DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,403,361

Hồ Dzếnh “Nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa” - LÊ NGỌC TRÁC

Saturday, December 31, 20162:34 PM(View: 3965)
Hồ Dzếnh “Nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa” - LÊ NGỌC TRÁC
Hồ Dzếnh  “Nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa”


ho dzenh
 
Từ những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ 20, trên văn đàn Việt Nam có 2 tập truyện ngắn gần như xuất hiện cùng một lúc. Cả hai tác phẩm đã được người đọc đón nhận với tất cả sự quý mến. Mãi đến hôm nay đã gần 70 năm, bao thế hệ người đọc yêu mến văn chương vẫn còn say mê hai tác phẩm ấy. Đó là tập truyện ngắn "Những ngày thơ ấu" của Nguyên Hồng và "Chân trời cũ" của Hồ Dzếnh. Đây là hai trong những tập truyện ngắn hay của văn học Việt Nam ở thế kỷ 20.
Hồ Dzếnh tên là Hà Triệu Anh sinh năm 1916 tại làng Đông Bích xã Hòa Trường huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa. Ông mất vào ngày 13/8/1991 tại Hà Nội. Gần 60 năm cầm bút, Hồ Dzếnh để lại cho đời các tác phẩm chính: Về văn có: Dĩ vãng (Truyện vừa – 1940), Những vành khăn trắng (Truyện dài – 1942, ký bút danh Lưu Thị Hạnh), Tiếng kêu trong máu (Truyện dài – 1942), Một chuyện tình 15 năm về trước (Truyện dài, ký bút danh Lưu Thị Hạnh – 1943), Chân trời cũ (Tập truyện ngắn – 1943), Cô gái Bình Xuyên (Truyện vừa – 1946), Hồ Dzếnh -  tác phẩm chọn lọc (1988). Về thơ có: Tập thơ Quê ngoại (1942), Hoa xuân đất Việt (1946).
Hồ Dzếnh viết truyện dài, tiểu thuyết, thành công với tập truyện ngắn Chân trời cũ. Nhưng, thơ mới thật sự làm cho tên tuổi của ông nổi tiếng và được đông đảo bạn đọc yêu thích.
Thơ Hồ Dzếnh tràn đầy tình cảm, chân thật, độc đáo, mang vẻ đẹp tuyệt vời và sâu sắc, mới lạ. Thơ lục bát của Hồ Dzếnh mang hơi thở tâm hồn phương Đông. Nhà thơ Bùi Giáng mỗi lần đọc những bài thơ lục bát của Hồ Dzếnh đều nhận xét với tất cả lòng cảm phục: "Chẳng khác giải ngân hà lấp lánh nhớ nhung trên bầu trời văn học Việt Nam".
 
"Phút linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen
Khói trầm bên giấc mơ tiên
Bâng khuâng... trăng rải qua miền quạnh hiu
Tô Châu lớp lớp phù kiều
Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam
Rạc rời, vó ngựa quá quan
Cờ treo ý cũ, mây dàn mộng xưa
Biển chiều vang tiếng nhân ngư
Non xanh thao thiết trời thu rượu sầu
Nhớ thương bạc nửa mái đầu
Lòng nương quán khách nghe màu tà huân
Buồn Tư Mã, nhớ Chiêu Quân
Nét hoa thấp thoáng, ý thần đê mê
Phút linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen..."
(Đợi thơ)
Với một tâm hồn nhạy cảm, Hồ Dzếnh viết những câu thơ như một lời tiên tri về giây phút cuối cùng của một đời người với nhiều hệ lụy trần gian. Đọc xong, chúng ta nghe lạnh cả người và phải ngậm ngùi thở dài:
 
