DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,446,703

EM TRAI TÔI - Nguyễn Đình Từ Lam

Saturday, March 25, 201710:54 PM(View: 7006)
EM TRAI TÔI - Nguyễn Đình Từ Lam
EM TRAI TÔI
                                         
 
Image result for tranh em trai
 
     Ra khu vườn Đợi, tìm đến mộ em trai dưới chân Rừng Dương-Vạt Núi, thắp cho em nén nhang.  Trãi qua bao năm dâu biển, vật đổi sao dời, tôi mới có dịp trở về thăm quê kiểng. Cha mẹ nay đã qua đời.  Chị em mỗi người mỗi nơi, mỗi cảnh. Đứa em trai chết đã lâu, chết oan ức, chết chẳng tìm thấy thân xác. Đứng trước mộ em,  bầu trời vẫn mênh mang, đất vườn ngày trước vẫn còn đây, cảnh cũ còn đây... Khiến tôi chạnh lòng nhớ về những vui buồn, trăn trở của đời em cùng gia đình trong chuổi tháng năm xa xưa ấy.
                                                 I
EM TRAI VÀ GIA ĐÌNH
Vài lưu niệm thuở nhỏ

      Lúc em trai còn sống, cha mẹ có sáu người con, bốn gái và hai trai.  Tôi và em trai mẹ sinh cách nhau một người, người con gái thứ năm đã mất rất sớm.  Tôi là đứa con thứ tư, em thứ sáu.  Vóc dáng tôi cao lòng khòng, lúc mới sinh mắt tôi một con nhắm một con mở.  Lớn lên mỗi lần nhìn ngó tôi phải ráng sức mở muốn rách mí mắt mới thấy đường. Trẻ con, kể cả người lớn trong cùng làng xóm thường trêu chọc tôi bằng cái tên họ đặt cho, còn quen thuộc hơn tên cha mẹ đặt để.  Họ réo gọi "thằng Cò Nhướng", cái tên "Cò Nhướng" làm tôi khóc gần cạn nước mắt.  Trái lại em trai tôi người cao ráo, mắt to, mũi thẳng, em chỉ có một cái khuyết  nho nhỏ là lưng hơi hơi khòm.  Về tính tình, trí lanh khôn em cũng trội phần.  Nhớ lại lúc em mới lên sáu tuổi, có lần đứa em gái thứ bảy nghịch ngợm phá phách, bị mẹ bắt nằm sấp lên ván để đánh phạt.  Thấy tội nghiệp, em vừa khóc vừa xin mẹ tha, đừng đánh bằng cách đọc lên mấy câu vè lục bát ở đâu đó mà em thuộc nằm lòng:
     - "Mẹ ơi! đừng đánh em đau,
          Để em bắt ốc hái rau mẹ nhờ.
          Mẹ ơi! đừng đánh em khờ,
          Để em ra bụi em rờ mụt măng."
       Về năng khiếu văn nghệ, em đã phát huy rất sớm, lúc mười hai tuổi  từng làm "đạo diễn" tập cho một số bạn bè cùng trang lứa trong thôn, diễn vở kịch thơ do em sáng tác.  Vở kịch đã  dự thi trong mấy đêm văn nghệ thiếu nhi của quận và được lãnh giải thưởng.
      Gần cuối năm 1954, ở quê tôi cảnh thanh bình mới vừa lập lại.  Lúc nầy chị em chúng tôi đều còn nhỏ nhít, gia đình thật đầm ấm, trên thuận dưới hòa, cha mẹ hết mực thương yêu và cưng chiều con cái. Ngày ấy chúng tôi đã có với nhau những kỷ niệm khó quên.

     1-  Tắm mưa


      Nhằm vào những ngày hè, trời thường đổ mưa giông buổi xế chiều, những cơn mưa mà con nít vùng quê thích ơi là thích.  Bọn tôi cởi sạch áo quần, ở trần ở truồng dông dổng như nhộng, chỉ trừ chị Hai sợ dị, mắc cở nên mặc quần đùi; chị em ai nấy đồng loạt chạy xỗng ra sân tắm mưa, đùa giỡn, ví chạy đuổi bắt, la ré cười vang thỏa thích.  Thỉnh thoảng trên trời sấm chớp nổi lên, xẹt lữa nỗ đùng đùng.  Tất cả  xúm nhau ôm chầm một đám, miệng vẫn cười cười, nói nói chẳng sợ bị trời đánh nhầm.  Thường khi mưa giông mỗi lúc một  nặng hột, trút dồn xối xả.  Những đàn mối cánh bắt đầu rời ổ ở bậc vườn sau nhà trên, hay nơi mấy vạt quế quanh nhà, chúng bay dày đặc tán loạn khắp nơi.  Bọn tôi thi nhau bắt mối, chỉ cần đưa hai bàn tay sè ra, quơ qua là mối tấp vào tay, cứ nắm lại là bắt gọn.  Mỗi lần được đâu chừng chục con, đem bỏ vào thẩu sành. Đàn mối càng lúc bay ra càng nhiều. Em trai tôi nhanh trí, chạy vào nhà dưới bưng cái nồi ba bằng đồng ra vườn, úp lên miệng hang mối.  Chẳng bao lâu em lật ngữa nồi lên, hốt mỗi lần được chừng một chén mối.  Hai đứa em nhỏ sau chỉ cần khom người lượm mối rụng cánh rớt xuống, bò đầy sân.  Khi trời sắp tạnh mưa, chị em thôi tắm, chạy vào nhà mặc vội quần áo sạch sẽ hanh khô.  Ối dà!  Lúc nầy, người ai nấy mát mẻ khoan khoái đáo để.  Bốn đứa em đem thẩu mối ra bứt sạch cánh.  Tôi vào bếp gạt một mẻ than đỏ, lấy bánh tráng mè ra nướng.  Chị Hai bắt chảo gang lên bếp, bỏ mối vô rang, đến khi mối chín vàng chảy tươm mở thơm lừng,  chị mới đổ mối vào cái thau bằng nhôm.  Sáu chị em xúm nhau bẻ bánh tráng nướng xúc mối rang ăn dòn tan ngon lành, vừa ăn vừa đua nhau nói cười, đùa giỡn nghiêng ngã.
      Từ ngày vắng bóng em, mỗi mùa hè đến trời lại thường đổ cơn giông vào buổi chiều. Những khi trời mưa, lúc nầy, thì tôi và chị Hai đã là người lớn, chị đi làm y tá, tôi nhập ngũ đi lính; chỉ còn ở nhà ba đứa em nhỏ lại sau. Chúng  chẳng thiết tha ra sân tắm mưa, chỉ biết ngồi ở ngạch cửa nhà trên, đứa hai tay bó gối, đứa chống tay lên cằm, đứa ôm đầu vò tóc, nhìn cơn mưa giông xối xả, mà nước mắt nhỏ giọt, chúng nhớ thương anh Sáu Tri quá chừng.  Từng đàn mối bay đầy trời, lắm con rụng cánh rớt bò dày sân, đầy hiên nhà, chẳng đứa nào màng ra bắt đem rang ăn như thuở sáu chị em tôi còn sống với nhau đủ đầy. 

