DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,531,854

Ngô Nhân Dụng - Nhiều điều không biết về Vua Quang Trung

Saturday, February 4, 20179:06 PM(View: 4992)
Ngô Nhân Dụng - Nhiều điều không biết về Vua Quang Trung

Nhiều điều không biết về Vua Quang Trung


blank

Nhân Tết Đinh Dậu lại nhớ chiến thắng của Vua Quang Trung, cách đây 228 năm, vào Tết Đinh Dậu. Nhiều bản tin báo chí trong nước tường thuật lễ kỷ niệm “chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa 1789 viết rằng “… đồn trại giặc ở Khương Thượng bị phá hủy khiến tên Thái thú Điền Châu Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử …” Gò Đống Đa nằm ở Khương Thượng, phía Tây Nam thành Thăng Long.
Trong lời tường thuật trên có chi tiết không đúng, là “Thái thú Điền Châu Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử.” Nhưng không thể trách tác giả viết câu trên, vì hầu hết các sách lịch sử ở miền Nam cũng như miền Bắc, đều kể rằng Sầm Nghi Đống tự ải. Những người không theo dõi các cuộc nghiên cứu lịch sử mới đều lập lại như vậy.
Thực ra, Sầm Nghi Đống không giữ chức “thái thú” của Điền Châu, vì quan chế đời nhà Thanh không phong chức đó. Ông ta chỉ giữ chức “tri châu,” tức là đứng đầu một vùng sắc tộc thiểu số, ở Điền Châu, bên Tàu. Và ông ta đã chết trận, chứ không tự ải. Chúng ta biết được điều này, cũng như nhiều điều mới về Vua Quang Trung, nhờ các công trình nghiên cứu của học giả Nguyễn Duy Chính; năm ngoái ông mới xuất bản 4, 5 cuốn sách về lịch sử Việt Nam thời Tây Sơn. Theo Nguyễn Duy Chính, dẫn từ Cao Tông Thực Lục, một tài liệu của cung đình nhà Thanh, thì “… truy cứu những người sang đánh An Nam (sic) chết trận có thổ tri châu Điền Châu là Sầm Nghi Đống, …” (và kể thêm tên những người khác). Tài liệu này ghi chép về thời Cao Tông, tức Vua Càn Long là người sai quân sang đánh nước ta, nằm trong bộ Thanh Thực Lục, in năm 1986 tại Bắc Kinh.