"Nằm đây tưởng chuyện ngàn sau,
Lung linh nến cháy hai đầu áo quan
Gió lìa cành lá không vang
Tin ta vĩnh quyết trần gian hững hờ!
Bao nhiêu dáng ảnh tôn thờ
Xa nhau lâu quá bây giờ lạnh nhau
Người về gối rét, nằm đau
Nghe trên thước đất phai màu nhớ thương
Chiều nào mây vọng hồn chuông
Ngừng đôi chân kẻ trên đường mải mê
Nghe tin ta lỗi câu thề
Nghìn thu xa vắng, ra về trước ai
Ngậm ngùi nhớ trắng rừng mai
Cảm thương sông nước, ghi bài điếu tang
Ngựa gầy bóng gió mênh mang
Cờ đen lối cũ, cây vàng nẻo xa...
Ta nằm trong ván trông ra
Tủi thân vì thấy người hoa vẫn cười!
Ta toan... giận dỗi xa đời
Chợt hay: Khăn liệm quanh người vẫn thơm!
Nát thân, không nát nỗi hồn
Lẫn trong cái chết vẫn còn cái đau."
(Tưởng chuyện ngàn sau)
Khi ta cô đơn, khi ta là người lữ hành cô độc, đọc bài thơ "Màu cây trong khói" của Hồ Dzếnh, chúng ta càng thấy đất trời mông mênh và lòng càng thêm hiu quạnh. Bài thơ đã được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ nhạc thành ca khúc "Chiều". Thơ và nhạc chấp cánh bay xa, ngân lên, nói hộ tiếng lòng của bao người:
"Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn  vang trong mây...
 
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều  nay?
 
Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
 
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói xanh bay lên cây..."
Hồ Dzếnh được sinh ra đời là kết quả của mối tình giữa một thương nhân người Trung Hoa quê ở Quảng Đông với người con gái chèo đò trên dòng sông Ghép ở Thanh Hóa. Hồ Dzếnh lớn lên trong tình thương yêu của người mẹ. Khi sáng tác, ông đã viết những câu thơ trân trọng, tràn đầy cảm mến về mẹ của mình, Người mẹ Việt Nam:
"Cô gái Việt Nam ơi!
Từ thuở sơ sinh lận đận rồi
Tôi biết tình cô u uất lắm
Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi
 
Cô chẳng bao giờ biết bướm hoa
Má hồng mỗi tiết, mỗi phôi pha
Khi cô vui thú là khi đã
Bồng bế con thơ, đón tuổi già!
 
Cô gái Việt Nam ơi!
Ngọn gió thời gian đổi hướng rồi
Thế hệ huy hoàng không đủ xóa
Nghìn năm vằng vặc ánh trăng soi
 
Tôi đến đây tìm lại bóng cô
Trở về đường cũ, hái mơ xưa
Rau sam vẫn mọc chân rào trước
Son sắt, lòng cô vẫn đợi chờ
 
Giải lúa cô trồng nay đã tươi
Gió xuân ý nhị vít bông, cười...
Ai hay lòng kẻ từng chăm lúa
Trong một làng con, đã héo rồi!
 
Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ Hy Sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi."
(Cảm xúc)
Sống trên quê ngoại yêu thương nhưng tâm hồn Hồ Dzếnh lúc nào cũng nhớ về quê cha, đất nước Trung Hoa rộng lớn với nỗi nhớ cháy bỏng của một người con lưu lạc, mơ một ngày trở về cố quốc:
"Ta nhớ màu quê, khát gió quê
Mây ơi ngưng cánh đợi ta về
Cho ta trông lại tầng xanh thẳm
Ngâm lại bài thơ "Phương thảo thê"
 
Đất thánh trời Đông, mẹ Á Châu
Anh hoa ngàn thuở rạng phong hầu
Chín cung thăm thẳm hồn hương khói
Danh vọng vang lừng mây gió Âu
 
Liễu Động Đình thơm chuyện hảo cầu
Tóc thề che mướt gái Tô Châu
Bâng khuâng trăng sáng trời Viên Hán
Một dải Giang Nam nước rợn màu
 
Ai hát mà nay, gió vẫn thơm
Ai đau non nước não căm hờn?
Chiêu Quân nếu mãi người Cung Hán
Thi tứ tìm đâu nét tủi hờn?
 
Mây ơi có tạt về phương Bắc
Chậm chậm cho ta gửi mấy lời
Từ thuở ly hương ta vẫn nhớ
Nhưng tình xa lắm gió mây ơi."
(Tư Hương)
Hồ Dzếnh viết về tình yêu lứa đôi cũng thật đặc sắc. Ý thơ rất riêng. Với Hồ Dzếnh, lỗi hẹn trong tình yêu cũng là niềm hạnh phúc, tình lỡ là tình đẹp. Và, được thưởng thức "thú đau thương" trong tình yêu. Nhiều thế hệ khi vào tuổi yêu đã thuộc lòng bài thơ "Ngập ngừng" của Hồ Dzếnh:
"Em cứ hẹn nhưng em đừng đến
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần
Tôi nói khẽ: Gớm làm sao nhớ thế
 
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Em tôi ơi tình có nghĩa gì đâu
Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu?
Thuở ân ái mong manh hơn nắng lụa
 
Hoa bướm ngập ngừng cỏ cây lần lữa
Hẹn ngày mai mà đến sẽ vui hơn
Chỉ ngày mai mới đẹp ngày mai thôi
Em cứ hẹn, nhưng em đừng đến nhé
 
Tôi sẽ trách – cố nhiên – nhưng rất nhẹ
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về
Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở
 
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho ngìn sau.. lơ lửng... với nghìn xưa."
 
