng mang tên trùng với Chiêu Ứng tự tại Hội An.

Dãy phố nằm giữa hai cơ sở văn hóa trênđược dân địa phương thời Pháp thuộc quen gọi là “dãy dọc” (nay nằm trên trụcđường Duy Tân). Trên dãy phố này, có nhiều cửa hàng của người Việt như An Lợi bán rượu, ông Hai Dao bán cao lầu, bà Bảy Sửu cho thuê truyện, ông Thuyết buôn lâm thổ sản, ông Sum buôn mắm, bà Khải, bà Đức Thọ, bà Năm Nho… Gia đình ông Nguyễn Quý Hương, thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân, từng một thời sống ở dãy phốnày.

Bến chợ Vạn thuộc làng Tứ Bàn trên sông Bàn Thạch nằm ở điểm giao hội các con đường từ Trà My, Tiên Phước xuống vùng hạ bạc và con đường dẫn lên khu chợ Vạn (nay là đường Xóm Củi sát mé sông, thuộc phường Phước Hòa). Chợ “Man” được nhắc đến trong Đại Nam Nhất Thống Chí phần viết về tỉnh Quảng Nam xưa có lẽ nằm gần khu vực này.

Chợ Vạn là nơi tập trung buôn bán khá sầm uất – gần đấy có một dãy phố “Hoa kiều” gọi là “dãy ngang” (nay thuộc đường Phan Đình Phùng, gần trụ sở phường Phước Hòa). Nơi đây, đến giữa thế kỷ XX, vẫn còn san sát các hiệu buôn người Hoa như của các ông Năm Ngô, ông Phong, ông Bang Căn, ông Lý Tuế (ông Cào), ông Cao Vinh Sanh (Đạt An), ông Cả Chiếu (Ngô Quân Tụ), Quảng Nam Lợi, Phúc Xuân Lợi, Quảng Nam Thạnh, Phước Dũ Thạnh… Các hiệu buôn này chủ yếu làm đại lý trung chuyển nguồn lâm thổ sản từ các miền nguồn Nam Quảng Nam đưa về Hội An để xuất khẩu; một số hành nghề thuốc Bắc. Có thể kể thêm một đại lý cho hãng rượu Sica của Pháp tại khu vực này là ông Nhì Xùng (Di Sùng ?) (9). Về sau, đến thập niên 1930, khi chợ Mới (sau gọi là chợ Mai) được thành lập thì chợ Vạn được người địa phương gọi thành tên “chợ Cũ”.


...........

Chú thích:

(1) Theo một sắc phong năm Cảnh Hưng thứ 27 (1767) còn lưu tại nhà ông Trần Văn Tuyền, Hương Trà, Hòa Hương, Tam Kỳ.

(2) Theo cụ Nguyễn Ngọc Cẩn 84 tuổi ở khối phố 7 phường An Xuân, thì đến đầu thế kỷ XX, cả Hòa An ấp và Hòa An khuôn đều được nâng lên thành làng cùng với làng Phước Xuyên thuộc khu vực Cồn Thị bên kia sông Bàn Thạch.

(3)Theo gia phả tộc Trần làng Hương Trà và gia phả tộc Nguyễn làng Hương Sơn, Tam Kỳ.

(4)Vẫn theo cụ Nguyễn Ngọc Cẩn, thì đình này bị tháo dỡ trong thời kỳ tiêu thổ kháng chiến; còn nơi đặt đình Tam Kỳ (còn gọi là đình Hương Trà) hiện nay vốn trước đó là nền một ngôi chùa do người Hoa lập nên gọi là Chùa Ông.

(5) Có người cho đây là tên khác của cụm núi đất An Hà - Quảng Phú hiện nằm ở khu vực phường An Phú, Tam Kỳ. Nhưng, nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng thì ghi là núi Thanh Lâm - nay thuộc xã Tiên Thọ, Tiên Phước. (Xin xem thêm “100 năm Phủ lỵ Tam Kỳ” Kỷ yếu hội thảo khoa học, Sở TTVH Quảng Nam XB tháng 12.2006 trang 32,33)

(6) Những mô tả trên của Tạ Quang Diệm phu nhân bao gồm nhiều địa điểm thuộc khu vực phủ Tam Kỳ xưa mà nay đã tách thành bốn khu vực hành chính: huyện Tiên Phước, huyện Núi Thành, huyện Phú Ninh và thành phố Tam Kỳ. Vì thế, nhiều người khác địa phương hẳn không ngạc nhiên gì khi thấy những ghi nhận về vùng đất Tam Kỳ xưa không chỉ bao gồm đất và người ở nội thành mà còn ở cả ba huyện còn lại đã nói trên, cùng với cả địa giới hai huyện Nam và Bắc Trà My vốn đến cuối thế kỷ XIX vẫn còn thuộc “Tam Kỳ phủ”.