      2 - Bới dế, cất nhứ vịnh Đá Giăng

     Lúc tôi đâu chừng mười một, mười hai tuổi, được cha mẹ gởi ra Đà Nẵng đi học.  Khi có dịp nghỉ từ hai ngày trở lên, tôi liền đón xe đò về nhà.  Cứ mỗi lần nghe tiếng xe ngừng trước ngõ, em trai tôi liền chạy vụt ra, thấy tôi vừa bước xuống xe, em chẳng nói chẳng rằng, vội đến giằng lấy cặp sách vở trên tay tôi mang choàng lên vai mình.  Lúc ấy em còn nhỏ nhít, tánh  hay mắc cở, dù là anh mình lâu ngày đi xa  về; mới gặp nhau, em một mực làm thinh, chẳng dám hỏi thăm tiếng nào, nhưng gương mặt thì rạng rỡ, miệng cười cười mỉm chi.  Em nhường tôi bước trước lên ngõ, em lẽo đẽo theo sau cùng vô nhà.  Những ngày tôi nghỉ học, sống gần gũi gia đình cha mẹ; em bày ra việc làm nầy, trò chơi nọ để anh em cùng làm cùng vui đùa.  Một lần, lúc cả nhà ăn cơm sáng vừa xong, thấy em chạy vụt ra phía sau vườn Đợi, một đổi sau  quay trở về, tới nắm tay tôi, em nói:
      - “Anh Bốn! Có ưng đi bới dế với tui đem về nướng ăn không?”
      Tôi đưa mắt nhìn ra ngoài sân, nói :
      - "Buổi mai trời đang nắng chang.  Hãy chờ đến chiều chiều rồi hai đứa cùng đi, cho mát."
      Nghe vậy, em liền năn nỉ:
      - "Không răng mô.  Ở ngoải, em thấy trên trời có đám mây che rợp hơn nữa đám đất Lớn, lại có gió, mát đáo để."
      Ngưng một lúc, như để tìm lời, em lại nói tiếp để cù rủ tôi:
      - "Ở ngoải em thấy nhiều hang dế lắm.  Mau ra đào, kẻo mấy đứa choai choai ở xóm sau biết được đến đào sạch, tiếc lắm."
      - "Ừ, thì đi!"  Tôi chìu ý em.
      Tôi vác cuốc bàn, em vác cuốc vố.  Hai đứa đi thẳng ra đám đất Lớn ngoài vườn Đợi.  Lúc ấy tôi đã lớn mề còn em thì mới lên sáu tuổi.
      Tôi giành cầm cuốc đào hang bắt dế, bảo em cầm dọc.  Mỗi lần bắt được con nào, tôi đưa cho em xâu .  Tôi có sức nên hì hục đào bới không biết mệt, còn em xách dọc dế chạy lon ton khắp cùng đám đất Lớn.  Mỗi lần tìm thấy hang dế nào em liền bẻ những cây nhơn trần dài khoản vài ba gang tay, cắm bên cạnh hang, cứ hang mẹ bầu cắm hai cây, hang cha quăn một cây. Tôi không hiểu ý em, nên hỏi:
      - "Cớ sao làm dấu khác nhau như rứa?"
      Thay vì trả lời, em lại ngâm nga giọng ngòng ngọng hai câu thơ thẩn, em học lóm được ở đâu đó:
      - "Mẹ bầu đi sâu đất cái.
      Cha quăn ở cạn lắm khi dễ đào."
 Ngâm nga xong, em lại nói tiếp:
      - "Anh Bốn biết không, dế mẹ bầu đào hang sâu để ở, để đẻ.  Tui làm dấu hai cây nhơn trần để anh biết, phải dùng cuốc vố cứng mạnh đào mới bắt được; còn hang cha quăn thì cạn nên cuốc bàn đào là được ngay". . .  Mới chừng đó tuổi em đã có sáng kiến, tôi chẳng hề nghĩ ra.  Tôi chỉ hơn cái sức lực, em nhỏ yếu mà lại có trí trá, thế nên mới già nữa buổi mai, anh em đã đào bắt được ba dọc dế dài, hầu hết là dế mẹ bầu ruột no nưỡng đầy trứng mập ú ù, xen lẫn ít dế đực cha quăn đầu to, chân khỏe, bụng teo, ốm tong.  Tôi đang say sưa đào bới, bỗng nghe ở nhà có tiếng mẹ gọi:
      - "Xin bơi! Tri bơi!  Sắp sửa trưa rồi, về nhà lo tắm rửa đi con.  Đừng ở lâu lắc ngoài nứ."
     Người ta đồn khu vườn Đợi nhà tôi có nhiều ma cỏ.  Mẹ lo sợ, lúc trời đứng bóng, hồn ma bóng quế hay hiện ra lãng vãng, nên bắt chúng tôi phải về trước buổi đứng trưa.
      Hai anh em rời vườn Đợi, men dọc theo mé vườn Ngoài về nhà. Lối đi nầy quang đãng, ít cây cối rậm rạp.  Khi hai đứa đi ngang qua đám đậu gạo ông Bổn, một người chú họ của cha, nhà ở cận kề nhà tôi.  Đám đậu của ông sai trái, dày đặc, xanh mỡn, non mướt.  Bọn tôi đang khi khát nước thèm đậu gạo non quá chừng, cầm lòng không đậu, nên vừa đưa mắt láo liên ngó trước ngó sau, vừa lẹ làng đưa tay ngắt những trái đậu tơ ăn ngấu nghiến ngon lành, ngọt mát đến ruột.  Chẳng ngờ, lúc ấy ông Bổn ra thăm vườn, ông núp kín sau bụi tre rậm, rình bắt quả tang anh em tôi hái trộm đậu.  Ông giận dữ, mắt trợn trắng, miệng vừa nói vừa hét:
      - "Tụi bây ăn trộm đậu của tau, hai đứa bây bậy bạ quá chừng.  Mau đi theo tau về, tau nói lại với cha tụi bây."
      Cha tôi lấy giây thẹo trâu trói hai anh em tôi, mỗi đứa vào một gốc cột cái ở nhà trên.  Ông ra vườn bẻ hai nhánh dâu tằm làm roi, cứ mỗi lần cha đánh tụi tôi một roi, ông đều la to lên chỉ một câu một:
       - "Nầy, tau đánh cho tụi bây chừa thói hư tật xấu, đi ăn trộm đậu của người ta."
      Cả hai bị trói mãi cho đến xế trưa.  Thấy thế, mẹ  can, xin cha mở trói, cho phép hai đứa xuống ăn cơm trưa, mẹ đã dọn sẳn để phần ở nhà dưới.  Anh em tôi bưng chén cơm vừa ăn vừa khóc. Mẹ đứng bên, mắt mẹ cũng rưng rưng đỏ hoe.  Mẹ đưa tay vò vò đầu tóc em, dỗ dành:
      - "Thôi nín đi, cha la rầy, đánh đòn các con là để hả lòng, hả dạ ông Bổn, để ông hết giận.  Các con từ nay trở đi chừa bỏ thói héo lánh của cải người ta, tánh đó xấu lắm.  Các con có nghe không?"
      Hai đứa tôi vội đưa tay áo quệt nước mắt. Em tôi đầu gật gật, không nói được lời, còn tôi cuối gằm, miệng mếu máo nói nho nhỏ vừa đủ mẹ nghe:
     - "Con biết rồi, hai đứa con lỡ dại quá mẹ ôi."
     Không biết tự lúc nào, cha  từ nhà trên xuống ngồi ở bộ phản nhà ngang, lặng thinh hút thuốc.  Ngồi một đổi lâu, ông xuống bếp rang mấy mẻ cám, xong, gọi hai anh em tôi theo cha xuống búng sông ở Vực Tròn gần dãy Đá Giăng, cất nhứ cá găng.
     Ba cha con ngồi trên bờ sông.  Cha móc lưới nhứ vào gọng, bó cần nhứ vào giữa hai gọng.  Xong xuôi đâu vào đấy, hai tay cha nhấc cần, bỏ nhứ xuống nước.  Lúc lưới đã chìm sâu hẳn dưới lòng sông, chờ đến khi mặt nước trở lại bình lặng, cha bảo hai đứa tôi, bốc vài nắm cám rang vàng thơm phức đem trộn ít nước cho cám âm ẩm deo dẽo, vo lại thành những viên nhỏ, rồi quăng xuống nước khoảng giữa mặt nhứ.  Những viên cám nổi lềnh bềnh một lúc rồi tan ra thành đám bụi vàng vàng, nổi dập dờn trên mặt nước.  Cha con ngồi chờ, chẳng bao lâu một bầy cá găng độ vài mươi con xúm tới, con nào con nấy to dài cở ngón tay trỏ, thân mình cá găng trắng trong.  Chúng vừa bơi loạn xạ tứ tung vừa tranh nhau đớp bột cám.  Chờ một lúc, cha liệng thêm vài viên cám nữa xuống nước ngay giữa mặt nhứ, bầy cá tất cả châu đầu vào tranh ăn.  Thế là hai tay ông nắm chặt cần nhứ, nhẹ nhàng và hết sức đều tay, cha cất gọng lên cao, mành nhứ vừa nổi khỏi mặt nước, là đã túm gọn được bầy cá găng, chúng rớt nhanh xuống đáy nhứ.  Cha lấy vợt xúc sạch bầy cá, rồi bảo em trai tôi chìa rổ nhứ tới gần cho cha đổ cá vào.  Cha lại tiếp tục bỏ nhứ xuống sông, anh em tôi lo vãi cám xuống nước... Cứ làm thế, mãi đến khi già nữa buổi chiều, cá găng cất được đầy lưng lưng một rỗ nhứ.  Lúc này mặt trời đã xuống gần kề đỉnh núi Hòn Nhón, bầu trời chồng chất những vầng ráng chiều vàng hường, trôi cuồn cuộn bềnh bồng trên trời dưới nước.  Ánh chiều nhuộm vàng cảnh trời đất sông núi, nhuộm vàng lên tóc, lên chiếc áo thao của cha, lên chiếc áo lụa nu của em; ánh chiều vàng nhuộm luôn chiếc áo vải ta màu chàm của tôi mất đi màu buồn thảm.  Cha con tôi chiều ấy tưởng chừng lạc vào cỏi thần tiên như trong chuyện đời xưa "Ông quan huyện Từ Thức", mẹ nhiều lần kể cho chị em tôi nghe vào những lúc tiết trời đông giá, trong khi chúng tôi ngồi quây quần bên bếp lửa ấm nơi ngôi nhà dưới.  Ở thác Vực Tròn, hai chiếc ghe chài đã lên đèn đang ngược dòng thác bương bả đi đánh cá đêm ở đâu trên vực sông Ba nấc, Vực Dài hay Nà cờ chi đó.  Trời đã chiều lắm rồi, cha vội thâu giàn nhứ lên bờ cột lại thành bó, rồi bảo anh em tôi:
     - "Hai con theo cha xuống bãi, cha tắm cho, để còn lo về kẻo trời tối."
     Ba cha con tắm xong, mát mẽ. Trên đường về, cha vừa vác giàn nhứ vừa cõng em sau lưng, còn tôi bưng rỗ cá găng nằng nặng lẽo đẽo theo sau.  Vừa về đến sân, mẹ đang ở nhà dưới nhìn ra thấy, mẹ mĩm cười hớn hở nói:
     - "Cha con ông giờ đã làm lành lại được rồi.  Chừ, vô nhà, nghỉ một lát cho khỏe, để tôi lo kho cá găng, xong, cả nhà ăn cơm luôn thể. "
     Trong lúc chờ mẹ và chị Hai lo sửa soạn bửa cơm tối, cha lại võng nằm rồi bảo:
     - "Con Tri của cha lại đây, đưa võng với cha cho mát."
     Cha vói hai tay bồng em để nằm ngữa trên bụng, ông thả một chân chống đất lấy đà đưa võng qua lại, một tay choàng qua em giữ, để em khỏi té, tay kia cha ra điệu múa may, miệng ngâm nga bài "Lưu Biệt" của cụ Huỳnh: "Trăng trên trời có khi tròn, khi khuyết.  Người ở đời có khi thạnh khi suy..."
Em tôi được cha đưa võng mát mẽ, lại được nghe cha hát ru êm tai làm em mắt lim dim, thiu thiu buồn ngủ...
(Thời gian đầu, khi biết em không còn trên cỏi đời, tôi ít khi dám xuống búng sông Vực Tròn, mặc dầu lúc ấy sông nước đã nhiều đổi thay so với khi ba cha con đi cất nhứ cá găng năm xưa.  Thế đấy, lúc em còn sống, cha mẹ, anh chị em hết mực thương yêu em. Thử hỏi, khi em chết rồi, mấy ai không đứt ruột.)
     Sau ngày anh em tôi ra vườn Đợi đào dế và theo cha đi sông cất nhứ, tôi lại xa nhà ra Đà nẵng tiếp tục đi học.  Sáng ấy, em dậy thật sớm, xuống ngồi ở phản nhà ngang, dõi mắt nhìn hoài ra sân, ra ngõ, im lặng buồn xo.  Mãi đến khi mẹ và chị Hai dọn xong bửa cơm sáng, gọi em xuống ăn, em lắc đầu từ chối. Lúc tôi xách cặp sách vở ra đầu ngõ đứng, em chạy vụt theo đến bên, đưa tay nắm chặt vạt áo tôi, trong lúc tôi chờ đón xe đò ông Lý đi đường Tiên Phước - Đà Nẵng từ trên chợ huyện chạy xuống.  Khi tôi vừa bước lên xe, em đứng dưới đường nói với lên:
     - "Nhớ, có bửa mô nghỉ học, nhơớớ…về nghe."
     Nói vừa xong em liền quay mặt sang hướng khác không dám nhìn tôi. Xe chạy khuất đã lâu, em vẫn ngồi mãi nơi hòn đá đen ở đầu ngõ, dõi mắt ngó dọc theo con lộ. Thấy vậy, mẹ ra nắm tay em dỗ dành:
     - "Đi vô nhà với mẹ.  Chẳng bao lâu nữa, anh Bốn con được nghỉ lễ Hai Bà Trưng lại về nhà vui chơi với con chứ có chi mô mà buồn."
     Vào nhà, em lại phản nhà ngang đắp chiếu nằm suốt ngày, bỏ ăn luôn bửa cơm trưa hôm ấy.