Với sự nghiệp sáng tác của mình, Hồ Dzếnh đã có những đóng góp quan trọng vào nền văn học Việt Nam. Riêng những tác phẩm thơ đặc sắc của Hồ Dzếnh "nghìn sau còn lơ lửng với nghìn xưa..."./.




LÊ NGỌC TRÁC
(tác giả gởi)

 

Tài liệu tham khảo & trích dẫn:

 

- Thơ mới 1932 – 1945 (NXB Hội nhà văn – 2004)

- Tác phẩm chọn lọc của Hồ Dzếnh (1988)

- Trăng đêm Dương Tử trong tâm hồn thơ Hồ Dzếnh

  (Giữa trời hoa bay của Thái Tú Hạp – 2009)





 

*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, October 28, 20209:45 AM(View: 145)
Ngay từ thời kháng chiến, với đôi dép lốp và gậy tầm vông, những anh bộ đội hăng hái đi tòng quân đã hát vang như thế mỗi khi đi qua làng. Giờ giấc mộng trong câu hát đã thành sự thực. Nhưng quân thù đâu đã đầu hàng. Nó chỉ nhường cho ta nửa nước như bẻ đôi một cây mía để cho ta một khúc ngọn nhạt phèo. Ngọt sao được khi bốn tỉnh Nam Ngãi Bình Phú này phải giao cho nó! Những người đứng xem bàn tán. Một người nói: vậy là mình chỉ có nước húp mắm! Sao vậy, người khác hỏi. Còn sao gì nữa, ai đâu ngoài bắc mừng chớ mình mừng gì nổi. Tây nó tới đây ở đó mà mừng! Ờ há, một người khác kêu lên. Bọn họ chừng năm người, áo bà ba quần đùi xăn tới háng, để lộ những cặp chân không phải tươi mướt như cô đầm lai dạo nọ mà đen đúa lỏng khỏng như những khúc thù đâu phơi khô. Trong số họ có thủ ngữ Đực, nó nói, Tây tới đây thì đánh nữa chớ sợ gì. Nó lại hét toáng lên, giặc thua rồi không thấy à? Hoan hô lên chớ, hoan hô! Nhưng chẳng ai hô theo. Chỉ có vài đứa trẻ từ trong xóm chạy ra hô: muôn năm thủ
Saturday, October 24, 20208:41 AM(View: 173)
Đêm thứ nhất, sau khi trét xong cái vách đất biến ngôi nhà thành một cái hang lộ thiên khổng lồ, ông không thể nào chợp mắt được. Cái mùi xăng vẫn còn nồng nặc, rồi mùi của đất ướt ngai ngái, mùi của bóng tối đậm đặc, mùi của cây gỗ bị rang nóng… làm ông ngạt thở. Đã mấy lần ông chui ra ngoài hiên, ngồi đốt thuốc nhìn trời. Ngân hà giống con sông chảy qua làng trong mùa lũ, trông mênh mang cả một trời sao trắng đục. Ông thấy sao con công vẫn còn kéo cái đuôi óng ánh dài lê thê, sao con vịt xấu xí hếch cái mỏ lên trời và ông nghe thấy tiếng con chim heo kêu ụt ụt. Không có tiếng vạc kêu, cũng không có tiếng chim cú ném vào đêm tối những tiếng kêu dài ma quái. Đất trời vẫn yên hàn thanh tịnh, chỉ có lòng người vẫn không ngớt dậy lên những trận phong ba kinh hồn, lúc nào cũng để lại những tiếng dội âm ỉ như tiếng sấm rền trong mây. Cớ làm sao chỉ một bước mà mình đã lên địa chủ? Rồi một bước nữa là phản động. Đâu phải mình muốn bước mà mình bị đẩy lên, bị nắm tóc kéo lên chỉ sau một
Tuesday, October 20, 20209:29 PM(View: 224)