(7) Theo hồi ức của một vài vị cao niên thì thứ tự các trụ sở thời Pháp thuộc từ đồn Đại lý kể xuống theo trục đường có thể liệt kê như sau: a. Đồn Đại lý; b. Sân tennis; c. Nhà thương; d. Sở Lục lộ; e. Nhà Dây thép…

(8) Có người nhớ vị trí trường tọa lạc gần khu vực Quỳnh Phủ Hội Quán; lại có người nhớ trường này đặt ở khu vực hiện nay là trường tiểu học Trần Quốc Toản đường Trần Cao Vân. Có thể trường Nữ tiểu học Pháp Việt này trước nằm gần quốc lộ sau chuyển lên vị trí mới chăng?

(9) Theo lời kể của ông Vương Tải Minh, gốc Hoa, hiện ở đường Huỳnh Thúc Kháng nối dài.


(Sưu tầm)



Mùa Xưa


Thư của chị tôi từ quê nhà gởi sang, ''Quê mình mùa nầy đang là mùa dẫy mả, chị đã nhờ các anh chín Ngân, mười Kiều, ba Tạo giúp dẫy mả cho ông bà cha mẹ mình rồi, trông cũng khang trang sạch sẽ lắm. Nhưng nhìn mả cha mẹ mình còn là mả đất, chị buồn ghê! Em cố gắng làm ăn để dành tiền gởi về cho chị xây mả cho cha mẹ mình, nghe em.''. Đọc thư, tôi thật bùi ngùi, xúc động. Ngày này, quê mình là mùa dẫy mả. Đã bao lâu rồi tôi không trở về quê cũ trong ngày lễ gia đình nầy. Hình như cũng trên hai mươi mấy năm, 27 tuổi vào trại tập trung, 34 tuổi ra trại về sống lây lất ở Sài Gòn cho đến ngày đi Mỹ. Quê hương và tuổi ấu thơ tôi ở đó như một giải lụ hồng êm mát, bây giờ đã xa ngút mắt. Quê hương Quán Rường, một Tam Kỳ bé nhỏ của tôi.

Tự dưng, tôi nhớ Quán Rường quá chừng. Cái tên chợ không biết ai đặt mà ở đất Quảng Nam ta có nhiều tên như thế. Nhưcâu ca dao '' Ai đi chợ Quán, chợ Cầu. Mua cau Phú Mỹ, mua trầu Hội An.'' Chợ Quán Rường, chợ Quán Gò, chợ Được, chợTrạm....

Mùa dẫy mả, rồi đến lập đông, rồi đến Tết. Bây giờ bên đó chắc mưa dầm lắm. Tôi nhớ quá những ngày còn đi học, đạp xe đạp từ Quán Rường xuống ngã ba Chiên Đàn rồi theo quốc lộ 1 vào trường Trần Cao Vân. Mùa nầy, những người dân từ các vùng quê gồng gánh nào khoai lang, dây lang, rau cải, đi từ sáng sớm để vào Tam Kỳ hay ra Hà Lam bán lấy tiền tiêu Tết. Họ đi từng hàng dài từ sáng sớm tinh sương, nói chuyện cười đùa vui vẻ như không biết nổi khổ đau là gì. Cuộc sống của người dân quê vốn bình dị và chất phát.