     3 - Ví gà rừng

      Nhớ lại, một hôm khoảng giữa tháng chạp, mới già nữa buổi mai, ngoài trời mưa rây rắc dai dẳng, gió bấc thổi từng cơn, từng cơn se lạnh.  Hai anh em đang nằm đưa võng gần bếp lửa, mẹ và chị Hai đang lo nấu bửa cơm trưa.  Bỗng nghe tiếng gà rừng gáy te te ở đâu sau vườn Đợi, em liền vùng dậy chạy một mạch ra sau vườn, (còn tôi cứ nằm lì, lấy một chân đạp đất đưa đẩy võng.  Tiếng con gì kêu gáy lúc này mặc sức, tôi chẳng màng để ý đến.  Từ khi mẹ mới đẻ, tôi vốn lười nhác bẩm sinh.  Em tôi tính khác hẳn tôi).  Một đổi sau em chạy về, tay nắm lấy đầu võng giật giật, tôi ngước lên nhìn em, hỏi:
     - "Việc chi vậy?"
     Vẻ nôn nóng, em hỏi:
     - "Anh Bốn có biết cha ở mô không?"
     - "Cha nằm ở phản ngựa nhà trên."  Tôi trả lời em rồi hỏi tiếp:
     - "Cần chi mà hỏi cha?"
     - "Anh Bốn, em thấy bầy gà rừng năm con..."
     Nói chưa dứt câu, em chạy vụt lên nhà trên.
     Ba cha con tôi nôn nã ra sau nhà, đi băng qua vườn bà Cừ, tới vườn Đợi để tìm cách ví bắt bầy gà rừng.  Em xăng xái đi đầu, cha vai mang tấm lưới ba đi giữa, tôi lẽo đẽo theo sau.  Cả ba đứng nấp kín vào bụi trảy ở một góc đầu vườn, nghe ngóng, xem coi động tỉnh.  Một đổi, cha tôi miệng vừa nói thì thầm, tay vừa chỉ ra đám đất Lớn:
     - "Ngó, kìa bầy gà rừng, một con trống bốn con mái tơ."
     Hai đứa tôi nhìn theo, thấy con gà trống cao lớn, lông đỏ tía, mồng đỏ chót, hai bên đầu có hai tách trắng hếu, lông cần cong dài chấm đất và bốn con gà mái mập, lùn lùn, lông toàn màu xám bóng mượt.  Chúng đang lững thững vừa đi, vừa cuối đầu gục gật mổ mổ những thức ăn gì gì dưới đất, ở khoảng giữa đám đất Lớn.
     Lúc nầy sương sớm đã tan hết, cảnh vật bớt mờ mịt. Gần gần, núi Động Sinh lộ dạng; xa xa, bên kia sông Tiên, núi Hòn Đuốc ẩn hiện. Càng về trưa, cơn mưa bấc càng lớn. Nhìn mưa bấc nặng hạt đan dày, cha bảo:
     -"Cha con mình mau vô sâu trong bụi trảy, trú mưa."
Ba cha con ngồi chồm hổm chăm chăm theo dõi bầy gà rừng đang đi lững thững ở ngoài kia.  Em nôn nóng, miệng nói lặp ba lặp bảy:
     -"Lanh đi cha, mau ra ví bắt, chứ bầy gà ăn no bay mất, còn chi."
     Cha lấy tay vò vò đầu tóc quăn quăn của em rồi thong thả nói:
      -"Các con đừng lo, trời mưa to cở nầy, gà rừng ướt mình khó mà cất cánh bay lên được."
      Nói xong, ông chậm rãi phân công:
      -"Cha sẽ mang lưới đi vòng vô Vạt Núi đến giăng bịt lối mòn băng qua hàng rào ngăn giữa đầu đám đất Lớn nhà mình với vườn ông Cang.  Khi giăng lưới xong, cha rung nhè nhẹ cây óc chó cao cao đứng cạnh. Các con có thấy cái cây đứng ở đằng đó không?"
      Hai đứa tôi nhìn theo hướng cha chỉ rồi trả lời cùng một lượt:
      -"Con thấy, con thấy rồi cha."
      Cha lại dặn tiếp:
      -"Khi thấy cha rung cây thì hai con bắt đầu ví gà.  Cách lùa gà như những lần trước cha đã từng chỉ vẽ cho mấy con.  Nhớ không?"
      -" Dạ, nhớ." Tôi trả lời mà trong lòng hơi hồi hộp.  Còn em tôi vui vẻ hăng hái nói:
      -"Ví gà rừng dễ ợt, trước đây chẳng có khi nào cha con mình bắt trật mô."
      Lúc cha tôi mang lưới đi giăng, anh em tôi, mỗi đứa bẻ một nhành trảy để nguyên lá dùng để đuổi gà.  Khi nhìn lên thấy ngọn óc chó rung, tôi liền len lén đi lên bìa trên đám đất Lớn phía giáp với Rừng Dương-Vạt Núi; em tôi khom người lủi xuống đám thổ ông Nhẩn ở dưới bờ dọc đám Lớn. Bấy giờ bầy gà vẫn còn loanh quanh khoảng giữa đám đất, con nào con nấy diều căng cứng no tròn, gà đâm ra chậm chạp nặng nề, chúng vừa đi lững thững vừa rướng cổ nhìn ngang ngó dọc. Thấy có người, liền bỏ kiếm ăn, dẫn nhau đi về hướng đầu đám đất Lớn.  Em tôi bèn núp người khuất dưới bờ đất vừa lom khom tiến lên vừa đưa nhành lá trảy cao khỏi đầu, rung rung nhè nhẹ đuổi dồn bầy gà vào giữa đám đất.  Tôi chẳng có chổ núp, đứng tồng ngồng, cầm nhành lá phe phẩy để bầy gà khỏi chạy ra ngoài đám đất.  Thấy bị người canh đuổi, chúng nhìn qua ngó lại, đột ngột tách bầy làm hai, con gà trống dẫn một cặp gà mái nhắm hướng đầu đám thổ ông Nhẫn đi tới, hai con gà mái còn lại đứng sượng sờ tại chỗ, đưa cổ ngong ngóng về hướng rừng Dương- Vạt Núi.  Thấy vậy tôi lo quá, vội chạy lên tấn đuổi. Bị đuổi nột, cặp gà hoảng sợ cuối mình lũi chạy, đôi cánh nhấp nháy mấy lần nhưng chẳng bay được, chúng bèn nhảy cướng lên lấy đà chạy nhanh, chớp cánh chớp cánh...một đổi, cánh mỡ sè được, liền đập cánh rần rật, cất mình bay về hướng rừng Dương- Vạt Núi, thẳng lên núi Động Sinh, biến mất. Mưa mỗi lúc càng nặng hạt.  Em tôi lúc ẩn lúc hiện, chạy tuốt lên đầu đám đất Lớn đón ba con gà còn lại.  Tiếc quá, mất hụt hai con, tôi đứng sửng sờ, ngời ngời ở đầu nầy, gà thấy tôi sợ không dám chạy vào rừng.  Chúng bị tấn đường hai bên, lại thêm cánh bị mưa ướt nhẹp không tài nào bay được, đành cứ hướng giữa đầu đám đất lớn chạy tới, đến sát bờ rào gặp đường mòn, một con gà mái bước vào, con nữa chớm bước theo, con gà trống sau cùng còn đứng ngoài, nghiêng đầu vươn cổ ngó qua ngó lại.  Thấy vậy, em  vội bước lên bờ đất, lập tức gọi tôi:
      -"Đuổi to, mau lên anh Bốn."
      Anh em tôi vừa vổ tay bôm bốp vừa la lớn cùng một lúc:
      -"Hùi hụ ụi... hụ ụi..."
Bầy gà nhanh chân chạy vụt qua đường mòn, đụng phải lưới, lưới sập bọc lấy gà, chúng vừa vùng vẫy vừa kêu "oát oát...", tìm cách thoát ra, nhưng không tài nào.  Hai anh em  xúm lại phụ với cha gở bắt gà, rồi cùng xách đem về nhà.  Trên đường đi, cha lại vò đầu em , khen:
      -"Con Tri của cha thiệt là đẻ sau mà khôn lanh hơn anh Bốn con. Chắc, lớn lên cha sẽ đi kiếm vợ cho con, trước anh Bốn. Hì ì.hìì."
     Nghe cha nói vậy, em hờn mát, liền gỡ mạnh tay cha ra khỏi đầu, miệng vừa mếu máo vừa nói:
      -"Lớn lên con chẳng ưng vợ, chỉ ưng sống như ri, để đi ví gà rừng nì, săn chồn, ví sóc, đi đánh lưới cá nì...với cha với anh Bốn, còn vui còn sướng hơn là lấy vợ."
     Nói xong, nước mắt em rưng rưng, muốn khóc.  Nghe thấy vậy, cha tôi liền dỗ dành:
      -" Thôi, thôi! Rõ rồi. Cha chỉ nói giỡn thế, cho qua đi đừng để tâm.  Mình là đàn ông, con trai nên bỏ cái tánh mít ướt mới mới là nam nhi chi chí chớ con.  Hì hì...
      Thật lòng mà nói, thuở ấy em trai tôi là đứa con nít lanh trí sáng dạ.  Tuy còn nhỏ nhít nhưng em đã làm được những việc chỉ có những đứa lớn tuổi mới kham nổi.  Tính em lại hiền từ thân thiện, thích gần gủi, thương mến anh chị em.  Bây giờ em chẳng còn, bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa, em lưu lại cho gia đình, khiến cho cả nhà , ai nấy thêm khổ sở đau lòng chẳng khi nào nguôi ngoai.