Nguyễn Duy Chính đã tìm tòi rất nhiều tài liệu để soạn các bộ sách mới về thời Tây Sơn, đặc biệt về Vua Quang Trung. Ông đã dùng các bộ sử nhà Thanh, các bản báo cáo của quan lại gửi về và những thư trả lời, những mệnh lệnh của Vua Càn Long, những văn kiện rao đổi giữa triều đình nhà Thanh và Việt Nam, để viết những cuốn Việt Thanh Chiến Dịch, Việt Thanh Nghị Hòa, Giả Vương Nhập Cận, vân vân. Giới sử học trong và ngoài nước đều công nhận đây là những công trình đóng góp lớn lao vào sử học nước ta. Tuy tốt nghiệp tiến sĩ về quản trị kinh doanh và tin học ứng dụng, và làm việc chuyên môn trong các nghề này ở California, nhưng trong vài chục năm qua Nguyễn Duy Chính đã bỏ công đi tìm tài liệu ở Bắc Kinh, Đài Bắc, Việt Nam, các thư viện ở Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Nam Hàn, vân vân, cung cấp cho độc giả người Việt những hiểu biết mới về một đoạn lịch sử oanh liệt, bi hùng, trong một thời kỳ nhiễu nhương nhất của dân tộc.
Câu chuyện Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử trên đây chỉ là một thí dụ về những điều chúng ta vẫn biết lầm về thời Vua Quang Trung. Thực ra, có hàng trăm điều quan trọng vẫn bị hiểu lầm về người anh hùng độc đáo này. Hãy nêu mấy câu hỏi làm thí dụ: Vua Quang Trung có sang Trung Quốc diện kiến vua Càn Long hay không? Vua Quang Trung có xin cưới công chúa nhà Thanh hay không? Ngài có ý đòi nhà Thanh trả lại đất Quảng Đông hay Quảng Tây cho Việt Nam hay không?
Trong cuốn Giả Vương Nhập Cận, Nguyễn Duy Chính đã chứng minh rằng Quang Trung đã đích thân sang dự lễ mừng thọ của Càn Long, mà việc này chính là một hành động ngoại giao giúp cho bang giao giữa hai nước được hòa bình sau khi Quang Trung đánh đuổi quân Thanh.
Chúng ta cũng biết thêm rằng vào năm 1792 Vua Quang Trung đã cho người đề nghị Phúc Khang An, tổng đốc Lưỡng Quảng, làm môi giới xin hỏi cưới con gái vua nước Tàu, và đòi lại bẩy châu thuộc vùng Hưng Hóa của nước ta cũ, đã bị nhà Minh chiếm từ đầu thế kỷ 15. Nhưng có lẽ Phúc Khang An không bao giờ có dịp trình các vấn đề này cho vua Càn Long, vì khi về đến Bắc Kinh ông ta được phái đi ngay sang Tây Tạng, suốt hai năm, khi ông trở về thì Quang Trung đã qua đời. Hơn nữa, Nguyễn Duy Chính đã truy cứu “sổ gia đình” của Càn Long, và thấy rằng ông này có 17 con trai và 10 con gái, nhưng cô con gái út cũng đã lấy chồng từ năm Kỷ Dậu, 1789, năm chiến thắng Đống Đa! Tuy nhiên, nhờ có chuyện cầu hôn không thành này cho nên đời sau được đọc những bức thư trao đổi giữa Phúc Khang An và Ngô Thời Nhiệm. Khi họ Phúc nêu lên một khó khăn là nhà Thanh không bao giờ gả các công chúa cho người ngoại tộc, họ Ngô đã đáp lại rằng điều luật này chỉ áp dụng đối với người Hán, còn người Mông Cổ vẫn cưới con gái hoàng tộc nhà Thanh, do đó, người Việt cũng phải được đối xử ngang hàng với Mông Cổ!
Ba câu hỏi trên đây chỉ là những thắc mắc đã gây tranh luận nhiều trong giới sử học trong hàng thế kỷ qua. Ngoài ra, còn rất nhiều chuyện người ta không thắc mắc, do đó cũng không bàn luận, nhưng biết không đích xác và sai lầm, nay được phủ chính. Chẳng hạn, sách giáo khoa môn Sử thường viết rằng sau khi nghe tin quân Thanh xâm lược Vua Quang Trung mới lên ngôi hoàng đế, mục đích lấy chính danh kháng địch. Nhưng trong Việt Thanh Chiến Dịch Nguyễn Duy Chính đã kể rằng nhà vua làm lễ lên ngôi trước khi quân Thanh sang đánh, do nhiều bằng chứng. Từ Tháng Tám năm Mậu Thân, Quang Trung đã phong cho con lên tước Vương, có nghĩa rằng nhà vua đã tự coi mình là một hoàng đế. Nhật ký của các giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo chép rằng nhà vua lên ngôi ngày 8 tháng 11 năm 1788, họ còn dịch bản hịch văn của Quang Trung sang tiếng Pháp. Tôn Sĩ Nghị chỉ tiến quân vào nước ta ngày 25 tháng 11 năm đó.