Chợ Quán Rường, tôi nghe mẹ tôi kể lại có một bà già nào đó đến đây lập một cái quán bán nước chè cho khách qua đường, cái quán thô sơ bằng gỗ, lợp tranh nên gọi là quán rường ( nhà rường là nhà lợp tranh nhưng bằng gổ tốt, nhà rội cũng nhà lợp tranh nhưng bằng gổ tạp, gổ xấu ). Cái tên đó dần dà theo năm tháng trở thành cái tên chung của một cái chợ, bây giờ to lớn hơn, đẹp đẽ hơn. Chợ nằm ngay trên đường tỉnh lộ từ ngã ba Chiên Đàn lên Cẩm Y, Tiên Phước. Ngôi chợ được cất bằng tôn, có chia từng ô cho mỗi mặt hàng, chung quanh có một dãy cây bàng cành lá xum xuê, trái đầy bóng mát. Mẹ tôi đã từng tần tảo ở đó, đã từng lê lếch ở đó để bán từng rê thuốc lá, để tự nuôi sống mình và nuôi hai đùa con trai đang ở trại tập trung cải tạo (nay chợ đã diờ vào trong). Hai đứa con trai là sĩ quan QLVNCH, ngày còn tại chức cũng chẳng giúp được gì mẹ bao nhiêu, lúc nào mẹ cũng lo cho hai đứa con trai đi lính không biết bây giờ ở đâu. Ngày chạy tị nạn cộng sản, cha mẹ tản cư xuống thị xã Tam Kỳ, mẹ cũng lê la ngoài chợ bán hàng. Mỗi lần tôi nghỉ dưởng quân về thăm mẹ, tôi phải chạy ra ngoài chợ khu Nam kêu mẹ về. Bảy năm ở trại tập trung, mẹ cơm đùm, cơm gói thăm nuôi. Bây giờ thì chợ Quán Rường còn đó mà mẹ đã mất rồi. Tôi thì bơ vơ ở Mỹ, ngày dẫy mả cha mẹ tôi không được vác cuốc đi dẫy mả cùng bà con chòm xóm. Bây giờ giá mà còn mẹ thì hạnh phúc cho tôi biết bao nhiêu.


imagescahiud92-thumbnail


Ngày tôi sắp đi Mỹ, bạn bè cũ ở trường Trần Cao Vân có mở tiệc tin đưa. Có hội đồng hương Tam An, quê tôi, tham dự. Hôm đó thật vui mà cũng thật bùi ngùi. Anh Nguyễn Ngọc Diện, trưởng ban liên lạc cựu học sinh trung học Trần Cao Vân phát biểu, chúc gia đình bạn đi bình an, mau an cư lạc nghiệp, luôn luôn nhớ về trường xưa và bạn bè. Anh Năm Tre, trưởng ban liên lạc Hội Đồng Hương Tam An, Tam Đàn tặng gia đình tôi một bức tranh sơn mài. Anh tư Thng cũng vậy. Trong cái bắt tay của bạn bè ai cũng chúc, cố gắng nghe mầy, qua bên đó dựng lại đời nghe, luôn nhớ anh em ở quê nhà, nhớ bà con chòm xóm. Tôi không hình dung được cái xứ Mỹ như thế nào nhưng trong đầu óc tôi suy nghĩ, chắc là sung sướng hơn, tự do và hạnh phúc hơn. Tôi đã mạnh dạn nói với bạn bè, thân hữu, tôi sẽ không bao giờ quên.

Thế mà qua đây đã mấy năm tôi vẫn chưa làm gì để bù đắp lại những tấm lòng ấy. Tôi đáp máy bay xuống phi trường Los trong một ngày tháng 3 lạnh lẽo, phi trường Los rộng bao la và tiện nghi quá mức. Sau khi làm xong thủ tục giấy tờ, tôi lên xe buýt để về phi trường Orange County. Người sponsor và những bà con bạn bè đón tôi ngoài phòng đợi. Lên xe về nhà người sponsor mà lòng nặng trĩu những suy tư. Cuộc đời bắt đầu từ đây với một nơi chốn không phải là quê hương mình. Về căn nhà người sponsor với ngôi nhà trần thấp, lót thảm, tôi không tưởng tượng được nhà bên Mỹ lại xây cất thế nầy, vẫn cứ nghĩ đến những căn nhà cao tầng, những cầu thang máy, những phố xá đầy nghịt cả người. Những tên gọi Little Sài Gòn, Bolsa, Westminster nghe sao lạ hoắc. Rồi những tiệc tùng của bạn bè, những lời thăm hỏi, những đón đưa. Trước tiên là chuyện giấy tờ, social-security, medical, tiền trợ cấp, rồi đi khám sức khoẻ, khám răng, làm kính, rồi chuyện đi học Anh Văn để chuẩn bị xin việc làm. Những đón đưa của bà con và bạn bè cũng thưa thớt dần vì ai cũng bận rộn tứ bề. Cuộc sống ở Mỹ, nói theo một một câu Việt Nam là ''chạy như vắt chân lên cổ'' với thời gian, những giúp đở ban đầu cũng dần dần thưa thớt. Bây giờ phải tự lực cánh sinh đây, phải mua một chiếc xe và phải có bằng lái. Những khó khăn dần dần rồi cũng qua đi, chỉ còn là công ăn việc làm chứ tiền trợ cấp một tháng chỉ 250 $ làm sao mà tiêu xài sinh hoạt cho đủ.