     4 - Cảnh nhà và chị em tôi

      Khoảng thập niên năm mươi, quê tôi chưa bị cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai phe tư bản và cọng sản tàn phá.  Bà con trong làng xóm sống đời an nhàn, làm lụng mùa nào việc nấy, không bận rộn tất bật. Cơm ăn áo mặc, vừa đủ no đủ ấm.  Thế nên chẳng ai có lầu cao, xe hơi, nhà lớn cửa rộng.  Cũng như nhiều nhà khác, cha mẹ tôi cũng có nhà rường, có đồng trước vườn sau, cây cối đồi nương thuộc miền trung du xanh tốt quanh năm.
      Bao quanh ba ngôi nhà của cha mẹ là những vườn quế lưu niên, cây cao to, tàn lá sum sê, bóng quế che rợp phủ mát kín đất.  Cánh đồng Cửu nhà tôi ở xa phía trước.  Hai bên hông nhà trên, xa xa, bên trái là khu vườn Ngoài, bên phải là vườn Mít Tiêu, phía sau nhà là vườn mít vườn chè bà Cừ (Khu vườn nầy trước kia của bà Cừ, sau vì già yếu đơn chiếc nên bà bán lại cho ông nội tôi).  Sau vườn bà Cừ là khu vườn Đợi.  Ở vườn Đợi có trồng nhiều cây lưu niên, có đám đất Dương và đám đất Lớn. Nghe người lớn nói lại, khi xưa khu vườn Đợi có tiếng cảnh đẹp, gió mát, trăng thanh; lúc ban đêm, khi trưa đứng bóng thường có hồn ma lãng vãng, lúc cười đùa, khi than khóc rên la...; vì thế dù cảnh trí thơ mộng mà vẫn vắng vẻ quạnh hiu, bình thường ít người lui tới, chỉ có những cặp trai gái thường hay hò hẹn ở đây để dể tâm sự tình tự.  Tiếp giáp với khu vườn Đợi là vạt rừng Dương của nhà tôi, rừng Dương thường được gọi là Rừng Dương-Vạt Núi vì rừng ở cao có nhiều cây cối, lau lách... hoang dã.  Rừng Dương-Vạt Núi và núi Động Sinh rất gần, chỉ cách nhau bởi vườn nhà chú Mười Mày, con trai bà Lâu.  Hằng năm cứ vào mùa hè cha tôi thường vào Rừng Dương-Vạt Núi chặt củi để dành vào việc nấu nướng trong những ngày Đông giá, mưa gió lụt lội.
      Vườn đất nhà tôi tương đối rộng lại gần rừng núi, nên là nơi sinh sống đủ loại chim muông ; kể cả thú dữ như gấu, beo, heo rừng thỉnh thoảng từ núi Động Sinh đến, trú ẩn, kiếm ăn, rình mồi nơi Rừng Dương-Vạt Núi .  Nhưng đông nhất phải kể các loại khỉ, vượn, chồn, đồi, sóc, gà rừng, le le...  Các loại chim như chim cút, chất mào, bù chao bạc má (chim khứu), bù chao chó, vàng anh, vàng nghệ, họa mi, vành khuyên, phướng, trĩ, cú ngày, chìa vôi, chim sáo, cà cưỡng, nhồng, chim khách, chích chòe, chim sâu, chim chuối...  Ôi thôi, nhiều loại nhiều loài lắm lắm, chẳng tài nào kể cho xuể.  Chúng tụ tập, nhảy nhót, lục kiếm, bay liệng, vần vũ, ca hót, kêu hú, hồ hộc cả ngày lẫn đêm.  Thuở ấy, chị em tôi làu thông nếp sống vườn đồi, quen thuộc đường đi nước bước, có nhắm mắt chạy vẫn không lạc.  Nên chi, khi nào không bận rộn những việc lặt vặt của trẻ con hoặc những hôm nghỉ học ở trường, chị em thường chạy ra vườn lẫn vào cây cối, hoa lá, trà trộn cùng bầy chim muông.  Thích rình mò nghe ngắm những con nhồng, con khứu, họa mi, vành khuyên, sáo nghệ...  Chúng đẹp tuyệt, bộ lông nhiều màu sắc, có con mỏ và chân màu đỏ tiết hoặc vàng tươi; tiếng hót hay hết chỗ chê, trầm bỗng thánh thót.  Đặc biệt nhất có con khứu và con họa mi, đôi lúc lấy mỏ ngậm một loại lá cây làm "nhạc cụ", hót lên những bản nhạc chim, nghe sao rất lạ tai và kỳ thú không tài nào diễn tả nổi.   Nghe chim hót mãi đến lúc đã ghiền, chúng tôi lại bày trò rung cây đuổi ví mấy con đồi, con sóc đang chuyền cành hay nhanh nhẹn lí lắc chạy nhảy dưới đất. Em trai tôi tò mò tìm những ổ chim, bắt chim con đem về nhà nuôi... Vườn đồi nhà tôi nhiều chim muông là thế, chị em lại thích hòa mình vào nơi ăn chốn ở  của chúng. Nhiều khi chúng tôi ao ước, có một đêm sau giấc ngủ ngon lành, sáng ra thức giấc thấy mình hóa thân thành con chim quí, màu sắc mỹ miều, tiếng hót du dương.  Nhưng mong mỏi chỉ là giấc mơ không thực.  Trái lại những ngày thơ ấu của chị em tôi năm xưa, một sớm một chiều, có ai đó ở cùng hàng xóm sáng trí nhưng nghịch ngợm, rắn mắt đã đặt tên cho chúng tôi thành những con chim, con vật chẳng hề đẹp, tiếng kêu chẳng hề hay ho chút nào, mà có đời nào bọn tôi mong đợi; họ đặt để  kêu dói cho sướng miệng và làm trò vui. Thằng Tỵ con ông trùm Bảnh ở cùng thôn, có lần thấy tôi nó liền réo:
      - "Thằng cò nhướng, mi biết không?"
     Tôi làm thinh, không trả lời. Thằng Tỵ miệng cười ruồi khinh khỉnh, mắt nó mỡ to, mặt  bơ lên để chọc tức:
      -" Thằng cò nhướng, mi có nghe tau nói không?"
      Tôi tức quá, hét lại:
      -" Biết mẹ gì? "
      Thằng Tỵ chỏ miệng sát mặt tôi, la to:
       - "Nì, thằng cò nhướng, khu nhà mi là vườn bách thú, chị em nhà mi đều là chim thú cả."
      Tôi muốn thâu tay đấm vào mồm nó, nhưng sực nghĩ mình sức yếu thua, không đủ mạnh chọi với thằng vai u thịt bắp, nên đành nhịn, im lặng làm lơ.
        Mỗi lần bị chọc ghẹo, bọn tôi tức giận,tủi thân.  Chẳng biết trút bỏ nổi giận tức đi đâu để vơi bớt buồn phiền. Đôi khi đành đổ lên đầu lên cổ chị em ruột thịt mình, gây bất hoà cáu gắt, mang tiếng không tốt cho gia đình cha mẹ. Người cùng xóm có lần chê bai, nhà ông Thầy Cửu con cái lộn xộn quá....   Sau nầy khi tôi lớn, đi tha phương, xa nhà. Bạn bè cũng đặt cho tôi những cái tên chơi dựa đúng theo một vài đặc điểm nổi bật của mình, tên dù tốt hay xấu; tôi không giận, trái lại nghe riết trở nên bình thường quen thuộc hơn cả tên tộc, tên khai sinh của mình vậy.

    5 - Đi đám giỗ nhà ngoại

   
 Mẹ thương em trai bằng non bằng nước.  Lúc em đã chín mười tuổi, mùa đông còn ngủ với mẹ.  Chị em hay trêu chọc em: "Con trai sắp có vợ mà ngủ với mẹ không biết xấu hổ, chắc chưa bỏ bú chứ chi."  Em cười cười xả lả và nói trả lại xong ro: "Tui ngủ với mẹ mùa lạnh có gạt lữa ấm ru, mùa hè ngủ với cha nằm ván ngựa thiệt là mát.  Tôi thương cha với mẹ đồng nhau, biết chưa."                                         Bọn tôi thầm phục sự đối đáp lanh trí của em.
     Mẹ mỗi lần về đám giỗ nhà ngoại ở thôn Tú Sơn, thường dẫn các con theo cùng. Đôi khi chúng tôi vì bận phải đi học hoặc khi mẹ con về ngoại, để cha ở nhà một mình, thấy thương cha.  Bọn tôi một hoặc vài đứa không đi với mẹ, ở lại nhà với cha cho có bạn. Riêng chỉ có em, lần nào lần nấy, mẹ đều dẫn em theo cho được.  Đường về quê ngoại xa lắc, mùa nắng nóng, từng lúc mẹ bồng nách em cho đở mỏi mệt. Nhất là về mùa mưa, đường đất hục hang lầy lội, mẹ ghé lưng cõng em suốt, khi đến hiên nhà ngoại mới dám thả em đứng xuống... Sau nầy lúc em không còn nữa, mỗi lần về ngoại đám giỗ, vắng em theo cùng. Trên đường đi, mắt mẹ đỏ hoe, chặp chặp mẹ lại kéo vạt áo lên lau nước mắt, làm chị em tôi thêm mũi lòng, khóc theo mẹ mùi mẫn.

      6 - Đứa em gái nhớ anh 
        
      Em trai tôi, suốt thời gian còn sống với gia đình, chẳng hề đi đâu, xa nhà xa quê.  Tính em hay lau lách, ít khi chịu ngồi yên một chổ, không ra vườn ra ruộng cũng lên rừng hay xuống sông vô suối...  Chổ nào em cũng bày ra những việc trẻ nhỏ, những trò chơi con nít thú vị chổ đó. Khi tôi còn ở nhà, anh em luôn ở bên cạnh, cùng nhau làm lụng vui đùa...  Rồi tôi phải đi học xa, ở Đà Nẵng, Tam Kỳ, Huế. Rồi nhập ngũ đi lính, lang bạt kỳ hồ. Thiếu tôi, em thường dẫn hai đứa em  nhỏ sinh sau theo cùng. Từ khi em chết cả nhà ai nấy đều khổ sở hụt hẩng.  Lúc đầu, mấy đứa em gái, ngoài giờ đi học ở trường, thường quanh quẩn ở nhà, ít khi đi đây đi đó như hồi em trai tôi còn sống.
      Một hôm có hai bạn học cùng trường đứa em gái thứ tám vào nhà, rủ lên rừng Rang hái sim.  Em gái tôi trong lòng chẳng thích thú, nhưng vì nể bạn, đành gắng gượng xách giỏ cùng nhau vào rừng. Suốt buổi, em cắm cuối hái, thỉnh thoảng mới chuyện trò với hai bạn vài câu cho có lệ. Một lúc, bất chợt nước mắt nó chảy dòng. Thấy vậy, đứa bạn ngạc nhiên hỏi:
      -"Tại sao, khi không mi lại khóc?"
Em vừa đưa tay lên quệt nước mắt trên má vừa nói:
      -"Hai đứa biết không, lúc anh Sáu Tri tau còn sống, anh em thường lên đây hái sim.  Giờ đây vắng anh, chỉ có tụi mình, nên tau nhớ anh Sáu tau quá chừng."
Sim mùa,  chín nhiều đen cây, thế mà ba đứa chẳng nói chẳng rằng, uể ỏi lơ là cắm cúi hái.  Chẳng bao lâu, cùng nhau rời rừng, xuống bờ sông nghỉ chân, uống nước.  Ba đứa ngồi im lặng một đổi, em gái tôi đưa tay chỉ xuống vực sông, nét mặt buồn thiu, miệng nói thì thầm như kể lể cho chính mình nghe:
      -" Ở khúc sông nầy, từ dạo anh còn sống, thường rủ chị em tau vào đây giăng bủa giây câu, bủa xong, chờ qua đêm, sáng ra anh vào sông, bơi từ bên nầy qua bên kia bờ, giở giây,gở cá mắc  lưởi câu.  Lần nào anh em cũng bắt được bộn cá, đủ loại.  Chừ đây, đồi sim trái chín đầy cây, sông nước vẫn y  như củ,  anh Sáu không còn nữa, tau buồn thương anh quá, mấy bạn ơi."
      Lặng đi một lúc, em lại tiếp:
      -"Khúc sông dưới kia là vực Ba nấc, ba anh em thường tắm ở đấy. Anh tập tau bơi, lặn, chỉ cho cách bắt những con cá đép dèm dẹp bám ở những hòn đá sông đen nhánh...  Có hôm anh hì hục chặt mấy cây tre đan một cái bò, bọn tau hè nhau khiêng vào đây, thả bò xuống chổ vịnh nước gần sát mấy lùm tre là ngà ông Cận ở kia. Để yên bò ở đấy vài ba ngày đêm, rồi vào  xúm nhau kéo bò lên bờ, thi nhau bắt tôm tép, cá găng, cá bống, cá lấu, lương ếch...đôi khi trúng ít con cá chình to tổ bố. Còn trên kia là vực Nà Cờ, hai bên bờ sông có mấy đám cỏ xanh tốt,  anh em hay thả trâu ăn ở đó, mỗi khi bụng trâu đã no lưng lửng , trâu lại ăn bền không còn chạy rông. Tụi tau liền lẻn vào rừng  giũ hạt chà là chín, hái ổi, hái trâm...Anh  thích nhất tìm những tổ bộng sáo ngà, sáo nghệ ở thân cây nánh, cây chò cao chót vót. Anh bứt dây rừng thắt nài trèo bắt sáo con đem về nhà nuôi. Anh nuôi chim tài tình lắm, hầu hết con nào cũng lớn khôn, ít có con chết. Hiện giờ ở nhà còn một cặp chim sáo nghệ, đã biết bắt chước bập bẹ nói được tiếng người...  Thôi, thôi, tau không kể nữa, nói nhiều, nhớ lại  thêm buồn. Ngó !  Trời đã chiều lắm rồi, bọn mình mau về, kẻo tối."