Nguyễn Duy Chính còn cung cấp nhiều điều chưa hề được kể trong sử sách. Ông mô tả chiến thuật dùng voi trận để áp đảo đám quân Thanh chỉ gồm lính bộ và cưỡi ngựa. Kỹ thuật công đồn của quân Tây Sơn được mô tả với nhiều chi tiết, như dùng ván gỗ có bánh xe nhồi rơm che chở binh sĩ tiến đến chân đồn địch, rồi dùng ván làm cầu vượt qua hào nước hay hào chông. Sau đó rơm lại được dùng làm vật dẫn hỏa để đốt các cơ sở, nhà cửa, kho lẫm của quân địch. Nguyễn Duy Chính còn cho biết kỹ thuật công đồn này rất thông dụng ở miền Đông Nam Á, xuất phát từ miền Nam Á. Ông cũng trả lời những thắc mắc như: Tại sao trong số các vị chỉ huy của quân Tây Sơn lại nhiều người là đô đốc, với tên gọi nhưng không nói họ là gì? Tôn Sĩ Nghị có mải mê tiệc tùng rượu thịt ăn Tết nên bị đánh bất ngờ hay không? (Không!) Tại sao Tôn Sĩ Nghị thất trận mà không bị xử tội nặng? (Vì Càn Long cũng có lỗi!)
Với các tài liệu mới, Việt Thanh Chiến Dịch còn cho biết vua quan nhà Thanh đã tính bảo trợ cho Lê Chiêu Thống về nước rồi sẽ công nhận cả nhà Tây Sơn, phân chia nước ta làm đôi như thời Trịnh Nguyễn cũ. Đó cũng là một lý do khiến quân Thanh không đuổi đánh khi quân của Ngô Văn Sở rút lui. Ngược lại, Càn Long còn ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị lui quân sau khi đưa được vua Chiêu Thống về đến “Lê thành,” tức Hà Nội bây giờ. Điều này giải thích tại sao Tôn Sĩ Nghị chạy về Tàu vẫn tự biện hộ rằng mình đã làm đúng ý cấp trên, về sau vẫn được trọng dụng.
Nguyễn Duy Chính trích dẫn nhiều lời khai của các quân nhà Thanh trở về xứ sau khi được trả tù binh, theo tài liệu Quân Cơ Xứ, còn tàng trữ trong Cố Cung Bác Vật Viện ở Đài Bắc. Một tù binh được thả kể khi chạy qua sông Nhị Hà, đến cầu phao thì cầu đã bị Tôn Sĩ Nghị sai phá vì sợ quân ta truy đuổi, “Cầu đã bị đứt chìm xuống nước, lại thêm số người ngựa bị trận voi đốt cháy chết chồng lên nhau đè cây cầu xuống sâu hơn. Người chạy qua đạp chân trên xác những người nằm dưới nước, chỉ có đầu nổi lên, phải đến ba dậm mới qua tới bờ bên kia; quần áo giầy dép ướt sũng, bỏ hết cả ngựa, cả yên cương trên cầu.”
Đọc biểu chương của các quan Tàu, mới biết Tôn Sĩ Nghị khoe rằng đã quyết lên ngựa tử chiến với quân ta, nhưng bị Hứa Thế Hanh ngăn cản, lấy lý do nếu Nghị chết thì “quan hệ đến quốc thể!” Sau khi bị các tướng níu cương ngựa không cho đi mấy lần, Tôn Sĩ Nghị mới nghĩ rằng Hứa Thế Hanh nói có lý. Nghị bèn bỏ trốn, Hứa Thế Hanh ở lại, chết trận.
Mỗi năm vào dịp Tết người Việt Nam vẫn kỷ niệm chiến thắng năm Kỷ Dậu của vua Quang Trung. Nhưng phải nói rằng nếu chỉ học lịch sử ở trường trung học thì chúng ta biết rất ít về vị anh hùng kiệt xuất này. Những công trình nghiên cứu của Nguyễn Duy Chính cung cấp rất nhiều điều mới. Thí dụ, một tài liệu của Hội Truyền Giáo Bắc Hà kể rằng trong trận Ngọc Hồi, Quang Trung cưỡi voi xung trận, quân sĩ thấy chủ tướng còn trên voi thì yên tâm. Nhưng khi nhìn thấy binh sĩ không đủ hăng hái, nhà vua bèn bỏ voi mà cưỡi ngựa để xung phong cùng tướng sĩ của mình. Ông dùng hai đoản đao, chạy ngang chạy dọc, chém rơi đầu nhiều sĩ quan và binh lính bên địch. Một thí dụ khác, khi quân Thanh kéo sang nước ta, họ còn đúc một thứ tiền tệ riêng, đồng tiền mang niên hiệu Càn Long, nhưng mặt kia viết hai chữ An Nam. Quân Thanh đi tới đâu lại mua hàng hóa, thực phẩm và bắt dân Việt phải nhận đồng tiền “giải phóng” này! Ăn cướp bằng thủ thuật “đổi tiền” đã được quân xâm lược sử dụng từ hai thế kỷ trước khi được áp dụng lại ở miền Nam sau năm 1975!
Càng biết thêm về lịch sử dân tộc, người Việt càng ý thức kẻ xâm lăng từ đâu tới, với những âm mưu quỷ quyệt của họ như thế nào. Nhớ ơn Vua Quang Trung, người Việt càng vững tin vào ý chí độc lập bất khuất của dân tộc!