Một người bạn trong lớp học ESL mách với tôi: ''Ở quán Sông Hương cần người phụ việc, anh muốn làm không?'' Tôi gật.''Chỉ mình đi''. Ngồi trên xe người bạn dẫn đi xin việc mà tôi hạnh phúc. Thế là đã có chuyện làm. Đến quán gặp cô chủ, cô chủ nói, ''Ở đây cần người bưng đồ ăn lên cho khách, và làm mọi việc linh tinh, chỉ làm thứ bảy và chủ nhật, mỗi ngày từ 7 giờ sáng đến 9 giờ đêm, lương 30$ với 5$ tiền típ. Tôi gật, được. Vì tôi nghĩ, Kệ, làm đại, ban đầu mà, ở VN làm đầu tắt mặt tối mà một ngày chỉ được mấy đồng đô la tính theo tiền Mỹ. Ngày thứ nhất đi làm, tôi thức dậy sớm, lên chiếc xe đạp mượn của một người bạn, tôi hăm hở như thuở còn thanh niên, ngày mới ra trường Đà Lạt, ngày được đeo trên vai chiếc hoa mai vàng chói lọi đi trình diện đơn vị mới, nay thì trình diện cô chủ quán tuổi trạc tuổi con tôi. Vì là ngày thứ bảy nên quán rất đông khách, tôi nào rửa chén bát, lau bàn, bưng thức ăn, bưng rau, chanh ớt, đúng là một tay bồi bàn chính hiệu. Bây giờ tôi mới hiểu nỗi xót xa của những con người đã có một thời kỳ vang bóng mà phải làm những công việc như thế nầy. Nhưng với tôi thì không, trong gần bảy năm tù tôi đã phải khiêng biết bao nhiêu thùng phân người còn tươi rói đi bón rau xanh, cuốc biết bao nhiêu thước đất để trồng cao su, trồng lúa ở vùng Long Khánh, Long Giao mà có được trả đồng xu teng nào đâu, lại còn phải ăn toàn khoai mì lác đầy độc tố. Rồi những ngày được trở về với gia đình sống lây lất ở Sài Gòn, tôi đã làm biết bao nhiêu nghề khổ nhọc, đi chẻ củi thuê, chạy xích lô, vá xe đạp lề đường, bán bánh tiêu, bánh bò dạo... Bây giờ được làm như thế nầy còn sướng hơn gấp trăm lần đi chứ. Ngày đầu tiên được lãnh 35$đô la, tôi nghe sung sướng lạ lùng. Tôi ngữi đồng đô la như có mùi thơm toát ra ngào ngạt, tôi muốn hôn vào nó quá. Đây là công sức, là sự trả giá quá đắt của 7 năm tù, của những ước mơ đâm chồi từ ngày nộp giấy tờ xin xuất cảnh. Sự ra đi là một cuộc vưt thoát từ một độc tài sang một nơi là bến bờ tự do, được trả giá bằng sự chọn lựa tự nguyện, của một ước mơ hạnh phúc. Mùi đô la thơm lừng trong trí tưởng tôi, nguyên vẹn, bừng bốc trong lòng tôi nổi khát khao một tương lai tươi sáng.

Nhưng công việc làm bồi bàn cũng chẳng được bao lâu, đến tuần thứ... cô chủ nói, ''độ rày quán bán ế quá, tuần sau chú nghỉ, khi nào cần sẽ gọi chú.'' Tôi buồn bả trở về. Một người cùng phụ việc nói với tôi, ''chú làm chậm quá, cổ không mướn, mướn Mể còn hơn.'' Tôi hiểu chuyện đó cũng bình thường, hồi ở Việt Nam tôi đã đọc một số báo có bài viết nói về những người lớn tuổi, thường gặp trở ngại về công việc làm ở Mỹ, nhưng tôi còn trẻ mà, chưa quá năm mươi, làm sao mà già được. Sau đó tôi còn làm một vài công việc khác nữa, như đi cắt chỉ ở các shop may VN, ủi đồ, làm final, cũng tạm sống qua ngày, nhưng với giá thuê nhà đắt đỏ ở Cali làm sao dư dã nổi.