7-
Mối tình                                                                                                                                                                                               
      Năm em trai mười bốn tuổi. Do sự giới thiệu của Lưu Huỳnh, cháu nội bà Xiêm, người cùng thôn Bình An, em đem lòng thương một đứa con gái cùng tuổi tên Thắm, Mạc thị Thắm.  Nhà Thắm ở  vùng mất an ninh thuộc xã Phước Lộc, nơi giặc dã thường đánh nhau như cơm bửa, nên cả gia đình Thắm gồng gánh chạy xuống lánh nạn ở khu định cư Vực Tròn cách nhà tôi không xa lắm.  Nhiều người cho rằng ở vùng trung du có sông suối, có núi rừng đồi nương... như quê tôi, con gái thanh nữ có nhiều người đẹp mặn mà.  Thật vậy, thử ghé Tam Kỳ, thành phố thị xã của tỉnh, thấy những tiệm chụp ảnh  trưng bày nhiều bức hình làm mẫu để quảng cáo câu khách, là của những người đẹp quê tôi. Như, lớp lớn có người đẹp Thuận, Lầu, Quỳnh Ba... Lớp nhỏ có Kim Đương, Bích Đào, Cẩm Nhung.... Thắm, người con gái em tôi thương có một nét đẹp đằm thắm đã đành, lại còn ăn nói dịu dàng ngọt ngào, miệng cô gái lúc nào cũng như mĩm cười, khiến đôi mắt trong sáng như reo vui và nét mặt luôn hồn nhiên rạng ngời.  Nếu ai có tâm trạng chi buồn phiền, gặp được Thắm dù trong chốc lát cũng cảm nhận lòng mình vơi bớt đi phần nào phiền muộn.  Trời già đã ưu ái ban cho Thắm một diễm phúc ít có trên đời.
      Tình cảm Thắm dành cho em trai tôi như thế nào, thắm thiết hay hời hợt chẳng ai biết.  Tôi chỉ biết em thương cô gái ấy bằng non bằng nước. Từ khi phải lòng cô ta, người em cứ lơ lơ lửng lửng. Thường ngày dù bận rộn hoặc đi đâu, mặc, em cũng ghé ít nhất một lần xuống khu định cư Vực tròn, mong mỏi gặp được người mình thương. Em có một cái đài thu thanh USA chị Hai mua cho. Những lúc rỗi rãnh, không bận công việc giúp đở gia đình hoặc không đến trường học, em luôn mang đài bên mình, thích mở nghe những bản tình ca lứa đôi và tập hát theo giọng ca sĩ.  Một lần, mở đài, trúng chương trình thương mại, sau phần quảng cáo kem đánh răng ông chà và Hynos, ca sĩ Hoàng Oanh hát bài " Nổi lòng người đi". Em nghe, thích quá chừng, nên tìm tòi học hát thuộc làu nhuần nhuyển bài tình ca nầy.  Bài "Nổi lòng người đi" là bài hát định mệnh an bài, như một phần số đời em.  " ...Mộng với tay cao hơn trời. Tôi hái hoa tiên cho đời, để ước mơ nên đẹp đôi..."   Tình yêu của em với Thắm chẳng đến đâu, không thành. Và cũng vì hết lòng say đắm người mình yêu, khiến đời em dẫn đến ngõ cụt và kết thúc cuộc đời ngắn ngủi, sau bao khổ nhục oan khiên .
Đêm hôm ấy, nhằm đêm mồng hai tết Mậu Thân. Lúc nầy, thừa dịp còn trong thời gian hưu chiến, em không chịu đi tìm nơi yên ổn để ngủ cho an toàn như mọi khi.  Em ở lại vui chơi tết và ngủ đêm tại nhà bà Hoa Ca kế cận khu định cư Vực Tròn để được gần người mình yêu.  Thế rồi, cuộc tấn công của bộ đội cọng sản Bắc Việt vào quận lỵ quê tôi.  Em bị cọng sản bắt và từ đó em xa lìa vĩnh viễn chúng tôi, chẳng có ngày về lại đoàn tụ với cha mẹ, anh chị em, bạn bè.  Thắm, người em yêu, ngày một ngày hai là quên em.  Nàng sớm có chồng, sinh con đẻ cái, sống một đời thật hạnh phúc ấm êm.    
                                                                                                    
 II. TẾT MẬU THÂN, EM BỊ BẮT

      Tết Mậu thân 1968, quê tôi chìm trong lữa đạn chiến tranh.  Những đợt tấn công và mấy đợt phản công của quân đội hai phe thù địch Cọng Sản và Quốc Gia, khiến nhà cửa làng xóm quê tôi tan nát tiêu điều, người dân kẻ còn người mất.  Gia đình tôi bỏ dỡ cúng tết, chạy lánh nạn lạc nhau tứ hướng.  Mãi đến khi tiếng súng, tiếng đạn pháo, tiếng quân lính hò hét tạm ngưng; bà con làng tôi lục đục, dò dẫm trở về, lo chữa nhà cháy, thu lượm đồ đạt còn sót lại, nhất là lo cứu cấp người bị thương hay chôn cất người thân tử nạn.  Tiếng khóc, tiếng than vãng nghe thật não nuột.  Nhà tôi may mắn vẫn còn lành lặn, không bị thiêu cháy.  Bốn người về đến sân nhà đầu tiên là chị Hai, tôi và hai đứa em gái, đều khựng lại, châu mắt nhìn vào trong, nhà tối mò.  Nhà của chúng tôi từng quen thuộc bấy lâu, sao nay thấy hoang vắng buồn tẻ quá chừng.  Chị em không dám bước vào, chỉ ngồi ngoài hè nhà trên, nóng lòng chờ đợi cha mẹ, đứa em trai và đứa em gái út, mãi đến giờ nầy sao chưa thấy bóng dạng.  Ngoài trời, mưa bấc từng cơn phơ phất, gió đầu xuân từng cơn thổi tạt vào hiên nhà cong cóng lạnh.  Bổng ở đầu ngõ, cha mẹ về đến, mẹ xách giỏ đồ đạt, cha cõng đứa em gái út.  Chị em tôi mừng quá, chạy ào ra.  Cha mẹ  liền choàng cả hai tay ôm khắp mấy chị em.  Thấy thiếu em trai, mẹ vội vả hỏi:
      -"Tri, giờ nầy chưa thấy về hả các con?"
      Cha tôi liền tiếp lời mẹ, hỏi dồn:
      -"Các con có biết, có nghe ai nói, nó ở mô không?"
      Chị Hai tôi trả lời:
      -"Tụi con chờ mãi, chẳng thấy em về, cũng chẳng biết giờ nầy em đang ở mô."
      Chị em tôi theo sau cha mẹ bước vào nhà trên.  Nhìn lên bàn thờ ông bà, thấy trống trơn. Kiểm lại mới biết bộ lư hương bằng đồng xứng, đôi chân đèn bằng đồng thau, cái chuông cúng cổ xưa quí giá, cả mấy mâm thau, mấy chồng chén dĩa kiểu... đều bị mất cắp.  Trên tấm ván một kê trước bàn thờ, bình hoa mai chưng ba ngày tết, nước trong bình vẫn còn đầy, thế mà cả hoa búp lẫn lộc non đều héo xụ.
      Cha ngồi ở bộ ván ngựa, lặng thinh hút thuốc.  Mẹ và chị em tôi ngồi ở đà cửa nhà trên xây mặt ra sân, mắt nhìn chăm chăm ra đầu ngõ, mong ngóng em về.  Thỉnh thoảng mẹ kéo vạt áo lên lau những giọt nước mắt, mẹ không dám khóc ra tiếng sợ các con thêm buồn khóc theo.  Nóng lòng chờ mãi vẫn chưa thấy bóng dáng em, mẹ cầm lòng không đậu, đành vịn cửa đứng lên, mò mẩn đi xuống nhà dưới, vào buồng đắp chiếu nằm, khóc thút thít một mình.
      Có tiếng người nói xôn xao ngoài đường cái phía trước nhà.  Cha con tôi nôn nã ra đầu ngõ, đứng nép mình vào hàng rào chè tàu nghe ngóng.  Thiếm Hiến vợ chú Tư Tá người cùng thôn, đang huơ tay nói với mấy người quen:
      -"...Thằng Tri con ông Cửu Thống còn nhỏ chút, đang đi học,
