DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,346,515

Ngô Nhân Dụng - Ta về cho kịp độ xuân sang

Saturday, January 28, 201710:56 PM(View: 3227)
Ngô Nhân Dụng - Ta về cho kịp độ xuân sang

Ta về cho kịp độ xuân sang


Image result for tranh nguyễn trung

Mười hai năm trước, nhà văn Doãn Quốc Sỹ gửi cho nhật báo Người Việt tấm thiệp viết: “Nhân dịp đầu Xuân Ất Dậu, xin gửi tới quý văn hữu cùng quý quyến lời chúc thân tâm an lạc, vạn sự cát tường! Thân quý.” Cùng với lời chúc Tết, Doãn Quốc Sỹ còn kể ông mới “du ngoạn công viên Grand Canyon bên tiểu bang Arizona. Xe dừng trên chiều cao xa lộ, nhìn xuống toàn cảnh Grand Canyon, rồi nhìn xuống ngọn nguồn con sông Colorado nhất định xuyên thẳng hai bên vách núi chứ không chịu chảy quanh vòng vo - thật tuyệt vời.”
Doãn Quốc Sỹ, tác giả “Chiếc chiếu hoa cạp điều” được giáo dục theo truyền thống dân tộc, cho nên nhìn dòng sông Colorado dưới thung lũng Grand Canyon ông lại thấy đó như một biểu tượng cho thái độ chính trực, không sợ hãi, không khuất phục, không luồn cúi và không sa ngã. Trong truyện ngắn Chiếc chiếu hoa cạp điều ông kể chuyện một phụ nữ Việt Nam suốt đời ân hận chỉ vì đã có lúc làm một việc trái đạo đức, dù một việc rất nhỏ, bà phạm lỗi vì chỉ lo cho gia đình nheo nhóc trong lúc đang “chạy loạn.” Chính Doãn Quốc Sỹ đã thể hiện lối sống đại trượng phu trong cuộc đời mình, cho con cháu chúng ta, ở trong nước Việt Nam và ở bên ngoài. Một ngày nào đó, có những bà mẹ Việt Nam sẽ kể cho con nhỏ nghe: Ngày xưa có ông Doãn Quốc Sỹ, sinh vào thời loạn lạc nhiễu nhương ..., ông kể chuyện “Con Mèo Mà Chèo Cây Cau” như thế này …