Ngô Nhân Dụng
(từ: DĐTK)




*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 

 



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, July 30, 202112:23 PM(View: 43)
Phật dạy rằng có vô số lượng kiếp, và tôi đang sống đây là kiếp người, lẽ ra cũng đáng mừng, nhưng lại là người dưới thời “chưa bao giờ tốt đẹp như bây giờ”, nghe ra thật mỉa mai nếu không muốn nói là rất đắng cay. Sau 1975, các xe xích lô ở Nha Trang phải vào hợp tác xã, có ghi biển viết tắt XLNT. Hỏi bác xích lô nghĩa là gì, bác tỉnh bơ: Xin Làm Ngựa Trâu! Ôi chao, người miền Nam và tiếng Việt Nam! Hay thấm thía! Thì đúng là gần nửa thế kỷ rồi làm kiếp ngựa trâu, giờ sắp vào lò luyện ngục, quỷ sẽ dắt đưa đi đầu thai. Chẳng biết sẽ thành chó, mèo, heo, gà hay giun dế… Thành kiếp gì cũng không bằng kiếp người. Ngẫm ra, cái hay của kiếp người là giàu nghèo sang hèn đều có quyền ước mơ. Có anh mơ làm tổng thống, có chị mơ làm hoa hậu, mơ tột đỉnh dù chẳng bao giờ thành sự thực. Nhưng vẫn cứ mơ, vì chẳng có điều 5, điều 7 nào trong hiến pháp cấm kỵ công dân cho dù hạng bét được quyền ước mơ cả. Vậy thì, tôi cũng có quyền mơ viển vông như thế này: mơ làm Chử Đồng Tử, một
Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 244)
Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi : - Xếp có dính dáng đến Duy Dân không? Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói : - Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái. - Xếp là nhà báo. - Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân. Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi
Wednesday, July 21, 20214:14 PM(View: 155)
Nghe tôi nói đến "Hiếu nhà băng", thiếu tướng Thạc nhướng lông mày, ngạc nhiên: – "Hiếu nhà băng" ở Zurich? Ông quen hắn à? Tôi gật: – Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy à? – Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy chúng tôi đặt cho hắn biệt danh "Hiếu tồ". – Trái đất tròn thật. Hoá ra hai ông quen nhau – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng thôi. Mãi đến năm ngoái gặp lại ở Genève mới có dịp tâm sự. – Ông thấy hắn ta thế nào? – Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút. – Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm ấy. Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, một chút ghen tị, hoặc cả hai. – Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái là làng nhàng, không có gì nổi bật. Trước khi về hưu ông ấy làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc
Thursday, July 15, 202110:51 AM(View: 150)
rong tháng Tám vừa qua, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời tại Quận Cam, Nam California, khi ông từ Pháp sang đây để lo việc ấn hành sách cho nhà xuất bản của ông. Ông là một người của sách vở, tuy không phải là một người sáng tác hay biên khảo nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời thật là nhiều. Từ bốn mươi năm qua, ông chính là người phát hiện ra những giá trị của sáng tác và biên khảo của biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa chúng đến với người đọc với một tấm lòng trân trọng và trìu mến. Chính công việc và cung cách xuất bản sách của ông đã cho thấy ông là một người nghệ sĩ thứ thiệt, một nhà văn hóa nhiệt tình với đất nước. Có thể nói Thanh Tuệ là sách, sách là Thanh Tuệ, và chữ sách ở đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất, thanh tao nhất mà từ xưa đến nay nhân loại đã dành cho thứ sản phẩm văn hóa này. Một người thích sách vở sống vào giữa thập niên 1960 tại Sài Gòn thì không thể không để ý đến một
Wednesday, July 7, 202112:00 PM(View: 230)
Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973. Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để