 cũng bị cọng sản bắt tối mồng hai tết vừa rồi..."
      Nghe vậy, cha liền chạy vụt ra đường, vội đến gặp thiếm Hiến hỏi xem hư thực, thiếm trả lời:
      -"Thằng Tri con anh bị cọng sản bắt mất rồi, anh Thống ơi."
Cha tôi quỵ xuống, ngồi bệt dưới đường, hai tay ôm đầu.  Ông chỉ thốt lên được mấy lời:
      -"Ôi thôi!  Khốn kiếp con tôi rồi.  Trời ơi!"
      Chị em tôi xúm lại đở cha.  Cha vừa chống hai tay xuống đất đứng dậy vừa nói để dặn dò chúng tôi:
      -"Vô nhà, nhớ đừng cho mẹ con biết, thằng Tri bị bắt nghe các con."
      Tình cảnh gia đình, cửa nhà chúng tôi, lúc nầy, sao buồn thảm quá chừng.  Cha đắp chiếu nằm ở ván nhà trên, mẹ nằm trong buồng nhà dưới, chị em tôi mệt mỏi ngồi co ro túm tụm ở khém nhà.  Ngõ trước vườn sau chìm trong mờ mờ ảo ảo.  Từng cơn gió chặp chặp lại đổi chiều thổi phất phơ, làm những đợt mưa bấc bay tấp vào hiên vào nhà, hơi lạnh đầu xuân tràn vào, se se buốt giá.
      Dưới ngõ có tiếng chân người bước lên bậc sân. Mấy đứa tôi, ai nấy châu mắt nhìn, nhận ra chú Tư Trập, người cùng xóm.  Lúc vừa bước vào nhà, thấy chị em tôi, chú hỏi ngay:
      -"Cha mẹ các con có ở nhà không,?"
      Chúng tôi chưa kịp trả lời, chú liền hỏi tiếp:
      -"Anh chị Ba đã về chưa?"
      -"Dạ, về rồi" Chị Hai tôi trả lời. " Cha con nằm ở ván ngựa đàng tê, còn mẹ nằm ở buồng nhà dưới."
Chú Tư đi thẳng đến chỗ cha, chú đưa tay đập đập bức chiếu cha đắp, miệng thều thào nói nho nhỏ:
      -"Anh Ba thức hay ngủ, dậy cho em nói chút chuyện."
Mẹ tôi nghe tiếng chú Tư vào nhà, vội vùng dậy, đi liền lên nhà trên.  Mẹ và chú Tư ngồi ở ngạch cửa, cha ngồi trên ván ngựa. Mẹ nôn nóng hỏi chú:
      -"Có chuyện chi rứa, em Tư, lành hay dữ?
      Chú ngồi im lặng một lúc lâu ra vẻ trầm tư do dự, mới nói:
      -"Thằng Tri bị cọng sản bắt mất, anh chị Ba biết chưa?"
      Cha tôi ngồi bất động, vẫn im lặng.  Còn mẹ mặt biến sắc, đưa hai tay đập liên hồi xuống ngạch cửa, nước mắt mẹ chảy ròng ròng.  Đột nhiên mẹ la thét lên hai tiếng: "Ôi Trời...".  Rồi ngã người đập vào cánh cửa ngất lịm.  Chị em tôi vội vàng xúm lại đở mẹ đứng dậy, dìu mẹ đến ngồi trên ván ngựa.  Chị Hai và Mai đứa em gái thứ Bảy ngồi sát hai bên mẹ, giữ gìn cho mẹ khỏi bị tẻ ngã lần nữa.  Nét mặt cha tôi héo sầu, nhưng gượng cười nói với mẹ:
      -"Đã đến nổi nào đâu, mà nhà Thống buồn khổ lắm vậy."
      Nói rồi, quay sang chú Tư, cha tiếp:
      -"Tư ơi! Chuyện thằng con anh bị cọng sản bắt, anh biết rồi, trưa nay thím Hiến nói với anh Ba."
      Bên ngoài trời đã chạng vạng, sắp tối.  Tôi xuống nhà dưới thổi lữa, thắp đèn.  Xóm ông Phương, ông Cận ở bên kia đồng ruộng Cửu, vài đám cháy vẫn còn hừng hực, ngọn lữa đỏ lúc nhảy vọt lên cao, khi tụt hẳn xuống đất, khói xám bay vần vũ cả một góc trời.  Thỉnh thoảng có tiếng nổ đôm đốp của những đòn tay nhà bằng tre cây đang cháy, vọng đến nghe rõ mồm một.
      Trong nhà ngoài ngõ, giờ nây đã tối hẳn.  Ngọn đèn dầu lữa thắp ở tấm ván một, chỉ đủ sáng lờ mờ ở căn giữa ngôi nhà trên tám cái của gia đình tôi.  Xóm thôn chìm trong hoang vắng.  Đứa em gái út thứ chín ngồi ở ngạch cửa hông nhà trên đưa tay dụi mắt, miệng ngáp dài.  Mẹ gọi em lại, bồng lên ẳm em ngồi vào lòng,  em nhắm mắt ngủ liền.  Trong nhà ai nấy im lặng thiêm thiếp.  Chẳng biết bao lâu, nghe mẹ lên tiếng hỏi:
      -"Lúc thằng con chị bị bắt, em Tư thấy tận mắt hay nghe người kể đi, kẻ nói lại?"
      Chú Tư Trập vội đứng dậy bước ra hiên nhà trên, rão mắt nhìn ra bên ngoài khắp một lượt, xong vào lại, đến ngồi bên cha với mẹ, chú kể lể thì thầm, nói như để cha mẹ vừa đủ nghe:
      -"Tết vừa rồi, tiểu đội nghĩa quân của em đóng ở cầu Bình An.  Vì có lệnh ngưng chiến ba ngày tết, nên bọn em canh gát hết sức lơ là, chỉ lo giữ trật tự cho bà con vui xuân, thì bị một đơn vị cọng quân tiến đánh chiếm cầu, em bị bắt..."
      Nói đến đây, chú Tư phải ngừng kể vì tiếng đạn pháo của đơn vị pháo binh phía Quốc Gia ở đồi Cao nổ ì ầm nghe chát tai.  Chú lấy thuốc rê ra vấn hút, chờ cho tiếng đạn nổ tạm ngưng, chú lại tiếp tục kể:
      -"Khi cọng sản chiếm được cầu, thì em bị bắt.  Sau đó, họ ồ ạt tấn công chiếm chi khu và quận lỵ, họ bắt thêm một số người nữa, trong đó có thằng con anh chị.  Cháu bị bắt tại nhà bà Hoa Ca. Cọng sản trói cắp ké hai tay những người bị bắt chung cùng một sợi dây dù to thật chắc. Họ dẫn tụi em đi đầu, theo sau là một đơn vị bộ đội. Lúc đến cầu Cây Gáo, canh nông bên Quốc Gia  từ đồi 211 nã theo, họ vội vã đạp tụi em nằm bẹp xuống ruộng lúa, rồi chạy tứ tán tìm bờ ruộng, bờ suối, bờ vườn ẩn núp tránh đạn pháo.  Nhờ lúc không bị canh giữ, em liền dùng răng cắn mở được giây trói và chạy thoát lên núi Động Sinh. Ẩn núp ở đó, lắng nghe động tỉnh, sáng ra mới dò dẩm về lại nhà. Giờ ghé vào đây báo tin cháu để anh chị biết."
      Cha tôi nóng lòng, vội lên tiếng hỏi:
      -"Thế thằng con anh chị có mở trói được để thoát không em?"
      -"Cháu Tri bị trói ở giữa toán người bị bắt, không thể tìm được đầu mối dây, nên không mở được."  Chú Tư vừa trả lời vừa đưa mắt ngó ra sân, vẻ e ngại, không dám nhìn ai.  Chú nói tiếp:
      -"Còn em ở đầu toán bị bắt nên lấy răng lần mò ra được đầu mối dây cột, mở trói được dễ dàng. Thật xui xẻo cho cháu quá chừng."
      Khi chú Tư vừa dứt lời, mẹ cầm lòng không đậu, lấy hai tay ôm đầu bứt tóc vừa rên vừa nói:
      -"Con nhà ni mà bị cọng sản bắt là khốn lắm, em Tư ơi."
      Nói rồi mẹ nằm vật vả trên ván, tỉnh tỉnh mê mê.  Mắt chú Tư đỏ hoe, chú vội quay mặt vào phên nhà, đưa tay chùi mấy giọt nước mắt lăn trên hai gò má hốc hác.  Một đổi, chú quay lại, e ngại nhìn cha tôi, rồi nói:
      -"Bây chừ em phải về lo công chuyện.  Thôi, mong anh chị đừng có buồn lắm.  Theo em nghĩ, cháu còn nhỏ nhít chưa biết chi, có lẽ cọng sản bắt lầm, chắc sẽ cho về nay mai."
      -"Anh cũng mong thế".  Cha tôi nói. "Giờ em hãy về lo công việc. Khi nào có dịp nhớ ghé lại nhà anh chị.  Cảm ơn em nhiều lắm, nghe Tư."
                                                                                                                        