Dân Việt mình vẫn thờ cúng tổ tiên, mỗi dịp Tết lại là dịp kể chuyện ông bà cho con cháu nghe. Chúng ta thường hãnh diện về lịch sử tổ tiên chung của giống nòi. Những Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Ông, bà Bùi Hữu Nghĩa, đều để lại những tấm gương cho người Việt ngày nay hãnh diện. Nhân lúc đón Xuân Đinh Dậu, nhớ lại tấm thiệp Xuân của nhà …,” chúng ta có thể hãnh diện về nhân cách của một nhà văn, bị tù đầy chỉ vì sống cương trực, giữ tiết tháo “uy vũ bất năng khuất” của một đại trượng phu, trong những năm dài ngồi tù cải tạo mà thân tâm ông vẫn thản nhiên an lạc.
Chúng ta có thể hãnh diện về tổ tiên người Việt. Một dân tộc còn giữ được nền độc lập sau một ngàn năm bị người Hán đô hộ, dân tộc đó rất đáng hãnh diện. Nhìn lại bao sắc dân khác ở phía bắc biên giới Hoa-Việt đã hoàn toàn biến mất, nay họ tự nhận là người Hán. Nền văn minh “Hoa Hạ” có sức đồng hóa mạnh hơn cả văn minh Hy Lạp, La Mã. Kể từ đời Tần Thủy Hoàng (2 thế kỷ trước công nguyên) đến nay, đế quốc Trung Hoa đã bành trướng lớn lên gấp bốn lần. Nhưng chúng ta không chỉ hãnh diện về những Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Bình Trọng, hay các danh nhân trong lịch sử, mà còn có thể hãnh diện về chính ông bà, cha mẹ, những người sống cùng thời với mình, những người cùng làng, cùng xóm đáng nêu gương. Khi nào người Việt Nam còn biết hãnh diện về tổ tiên mình, về đồng bào mình, thì nước Việt Nam không sợ mất.
Có những người Việt hay sợ nước lớn quá, nói đến Trung Quốc là sợ, vì nước họ mạnh gấp trăm lần nước mình. Nhưng trong lịch sử đã có nhiều “Ông Trạng” làm cho vua quan  nước Tầu phải phải kính phục; những“Ông Trạng” có thật như Mạc Đĩnh Chi, có nhân vật tưởng tượng như Trạng Quỳnh. Doãn Quốc Sỹ có kể một chuyện Trạng Quỳnh Đi Sứ.
Một người từng công khai tuyên bố hãnh diện làm dân Việt Nam là Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) thời vua Quang Trung (Cũng đọc là Ngô Thời Nhiệm). Trong một chuyến đi sứ, đi qua tỉnh Quảng Tây, Ngô Thì Nhậm viết bài thơ “Hoãn Nhĩ Ngâm” (Mỉm cười mà ngâm thơ) để chế nhạo những thành kiến sai lầm trong sách sử của người Trung Hoa. Nhưng lời phê bình nặng nề nhất ông dành cho thói phân biệt, khoe dân Trung Hoa (gọi là Hoa Hạ) mới có văn minh, còn các sắc dân khác đều mọi rợ, man di. Ông viết: “Di, Hạ, âm dương phân – Thử ngôn thái thiển lậu!” Nghĩa là: Phân biệt Hoa Hạ khác Man Di như Dương khác với Âm; Nói như thế là quá nông cạn!
Để thuyết phục người Trung Hoa về trình độ văn minh của dân phương Nam, Ngô Thì Nhậm viện dẫn Chu Hy đời Tống, một triết gia có uy tín trong lịch sử và văn hóa Trung Quốc. Chu Hy đã nhận xét, “Thịnh xưng tây nam phiên – Văn tự đa cao thủ - Tất hữu khai kỳ tiên – Bất độc quốc trung hữu.” (Đáng khen các dân tộc miền Tây Nam – Có nhiều người giỏi chữ nghĩa - Tất nhiên họ đã khai hóa từ lâu – Đâu phải chỉ Trung Quốc mới có tiến bộ). Sau khi dẫn những lời của Chu Hy, ngay câu sau, Ngô Thì Nhậm viết: Khi về nước, ta sẽ bảo với bạn hữu rằng: “May mắn thay, chúng ta sinh ở Nước Nam!” (Hạnh tai sinh Nam bang!)
Bây giờ có bao nhiêu người Việt đang nghĩ như Ngô Thì Nhậm?  Nếu ai không nghĩ làm dân Việt là may mắn, thì ít nhất người đó cũng phải ước mong con cháu sau này sẽ có lúc cảm thấy được làm dân Việt là may mắn.
Chúng ta phải coi đây là một bổn phận. Bổn phận trả lại cho con cháu niềm hãnh diện mà tổ tiên đã vẫn nói với nhau: Hạnh tai, sinh Nam bang! Đêm giao thừa năm nay, sẽ khấn khứa ông bà, xin nguyện sẽ cố gắng giúp các thế hệ sắp tới có thể cao hứng thốt lên như Ngô Thì Nhậm: May mắn thay, sinh làm người Việt Nam!
Chúng ta đón mùa Xuân về với niềm tin tưởng là ngày đó không xa. Phục hồi một nếp sống thuần hậu, ngay thẳng, chánh trực; sống lại các giá trị đạo lý của Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu; Phan Châu Trinh; chúng ta sẽ trở về, trong ngôi nhà cũ của tổ tiên đứng trước bàn thờ mà lòng không hổ thẹn. Ngày về sắp đến rồi. Cái gì tới chỗ cùng cực, sẽ phải thay đổi. Cả nước đang rạo rực chờ biến chuyển. Cả dân tộc đang trở về nhà, lòng náo nức như một thi sĩ đi tù sắp được về sau “Mười năm mặt sạm soi khe nước – Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.” Trong lòng thi sĩ vẫn tràn ngập niềm vui:
Tiếng biển lời rừng nao nức giục
Ta về cho kịp độ xuân sang
(Ta Về, Tô Thùy Yên)