Tôi nhớ lời hứa với chị tôi trước ngày lên máy bay, ''Điều em quan tâm đầu tiên khi đến Mỹ là khi làm có một ít tiền, em sẽ gởi về cho chị xây mả cho cha mẹ ông bà''. Điều ước vọng đó bây giờ đã quá lâu. Tôi đã bỏ Cali đi đến tiểu bang Iowa làm công nhân trong hãng thịt heo. Thật sự thì tôi muốn kiếm tiền để làm tròn ước nguyện. Chiếc xe buýt chở tôi qua những chặng đường, La Vegas, Colorado, Denver, Sioux City, Desmoine, rồi Waterloo. Tôi đã nhìn thấy những phồn vinh, những vĩ đại của nước Mỹ, những Hway dài tít tắp, những núi đá hùng vĩ mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Rồi tôi được gặp những người Mỹ hiền lành, tốt bụng và tôi an tâm sống.

Tôi đã sống ở nơi đó qua những mùa đông dài, rét cóng. Tuyết rơi đày trên đường đi và vùi dập thành phố trong ba bốn tháng. Mùa tuyết, mùa của lạnh lo tột cùng, mùa của giá băng. Đường đi từ bãi đậu xe đến cửa ra vào hãng chưa đầy hai trăm mét mà nghe rét cóng. Cái lạnh tột cùng ở đây làm tôi sợ hãi, những lá cây chuyển từ đỏ sang vàng và rụng đầy đường đi. Trời lạnh cóng, buổi sáng thức dậy đi làm phải mặc ba bốn lớp áo, ra mở cửa xe bị chặc cứng vì tuyết đóng. Nhưng những ngày nầy sẽ qua đi và sang Xuân cây lá sẽ đâm chồi nẩy lộc. Cũng như ở VN, ở quê tôi, mùa đông giá buốt sẽ qua đi và Tết sẽ đến. Chợ quán Rường, chợ Hà Lam, chợ Tam Kỳ sẽ đầy đặc người đi chợ Tết, từ sáng tinh sương vẫn lũ lượt bao người gánh gồng tất tả ngược xuôi. Cuộc sống của dân ta ở quê mình suốt đời là vậy. Ơi thương nhớ quá đi thôi.

Lần trở về mới đây, trên căn nhà cũ, tôi với vợ chồng anh chị Phong - Tân, đứng trước bàn thờ cha mẹ, đứng trước ngôi mộ mới xây, đi qua chợ quán Rường, khu nhà ga, đường rầy xe lửa. Tôi thấy lòng vẫn còn như bnhững nhát dao đâm. Lòng không thảnh thơi, không hạnh phúc. Cái nơi chốn ấy đã hóa loảng trong tôi. Đi thì nhớ nhưng chắc là không ở lại được, không sống được.

Tôi, như nhà thơ Tô Thuỳ Yên trong bài thơ ''Ta Về'' mà tôi xin chép ra đây:


Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay,

Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống,

Giải oan cho cuộc biển dâu nầy.

.......................................................

Ta về như sợi tơ trời trắng

Chấp chới trôi buồn với nắng hanh.

Ai gọi ai đi ngoài quảng vắng?

Phải, ôi vàng đá nhắn quan san?

........................................................

Ta về khai giải bùa thiêng yểm

Thức dậy đi nào gỗ đá ơi!

Hãy kể lại mười năm mộng dữ.

Một lần kể lại để rồi thôi.

......................................................

Cây bưởi xưa còn nhớ trắng hoa

Đêm chưa khuya lắm, hởi trăng tà!

Tình xưa như tuổi già không ngủ

Bước chạm khua từng nỗi xót xa.