III. GIA ĐÌNH SAU NGÀY EM BỊ BẮT

    Từ ngày em bị bắt, gia đình chẳng rõ em bị giam ở nơi nào.  Có người đưa tin em đang ở trại tù Phước Hiệp (Tiên Lập), kẻ nói ở trại giam Phước Lãnh (Tiên Lãnh) bên kia sông Tranh, chẳng biết ở đâu là chính xác.
      Một hôm cha mẹ tôi nhận được lá thư em gởi về nhà.  Thư viết ngắn gọn:  "Trước hết cho con gởi lời hầu thăm sức khỏe cha mẹ cùng anh chị em.  Về phần con, nay đang cố gắng học tập cải tạo thật tốt, để sớm được sự khoan hồng của chính quyền cách mạng.  Sức khỏe của con lúc nầy vẫn bình thường.  Cuối thư, con xin cha mẹ gởi cho con một ít thuốc sốt rét, thuốc đau bụng ỉa chảy và mấy bộ đồ củ của con còn để ở nhà. Những thứ gởi cho con, đề tên con ở ngoài, xin cha hay chị Hai đem ra chợ Cây Cốc gởi ở đó rồi có người nhận mang lên cho con.  Con của cha mẹ, Nguyễn Đình Tri.
      Mẹ và chị Hai tất bật lo sắm sửa thức ăn và các thứ em viết trong thư. Khi xong, cha và chị Hai định đánh liều, băng bộ mang ra Cây Cốc, Tiên Thọ.
      -"Cha con ông không đi được mô."  Mẹ liền can ngăn.  "Ông là đảng viên Quốc Dân Đảng, còn con Hai là y tá tiểu đoàn 77 biệt động quân biên phòng.  Hai người ra đó là bị sụp bẫy liền.  Cọng sản bắt cha con ông, nếu không giết cũng bỏ tù rục xương.  Cứ ở nhà giữ thân. Việc gởi đồ cho con, để đó cho tôi lo liệu."
      May mắn, hai ngày sau, gần bên nhà có cô Năm Bé ra chợ Cây Cốc mua muối và mắm cái.  Mẹ nhờ cô giúp mang đồ theo, ra gởi cho em.  Mãi mấy tháng sau, gia đình lại tìm cách gởi một lần nữa.  Lần gởi nầy cũng là lần gởi đồ cuối cùng cho em.  Sau đó chẳng ai dám nhận giúp đem ra Cây Cốc vì sợ liên lụy, không bên Quốc Gia cũng phía Cọng sản nghi ngờ, gán ghép nào là phản động, tay sai, tình báo...
      Thời gian đầu em bị bắt giam ở trại tù cọng sản, cha mẹ hết sức lo lắng, buồn khổ.  Cha ngày nào cũng uống rượu say li bì.  Men rượu, hình như, giúp ông quên bớt đớn đau, vơi bớt thương nhớ đứa con còn nhỏ nhít bị tù đày.  Mẹ thì nhớ con khóc suốt. Mẹ khóc kể cả lúc ăn cơm, lúc đêm nằm thao thức không tài nào chợp mắt ngủ được.  Mẹ khóc kể cả lúc ra vườn hái chè,hái rau, hái mít...  Mẹ khóc lúc ra đồng làm ruộng, cấy lúa, nhổ cỏ, gặt lúa...
      Lúc nầy tôi đang ở trong quân ngũ thuộc chính quyền Quốc Gia và đang thụ huấn ở quân trường, chương trình học tập huấn luyện thật bề bộn, quân kỷ thật nghiêm ngặt, ít thời gian rãnh rỗi, khiến sự đau xót thương nhớ em, quên lãng bớt đi một phần nào.  Chị Hai đang là nữ y tá của một tiểu đoàn biệt động quân biên phòng trực thuộc quân lực Mỹ, căn cứ đóng ở trại An Phước.  Tại  trại An Phước, chị Hai cùng với hai nữ y tá, chị Chỉ, chị Tuấn và một vài y sĩ người Mỹ, bận rộn, vất vả lo cấp cứu, chửa trị thương binh được trực thăng hoặc xe cứu thương chở về từ các trận đánh.  Chị và đồng nghiệp nhiều khi tiếp cận với những đau đớn, thất vọng của những người thương binh nặng, họ bỏ lại trận địa một phần thân thể, hoặc tay chân mình mẩy bị dập nát phải cắt bỏ, hay mắt mù tai điếc... Không ít người hoàn toàn tàn phế, khiến cuộc đời còn lại thật chật vật não nùng, tuy họ còn sống, còn ăn uống, còn hơi thở, nhưng tâm tư buồn khổ, sinh linh con người coi như chết mỏi mòn, mai một.  Chị tôi thường ở bên cạnh họ, lo gắng sức điều trị, chú tâm săn sóc, an ủi  giúp họ bớt tuyệt vọng, khỏi tìm cách tự sát.  Đôi khi chị thầm chất vấn lương tâm mình, rằng việc làm của mình, giúp những người hoàn toàn tàn phế sống sót, đây là việc nên làm hay không nên, đạo đức hay độc ác vô đạo?  Loay hoay, bần thần suy nghĩ mãi, chị vẫn chẳng tìm ra câu trả lời thỏa đáng để lòng mình được chút yên ổn.  Lại không ít khi chị phải chứng kiến những cái chết tức tưởi, những xác quân nhân chở về bệnh xá còn tươi rói.  Đời sống mạng số của người lính trận quá ngắn ngủi chóng vánh, mới còn sống đó, vui đùa... yêu đời đó.  Thế mà họ đành phải chết trong những trận đánh một cách lẹ làng, không lời trăn trối.  Họ chết rồi, quê hương nầy vẫn "sớm nắng chiều mưa", vẫn bom đạn cày xới từng giờ từng ngày.  Dần dà, chị tôi trở nên cứng cỏi, chị ít khi buồn phiền, than vãn. Có lần tôi hỏi, sao những lúc sau nầy, tính chị thay đổi giống người đàn ông từng trải, lọc lõi lắm vậy?  Chị trả lời, mọi ủy mị buồn khổ chẳng giải quyết được gì, công việc y tá trong quân đội dạy chị cách sống ấy, giáp mặt với những hệ lụy khổ đau của con người, ta nên bình tĩnh sáng suốt, phát huy khả năng sẳn có, hòng cứu giúp họ vượt qua khỏi cơn nguy nàn.  Ngừng một lát, chị lại  nói tiếp:
      -"Việc em trai mình bị cọng sản bắt, lúc đầu chị buồn thương, nhưng dần dà rồi cũng nguôi ngoai, em thử nghĩ coi, buồn phiền chẳng giải quyết được gì, chỉ làm tổn hại tâm trí, sức khỏe của ta.  Việc rủi ro đã xảy đến cho em mình, hãy coi như sự việc đã rồi.  Trước mắt ta nên tìm cách gởi lên trại tù đồ ăn, thuốc men...  Giúp em đở đói, tránh bớt bệnh tật.  Không sớm thì muộn, có ngày em sẽ được thả ra khỏi tù về lại sum họp với gia đình, và biết đâu cọng sản bắt giam em ở nơi rừng núi hẻo lánh, xa tầm những trận đánh, những cuộc hành quân, thế nên mạng sống của em lại được bình yên."
      Tôi thì chẳng sống, chẳng suy nghĩ... được như chị.  Khi những nổi buồn, những cái khổ đến, tôi không tài nào gạt bỏ khỏi tâm trí. Tôi cưu mang, đón nhận chúng như những tất yếu của một nhân sinh, để chúng tha hồ ghì bám, giày xéo tâm can.
      Em trai tôi bị cảnh tù đày, dĩ nhiên làm tôi đau xót, ray rứt đeo đẵng, mãi khi sự khổ sở đến độ cùng cực, tôi mới phải vùng vẫy, xoay xở tìm cách hành động hoặc suy tư, hòng giảm bớt sự quẩn bách tâm trí để sống còn.  Những gì tôi đã suy tư trong thời buổi nhiễu nhương của cuộc nội chiến giữa hai miền Nam Bắc của đất nước, đến nay kiểm nghiệm lại, là hoàn toàn sai quấy, ảo huyền.  Nhưng dù sao, điều đó từng giúp tôi có được, ở thời đó, một điểm sáng hy vọng để còn sống được đến ngày nay, để viết lên những dòng nầy.  Thuở chiến tranh Nam Bắc, tôi đã nghĩ rằng loài người dùng chủ thuyết nầy chủ trương nọ, thiết lập nên phe tư bản và phe cọng sản đối đầu nhau, gây nên chiến tranh lôi cuốn đồng minh tạo sức mạnh, hòng giành giựt phần lợi về cho phe mình...  Nhưng họ đã là con người dù có độc ác, ích kỷ và thủ đoạn đến đâu, trong tận cùng đáy lòng vẫn còn một chút nhân ái, vị tha, công bằng.  Em trai tôi còn nhỏ, chưa hề làm gì thiệt hại cho phía cọng sản, em chẳng hề có trong đầu một ý thức chính trị phe phái nào.  Bởi thế tôi nghĩ, em phải được an toàn đến khi được thả ra khỏi trại tù trở về sum họp với gia đình.
      Lần hồi, tình cảnh gia đình tôi không còn như khi em tôi mới bị cọng sản bắt.  Cha tôi bớt buồn, ít uống rượu say mèm.  Mẹ bớt than khóc, mẹ chỉ khóc khi có ai nhắc tới hay hỏi thăm đến em.  Những ngày, những buổi cha không đi làm việc ở thị trấn quận lỵ, đều cùng mẹ ra đồng, ra vườn làm lụng, lo săn sóc vườn quế, thu hoạch tiêu chè, lúa khoai...
      Một hôm vào cuối ngày, mẹ đi hái chè ở vườn Ngoài vừa về, cha từ thị trấn cũng về đến.  Chị Hai đi làm y tá ở trại An Phước về sớm hơn. Chị cùng đứa em gái thứ bảy dọn sẳn bửa cơm tối ở nhà ngang.  Cha mẹ ngồi nơi hai ghế ở đầu bàn ăn, bốn chị em gái ngồi hai bên.  Mẹ vừa bưng chén cơm lên, mẹ liền khóc, mẹ bỏ đủa bỏ chén, quơ vạt áo lên chùi nước mắt.  Thấy vậy, cha tôi mặt buồn xo, gượng cười nói với mẹ:
     -"Nhà Thống, răng bửa ni lại khóc nữa rồi." 
      Ngưng một đổi, cha ngập ngừng nói tiếp:
      -"Chuyện đã qua. Con nó mãn hạn tù sẽ về, chứ có chi mà lo buồn mãi."
      Mẹ nghẹn lời, không nói không rằng, đưa tay chỉ hai cái ghế trống người, đặt bên cạnh bốn đứa con gái. Một đổi lâu giọng mẹ rưng rức, nghẹn ngào thốt lên:
      -"Cha con ông nghĩ coi, ai mà chẳng khổ, sáu đứa con đang sởn san chơm chớm, chừ còn ở nhà bốn đứa, còn một đứa ở tù, đứa nữa nhập ngũ đi lính quốc gia. Ai gây nên chiến tranh, đánh nhau, bắn giết, bắt bớ... thật độc địa.  Trời ơi!"
      -"Bà cứ nghĩ lung." Cha tôi phân trần. "Có chiến tranh phải có ngày hòa bình.  Thằng Tri chẳng có tội tình chi với cọng sản. Hai đứa con mình sẽ có ngày về.  Bà ráng giữ gìn sức khỏe, để còn sống mới thấy mặt hai thằng nối giỏi của bọn già mình, chứ mãi lo buồn, khổ sở, đỗ đau, bịnh hoạn là khốn lắm đó."
      Mẹ tôi đưa hai tay đập đập lên bàn, miệng nói nho nhỏ, như để vừa đủ cha nghe:
      -"Cũng tại nhà mình.  Ông vô Quốc Dân Đảng, lại làm việc cho chính quyền Quốc Gia, con Hai làm y tá cho Mỹ, còn thằng Bốn ở lính Quốc Gia.  Tôi nghĩ Việt cọng cầm Tù thằng Sáu của mình lâu lắm mới thả."
      -" Thôi đi bà ôi, đừng nghĩ lung."
Ngưng một lát, cha nói tiếp như để trấn an mẹ:
      -"Đầu ai chí nấy. Tôi và con Hai làm việc cho Quốc Gia, chứ thằng Sáu còn đang là học sinh, tội tình chi  đối với họ.  Thằng Bốn đi lính Quốc gia, làm nghĩa vụ; ở đời ăn cây nào rào cây nấy.  Hơn nữa, bên Cọng Sản họ cũng thường nói, ai làm nấy chịu.  Tôi nghĩ họ bắt lầm thằng con mình.  Bà cứ yên tâm, chắc họ sẽ thả con mình về sớm, nay mai."
      -" Thôi đi ông ơi " Mẹ phiền trách cha. " Trước đây, ông từng nói đúng, bây giờ ông lại nói ngược, nghĩ lung."
      Cha tôi bưng chén cơm, tay run run làm cơm vung vãi đổ lả chả trên bàn ăn. 
      Cha mẹ chỉ ăn lưng chén cơm, bỏ chén đủa đứng dậy, lên bộ ván nhà trên ngồi, cùng đưa mắt ngó lên.  Xa xa ẩn ẩn hiện hiện trong mây xám lẫn sương mù, núi Hòn Kẻm Đá Dừng đứng trơ trọi giữa trời mây hiu quạnh.  Ở vùng núi địa đầu huyện Trà My ấy, xứ rừng thiên nước độc, ma trơi vượn hú; biết đâu có trại tù, Cọng Sản đang giam giữ thằng con trai của cha mẹ.