Ngô Nhân Dụng

(từ: DĐTK)




*



Mời nghe: "Nguyên Đán. Em và Tôi" của Trần Yên Hòa
Qua giọng ngâm: Đoàn Thị Phú Yên

Xin click vào:

Nguyên Đán. Em và Tôi

(nếu không có âm thanh xin mở loa)



*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content










Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, August 8, 202011:05 AM(View: 233)
Khoảng 2 giờ chiều, vị sĩ quan coi chúng tôi 2 tuần nay, đến phòng và nói lớn: - Các anh chuẩn bị, tất cả gọn gàng quân trang quân dụng, 30 phút sau các anh ra sân tập họp và di chuyển lên phi trường Đà Nẵng, để vào Sài Gòn, đến nhập trại Nguyễn Tri Phương. Các anh sẽ thụ huấn quân sự 9 tuần, giai đoạn tân binh. Các anh nhớ 30 phút nữa, tôi sẽ trở lại và đưa các anh đi. Tất cả bọn chúng tôi đều hô to, tuân lệnh, rồi ai cũng nhảy xuống giường, lo sắp xếp mền, mùng, quân trang quân dụng. Tôi bỏ tất cả tư trang cá nhân vào cái xách marin, rồi ngồi tại giường của mình, đợi viên sĩ quan tới đưa đi. Thời gian đi qua thật chậm, tôi bèn kệ nệ xách cái xách morin, tới ngồi bên giường của Trần Thanh Ng. Trong lúc Ng. cũng vừa thu xếp đồ đạc xong. Tôi nói: - Vào Quang Trung, tôi với bạn nằm gần giường nghe. Ng: - Không biết vào trong đó họ có sắp cho mình nằm gần không? Sợ họ phân chia theo vần A, B, C quá. Tôi nói: - Nếu mình không nằm gần, thì cùng trung đội, hay cùng phòng cũng được.
Monday, August 3, 20205:04 PM(View: 244)
Tôi mang cái túi xách trên vai, nhẹ hèo. Bước khỏi chiếc xe vespa của anh Tôn. Chiếc xe kềnh càng, to đùng, nhưng chạy máy êm re. Anh Tôn làm việc ở nhà máy điện Quảng Ngãi, nay mới đổi về làm tại Đà Nẵng được khoảng một năm. Anh có nhà cửa đàng hoàng, vợ con bảy, tám đứa, nhưng anh sống rất bạt mạng, nhậu nhẹt lu bù. Tuy vậy, anh là người làm ra tiền, quảng đại, hào sảng. Tôi nói với anh Tôn: - Thôi em đi nghe anh Tôn. Cảm ơn anh đã giúp em, hồi hôm nhậu với anh một bữa đáng đời. Vui quá. Anh Tôn nói nhỏ bên tai tôi: - Thôi em đi vào đi. Khi nào được phép ra chơi, nhớ ghé nhà anh, đừng ngại gì hết, nhé. Em nhớ địa chỉ, đi xe ôm có mấy chục bạc. Tôi dạ nhỏ rồi bước vào chỗ bên phải cánh cổng của Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, có chòi canh với người lính gác đứng bên trong. Tôi lục túi lấy cái Thẻ Căn Cước và cái Sự Vụ Lệnh, cầm tay. Rồi đến gần nói với người lính gác: - Thưa anh, tôi có Sự Vụ Lệnh vào trình diện ở đây. Xin anh cho vào. Người lính gác đưa tay cầm lấy 2 tờ
Thursday, July 30, 20203:33 PM(View: 359)