Cung Tiến từ nhỏ được xem là nhạc sĩ tài hoa, học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ Thẩm Oánh và Chung Quân. Năm 1952 theo thân phụ vào Sài Gòn học tại hai trường trung học Nguyễn Trãi và Chu Văn An. Năm 1953, sáng tác hai nhạc phẩm bất hủ Thu Vàng và Hoài Cảm. Theo lời anh “Lúc đi, nhớ tất cả những gì mà ở Hà Nội ghi vào ký ức mình”. Ca khúc Thu Vàng, điệu valse, khi nghe tưởng chừng như những bước chân chim nhảy nhót trên lá thu, và Hoài Cảm nhưng tâm trạng của kẻ tình si “Lòng cuồng điên vì nhớ. Ôi đâu người, đâu ân tình cũ… Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa” thật tuyệt. Thật khó tưởng tượng cậu học sinh lớp Đệ Lục (lớp 7) mà viết lên lời ca hay như vậy. Nhạc sĩ Cung Tiến sáng tác hai ca khúc Hương Xưa và Nguyệt Cầm. Thể loại nầy từ lời ca và giai điệu mang chất classical nên thường gọi là dòng nhạc bán cổ điển (semi-classic, semi-classical). Ca khúc Hương Xưa (1956) đã một thời nổi tiếng qua tiếng hát điển hình như Lệ Thu, Hà Thanh, Sĩ Phú, Duy Trác (Mai Hương trình bày với
Sunday, October 18, 20204:22 PM(View: 239)
Tôi chỉ là một công dân hạng hai cầm bút chứ không phải là nhà văn. Lại càng không phải là nhà văn có thương hiệu cho dù là cấp xã hay cấp nhà nước. Tôi viết trước hết cho các con tôi vì chúng rất mù mờ không hiểu cha ông chúng đã sống và đã chết như thế nào trong suốt hơn nửa thế kỷ dông bão vừa qua. Tôi có người bạn bảo bây giờ viết như Kinh Kha buồn. Nghĩa là biết chẳng tới đâu mà vẫn phải cầm lấy bút như cây chủy thủ. Tôi nghĩ còn hơn Kinh Kha buồn vì sông Dịch bây giờ chẳng những lạnh mà hoang vắng đến rợn người. Chẳng có một tân khách nào dám tiễn đưa. Cái đất Tần ấy lúc này đang ngút trời gươm đao bất trắc. Từ lúc nạn đói năm Ất Dậu đến nay có bao nhiêu triệu công dân hạng hai Việt Nam đã chết? Hai triệu? Năm triệu? Hay mười triệu? Chết vì đói, vì thủ tiêu, vì đấu tố, vì tố cộng, vì Mậu Thân, vì cải tạo, vì vượt biên… Cho dù ở bên nào họ cũng chỉ là những nông dân nghèo, cả đời khát khao mảnh vườn thửa ruộng. Chính vì vậy mà họ bị lừa phỉnh, bị lợi dụng, bị sai khiến.
Wednesday, October 14, 20208:35 AM(View: 255)
Cách đây hơn bốn mươi năm, khi còn ngồi trên ghế nhà trường cấp III, có một lần, trong buổi ngoại khóa, chúng tôi được thầy H. B. N. bình bài “Tiếng hát sông Hương” của nhà thơ Tố Hữu. Thầy bị cụt một tay, người chỉ được một mẩu, đuôi mắt trái lại có mụn ruồi to đùng nhưng giảng văn thì cực hay. Dường như những khi đứng trên bục giảng, thầy đã hóa thân vào tác phẩm, để rồi, trong phút xuất thần, chuyển tải cái nhân sinh quan cộng sản của một ông râu xồm mãi bên trời Tây vào con tim ngu ngơ của đám học trò nông thôn, quần âm lịch, chân đất, vốn chưa biết gì về nạn mại dâm. Theo sự phân tích rất logic từ mỹ học Marx-Lenin, thầy khẳng định, cô gái sông Hương là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị giày vò cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy nhiên, nỗi ô nhục ấy sẽ mất đi, người con gái vướng vào kiếp nạn ê chề sẽ được hoàn lương một khi Cách mạng vô sản thành công. Chân trời mới sắp mở ra. Những thân phận bọt bèo, lạc loài sẽ được sống trong một xã hội công bằng, hạnh phúc, đầy hoa