(Ta về, Tô Thùy Yên )


Trần Yên Hoà


Qu
ê Tôi Quán Rường


(Tr
ần Yên Hòa về thăm quê ngày 18-19-20/11/2010)



qr-content

Chợ Quán Rường



ve_que-content
Chị Hai cho ăn tô bún bò Huế - sao mà ngon


ve_que_1-content
Với chị Hai - nh
ư Mẹ ngày xưa


ve_que_2-content
Ôm chị Hai một cái


tri_hoa_5_1-content
V
ới dì Kim


tri_hoa_6_0-content



ve_que_4-content
Thăm bạn Trịnh Quang Vinh (tức Trịnh Tộ) cựu học sinh Trần Cao Vân.
 10 ngày sau Vinh đã mất vì ung thư gan


ve_que_5-content


ve_que_6-content
Cùng Trịnh Lợi, tức Trịnh Can, cựu học sinh Trần Cao Vân, nay ở Quy Nhơn (là anh Trịnh Quang Vinh)


ve_que_7-content


ve_que_8-content
Cùng anh Nguyễn Nho San, cựu học sinh Trần Cao Vân, hiện là nông dân ở Quán Rường


ve_que_9-content
TYH v
à Khánh Hồng đi hát Karaoke tại Tam Kỳ

ve_que_10-content


ve_que_11-content
Vợ chồng 2 cháu T
í (con chị 2)


ve_que_12-content
Đi thăm Ba Nà


ve_que_13-content
Cùng nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy, Hà Nguyên Dũng, Nguyễn Phú Long



ve_que_14-content
TYH & KH dự đám cưới con người bạn


BVN-TH


M
ời nghe nhạc: Thu Hát Cho Người
nhạc Vũ Đức Sao Biển. Giọng hát: Bằng Kiều
:
Copy rồi Paste vào Web:


http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=XmqC5nP0bE


Reader's Comment
Friday, September 2, 20117:00 AM
Guest
Not bad at all felals and gallas. Thanks.
Wednesday, October 26, 20117:00 AM
Guest
Hello Võ Xuân Quý. Quý cùng quê với mình làm sao không nhớ! Hãy email cho mình nhé. Xem phần liên lạc của trang banvannghe.com sẽ có email của mình. Chúc vui nhe. Nhớ Quán Rường và Thành Mỹ lắm. Tình thân. TYH
Tuesday, October 25, 20117:00 AM
Guest
Nhung hinh anh que minh nhin lai sao ma than thuong the ? minh cam on anh Hoa,khong biet a Hoa con nho minh khong ?
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, August 3, 20217:24 AM(View: 36)
Chắc rằng phố cũng buồn tênh. Cho tôi đừng nghĩ mình ên tôi buồn. . Phố buồn sao phố mù sương? Gió ru rất khẽ phố đương khóc chiều. Tội cho phố biết bao nhiêu! Phố ôm chiều vắng cô liêu nỗi lòng. . Phố buồn đỏ mắt tà dương. Chiều dần rụng xuống nỗi buồn dâng cao.
Sunday, August 1, 20217:33 AM(View: 138)
Có một nỗi buồn không hiểu được. Từ thinh không rơi xuống giữa hồn. Ta chất ngất nếm xem mùi vị. Những nồng nàn đã lấp hố chôn. Nỗi buồn nào ai giống ta không. Ta một mình ngập tràn ân oán Giữa thời gian im hơi lặng tiếng. Lặng lẽ riêng ta chốn bụi hồng. Lòng ta nay như vầng trăng khuyết. Đêm tàn hơi giấc ngủ chập chờn
Saturday, July 31, 20217:28 AM(View: 47)
điều gì đã biến nơi này thành đất chết. mấy trăm năm từ lúc có bến thành. con sông đó có ngày trong ngày đục. nhưng tuyệt nhiên chẳng có lúc lạnh tanh. điều gì đó biến đất này không thể sống. khi nhà bè nước vẫn chảy
Thursday, July 29, 202112:15 PM(View: 59)
Hỏi rằng chanh có trổ hoa. Từ khi ta bỏ lại nhà hỡi chanh? Trần ai dẫu khổ cũng đành. Ở phong lưu mấy cũng thành quỉ ma. Hỏi giờ chanh đã trổ hoa. Đến khi ra trái chắc ta không về. Trần ai thiên hạ buồn ghê. Phù vân cản lối ta về rồi chanh.
Wednesday, July 28, 20216:47 AM(View: 211)
Hắn già nua cô đơn chèo queo, và xấu xí đến gớm ghiếc như mụ phù thủy đầu đội mũ chóp nhọn bay tàn tàn trên cây chổi cùn, vậy mà hắn vừa có... mèo cái con mèo bé nhỏ, con mèo non nỏn chân dài tới nách xinh đẹp ấy... con mèo của hắn có đôi mắt hiền nai tơ, ngây thơ con gái dịu dàng bốn mùa thay lá có lúc vàng áo em anh về yêu hoa cúc,