Nói đến lính là nói đến sự cơ cực, nhọc nhằn, luôn luôn chạm mặt với cái chết, hoặc đỡ hơn thì bị thương, bỏ một phần thân xác nơi chiến trường...như bản nhạc "Ngày trở về" của Phạm Duy: "Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre nắng vàng hoe..." và "Ngày trở về, có anh thương binh chống nạng cày bừa...". Lứa tuổi của chúng tôi trong khoảng thời gian thập niên 60, 70...thì miền nam không còn bình yên nữa, mà đúng là thời đại chiến tranh, nhất là dịp sau Tết Mậu Thân, 1968. Tôi nhớ, khoảng tháng 5/68, tôi đã nộp đơn thi vào cả 2 nơi: Trường Võ Bị Quốc Gia, khóa 25. Và trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Khóa 2. Tất cả 2 trường đều tổ chức thi (hình như) tại trường Kỹ Thuật, Đà Nẵng. Đà Nẵng, nơi tôi đến chỉ có 2 lần. Lần thi tú tài 1 và lần thi tú tài 2. Tôi không có bà con thân thiết ở Đà Nẵng. Hai lần thi tú tài 1 và 2, tôi đi (ăn) theo một người bạn học cùng lớp. Bạn tôi dẫn tôi ra cùng ở trọ nhà một người bà con của bạn ấy, ở đâu khoảng khu đường rầy
Saturday, July 25, 20207:28 AM(View: 433)
Đó cũng là những ngày Tết Mậu Thân, 1968. Tết Mậu Thân, tôi vê Tam Kỳ ăn Tết với cha mẹ. Lúc này cha mẹ tôi đã tản cư từ Quán Rường xuống Tam Kỳ. Cha mẹ xin dượng Liệu, một người bà con xa với mẹ tôi, một khoảnh đất nhỏ sau vườn nhà dượng, cùng cậu Tiến (em trai mẹ) làm cái nhà tranh nhỏ để có chỗ tạm trú cho gia đình. Cái nhà nhỏ làm chung, nhưng chia làm hai, bằng tấm vách là tấm cót tre. Cậu Tiến tôi lúc này đang làm xã trưởng xã Kỳ Mỹ, nên buổi sáng cậu về quê làm việc, buổi tối, cậu và các con trai cậu về đây ngủ. Tết Mậu Thân, tôi về ở đây, và trong đêm mùng một, nghe đạn bắn tứ tung, từ tiểu khu Quảng Tín, từ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6 BB, không biết địch tấn công ở đâu, mà từ nhà cha mẹ tôi, đạn bắn gần như sát sạt. Mẹ tôi hoảng quá, ra ngoài chạy lung tung, khiến tôi sợ quá, phải ra dẫn mẹ tôi vô nhà. Lúc đó tôi thấy chiến tranh thật quá gần kề. Cũng nửa tháng sau, tôi vào lại Quảng Ngãi định để thăm trường cũ. Tôi chưa vào Mộ Đức, vì tình hình trong đó nghe nói còn
Wednesday, July 22, 20206:35 AM(View: 508)
Không biết chữ "lính lác" có từ bao giờ? Có lẽ sau ngày 30 tháng tư bảy lăm. Thời gian đi qua lâu quá, tôi cũng không còn nhớ nổi. Chữ "lính lác" - lính là người gia nhập trong quân đội, lính bắc việt gọi là bộ đội. "Lác" theo tiếng bắc là bệnh hắc lào, theo tiếng miền nam, miền trung, là bị bịnh ngứa nổi lên như đồng tiền. Từ này dùng chỉ những anh lính lội rừng, lội núi, qua truông, qua khe, tháng này qua tháng khác, có lúc không có nước tắm rửa nên bị bịnh "lác". Từ này cũng nói lên với tính cách vui cười là, lính nghèo, lính cực khổ trăm bề, nên lính bị "lác". Tôi dùng từ này với tính cách vui cười, không chê bai hay làm xấu người lính. Chuyện lính thì trăm hình vạn trạng (lính miền nam hay bộ đội miền bắc...). Ý của tôi trong hồi ức này là muốn nói đến lính miền Nam, nơi tôi đã tham gia ở đó hơn bảy năm, từ ngày trình diện nhập ngũ (23-10-1968) đến ngày miền nam tan hàng, quân đội cũng tan theo (30-4-1975). Tôi đi lính ngày 23 tháng 10 năm 1968. Một buổi chiều từ Tam Kỳ chạy