IV. THÁNG NGÀY EM Ở TÙ CẢI TẠO.

      Đầu năm 1969, ở xã tôi có ba người tù cải tạo cùng trại với em lần lượt được thả cho về.   Đó là chú Lài ở thôn Phái Bắc, ông Sửu và ông Đệ ở thôn Hửu Lâm. Năm ấy các ông đều đã lớn tuổi, trên 55.  Riêng Chú Lài và ông Sửu là chỗ thân quen với gia đình, cha mẹ. Lúc ở tù, chú Lài được ban quản lý trại phân làm trại viên cấp dưỡng, tức là người nấu ăn cho anh em tù, còn Ông Sửu và ông Đệ đi lao động sản xuất.
     1 - Trại tù Suối Dưa.                                 
      Thời gian đầu, em tôi bị giam nơi trại Suối Dưa thuộc vùng núi rừng xã Phước Hiệp , quận Tiên phước.  Tên xã Phước Hiệp, sau năm 1975, chính quyền Cọng Sản đổi lại tên Tiên Lập như thời Việt Minh kháng chiến trước 1954.  Trại tù Suối Dưa ở trong một hóc núi hẽo lánh.  Xa xa trại, rải rác người dân tộc Kor sinh sống, nhà sàn lưa thưa xơ xác.  Lúc tôi còn nhỏ, thường nghe bà con ở quê tôi gọi người dân tộc ở đây là mọi Suối Dưa.  Những năm của thập niên 60, người dân tộc Suối Dưa, phần đông ngã theo Cọng Sản.  Năm 1968 người thuộc phía cọng sản gọi xã Phước Hiep là vùng "tự do" vì họ đã thiết lập được chính quyền tại nhiều thôn ấp ở xã nầy.  Số ít còn lại đang là vùng tranh chấp giữa hai phe.  Trại tù Suối Dưa được làm đơn sơ, mái nhà lợp tranh, phên vách bằng cây rừng, nhiều nhất là cây chà rang, cây săng, cây dền dựng đứng sát nhau, cột nẹp bằng dây mây, dây gắm; giường nằm cho trại viên cũng làm bằng cây rừng nguyên sơ, vạt giường được đan bằng tre nẹp.
      Khi mới nhập trại, em bị cùm một chân.  Có lẽ quản lý trại sợ em tôi liều mạng tìm cách trốn trại để về lại nhà, như một số trường hợp xãy ra trước đây, nên bắt em cùm lại cho chắc .  Thời gian nầy ở vùng Cọng Sản chiếm đóng, lúa gạo, lương thực phải dồn tối đa để cung cấp cho chiến trường đánh Mỹ và phe Quốc Gia, nên đời sống người tù cải tạo hết sức thiếu thốn, cơ cực.
       Mới mười lăm tuổi, em đang là học sinh lớp tám trường trung học đệ nhất cấp của quận.  Lần đầu tiên, em xa nhà mà phải chịu cảnh tù tội nơi chốn rừng sâu nước độc, lại bị cùm nằm ngồi một chỗ,  nhìn ra đâu cũng thấy rừng rừng núi núi trùng trùng, suơng mù bao phủ ngày đêm. Em nhớ nhà, nhớ cha mẹ, anh chị em quá chừng. Em nằm khóc suốt. Đến bửa ăn, chỉ được một chén lưng một phần cơm, ba phần  khoai sáo sắn lát, chan với nước mắm gương hay rắc muối trắng.  Mấy bửa cơm đầu khi mới ở tù, em ăn nuốt không vô, đành nhịn đói.  Một hôm chú Lài cấp dưỡng đem cơm đến , thấy chén cơm sáo khoai với muối trắng, nước mắt em rưng rưng, miệng mếu máo nói với chú:
      -"Chú Lài biết không, tết ni nhà tôi làm thịt con heo thiệt to, lại có cá sông, cá biển ê hề.  Giờ nằm đây, đói khát, nhịn thèm.  Thiệt là khổ sở hết sức, chú ôi."
      Em đang còn tuổi nhỏ, lòng dạ con nít, nghĩ sao nói thế. Chú Lài nghe vậy lo lắng vội khuyên ngăn em:
      -"Ở đây con phải kín miệng, giữ lời. Nói thế rủi cán bộ trại nghe được, cho con vi phạm nội quy trại tù phải đi nhà kỷ luật là khốn đốn lắm đó."
Sau đó em nghe lời chú dặn dò, giữ gìn cẩn thận lời nói, không còn trống trải, ruột để ra da bỏ vào như trước đây nữa.
      Dần dà ở trại Suối Dưa em bị muỗi rừng cắn, bị vắt núi hút máu, lại uống nước độc, thêm đời sống tù đày thiếu hụt.  Em lâm bệnh sốt rét ngã nước, đầu tóc rụng gần hết chỉ còn đôi sợi phất phơ, da vàng như nghệ, thân mình gầy ốm giơ xương.  Lúc nầy, em được tháo cùm, thì sức khỏe em kiệt quệ quá rồi.
      Vào một buổi xế chiều, em đang chống gậy đi dò dẩm tìm hái ít rau cải bay, rau dềnh, rau sam... mọc dại lưa thưa chung quanh trại giam, đem nhờ chú Lài luộc, ăn cho đở đói.  Bỗng nghe có những bước chân người đi vào, em ngước lên thấy hai du kích mang súng trường dẫn một người hai tay bị trói cắp ké sau lưng.  Một du kích đi phía sau cầm dây trói, tên kia đi bên cạnh người bị bắt.  Khi cả ba đi gần đến trại, em mới nhận ra người bị bắt là Trần Đình Y, đứa bạn học cùng lớp, con bà Hoa Ca ở cùng xóm.  Vừa thấy em, Y lộ vẻ mừng mừng tủi tủi khi gặp lại thằng bạn đang trong cảnh tù đày.  Tính  bạn em cũng lòng non, dạ trẻ quen hay đùa giỡn.  Y buộc miệng hỏi thăm em bằng một câu tiếng Anh: Heếlô, hoấu- arơ- dzu? (Hello, How are you?).
      Cán bộ quản lý trại và hai du kích nghe vậy, cho rằng bạn em có tư tưởng theo Mỹ, nên bắt đi nhà kỷ luật.  Nguyễn Đình Y bị biệt giam, bị cùm cả hai chân, cơm thiếu ăn,  nước uống lấy nơi rừng sâu độc địa, muỗi rừng cắn đốt ngày đêm.  Y lâm bệnh sốt rét, cuối cùng bị bệnh kiết lỵ.  Khoảng ba tuần sau, kể từ ngày bị bắt, bạn em kiệt sức chết ngay tại trại biệt giam. Nghìn năm gởi xương cốt nơi núi rừng Suối Dưa Tiên Lập.
     2 - Trại tù Đá Trắng.
      Những tháng ngày sau tháng Hai năm Mậu Thân 1968, tiểu đoàn 77 biệt động quân biên phòng (biệt kích Mỹ) phối hợp với đơn vị quân đội Việt Nam Cọng Hòa mở những cuộc hành quân giải tỏa một số vùng tự do của Cọng Sản ở hai xã Tiên Lộc và Tiên Lập.  Trại Suối Dưa em tôi đang tù cải tạo, phải dời lên trại cao hơn, đó là trại Đá Trắng.  Đường từ trại Suối Dưa đến Đá Trắng phải men theo đường giao liên, vượt qua đường núi, dốc cao trắc trở.  Em tôi khi ấy quá ốm yếu, lại bị lên cơn sốt rét ngày hai cử, nên đi đứng thật khó nhọc.  Thỉnh thoảng chú Lài và ông Sửu thay phiên nhau dìu em qua những khúc đường khó đi, nhưng rồi về sau cả hai đều yếu sức, chỉ còn có thể đi một mình, chẳng giúp được em. Em mệt quá, đứng lại, hai tay lần gậy ngồi bệt xuống đường. Tên du kích áp giải liền trở báng súng thúc vào hông em, miệng quát:
     -"Có đứng dậy đi không.  Đáng kiếp đời mầy."
     -"Anh cho tôi nghỉ một lát. Tôi bết sức, không thể đi nổi." Em tôi xin nó.
      Tên du kích lại hặm hẹ:
     -"Không được phải đi gấp, đường còn xa.  Phải đi, nếu không, trời tối, cọp hùm ra ăn mất xác. Có đứng lên không?" Anh ta lại lấy báng súng thúc vào hông em lần nữa.
      Em tôi cố đứng dậy, ráng sức lê bước.  Đi được một đổi em chẳng còn đi nổi nữa, đành đứng lại, bỏ gậy, đưa hai tay ôm ngực thở hổn hển. Tên du kích hầm hầm nổi giận, miệng hét to:
     -" Mi có ráng đi lên không, hay muốn nằm lại đây mà nghỉ.  Chỉ cần mi ra khỏi đường đi một đoạn, tau sẽ cho mi nằm nghĩ luôn ở đây.  Nghe chưa?"
     Nghe vậy ai nấy đều sửng sốt, vừa lo lắng vừa thương hại em.  Họ hết lời khuyên nhủ em ráng sức cố bước đi.  Mấy người tù trẻ tuổi còn chút sức lực, đi kèm hai bên nách tay dìu em lê bước.  Nhờ sự khuyến  khích  giúp đỡ của những người tù cùng cảnh ngộ, cuối cùng em cũng đến được trại Đá Trắng trước khi trời sập tối.
      Trại tù Đá Trắng thuộc làng Trà Nú xã Tiên Lập, giáp ranh vùng núi cao ngút ngàn của huyện Trà My.  Trại nằm trong một lũng hóc, nhìn ra chỉ thấy núi rừng bao quanh.  Ở đây ngày thật ngắn, đêm tối dài dằng dặc, sương mù khói núi, ám khí đan quyện đầy trời đất cả ngày lẫn đêm.
      Vì là vùng núi rừng hiểm trở nên nước suối, nước mạch rất lạnh và trong vắt kể cả mùa hè nắng nóng.  Nước nấu thường sủi bọt và rất lâu sôi, nước uống ở đây thật độc địa.  Mùa mưa cũng như mùa nắng, mỗi lần trại viên ra khỏi láng trại, lũ vắt rừng giống như những con đỉa ruộng con con, lẹ như chớp, búng lên người bám vào da thịt, nhất là ở chân tay, đôi khi rúc trong háng trong nách.  Vắt tìm những đường gân máu, bấu miệng cắn vào, hút máu một cách nhẹ nhàng, nên người bị vắt cắn ít khi hay biết.  Chỉ khi nào vắt hút no máu, chứa đen đầy bụng, mới nhả miệng, tự động lăn xuống đất, chui vào đám cỏ lá mục, ẩn mình, nằm im.  Trên da người chỗ miệng vắt cắn, máu cứ chảy ra hoài, rất lâu mới cầm. Nói đến muỗi rừng, ở đây nhiều lắm.  Mỗi lần lũ muỗi đánh được hơi người, chúng bay ào tới tấp đáp vào mình mẩy như có ai đó cầm nắm cát vãi vào người.  Đập đuổi lớp nầy, lớp khác lại bay tới, vội vàng hút máu vội vàng bay đi.  Trong láng trại thường đốt lá xông muỗi để chúng bớt bay vào.
      Những năm của thập niên sáu mươi, làng Trà Nú chỉ có người dân tộc Kor sinh sống và hầu hết họ giác ngộ Cọng Sản.  Những lần tù nhân cải tạo ở Đá Trắng trốn trại đều bị người Kor bắt lại, đem nạp cho ban quản lý trại giam.  Ở đây khí hậu, nước nôi độc địa, muỗi, vắt... dày đặc; người tù lại thiếu ăn, thiếu mặc.  Nhiều trại viên mắc phải bệnh hoạn, lắm khi bệnh nặng phải nằm liệt giường, không tránh khỏi cái chết.  Làm người ít ai không sợ chết, chốn tù đày chết chóc lại xãy ra thường hơn ngoài đời.  Ở trại Đá Trắng, trại viên rất sợ những điềm xấu mà họ gọi là điềm gỡ, giã như ban đêm nằm nghe có tiếng chim cú mèo kêu rúc lên ba hồi liên tiếp, hoặc nghe tiếng con ó thần cứ gọi cầm canh: Ó hòò ò.... Ngày hôm sau thường thường trong trại sẽ có người lìa đời.  Lúc ấy cả trại ai nấy đều buồn thúi ruột, lần nầy người bạn tù ra đi, biết đâu ngày mai sẽ đến phiên mình từ biệt mọi người.
      Đời sống của gia đình cha mẹ tôi, trước đây, tuy chẳng hề cao sang giàu có nhưng cũng đắp đổi cho chị em tôi sống được những chuổi ngày trẻ thơ thoải mái, yên ổn.  Oái ăm thay em trai tôi mới có mười lăm tuổi, cái tuổi lòng non dạ trẻ, cần tình thương của mọi người thân để em từng bước trưởng thành.  Thế mà em phải đành cam chịu cảnh tù đày.  Đời sống tù đày nơi miền núi rừng sâu hiểm, ăn uống thiếu thốn, nước nôi độc địa, làm sức khỏe em dần dà cạn kiệt.  Em ngã bệnh.
      Chú Lài ở toán cấp dưỡng rất thương em. Đôi lúc chú muốn cho em thêm một vài muỗng cơm, một ít lát sắn luộc; nhưng vì nội qui của trại quá nghiêm ngặt nên đành không giúp được em.
      Thường ngày, sau mỗi cữ sốt rét định kỳ, em tỉnh lại, cơn đói nổi lên cào xé ruột gan.  Em đưa mắt nhìn xuống nhà bếp, chờ chú Lài đi nhổ sắn ngoài rẫy đem về, là em chống gậy xuống xin chú cho hết những vỏ sắn chú vừa lột.  Em lấy que tre xâu lại đưa vào bếp lò nướng, ăn ngon lành.  Lại thêm, mỗi lần thấy chú  nấu cơm vừa sôi, em liền cầm gáo dừa xuống nhà bếp xin nước cơm chắt, uống cho đở đói. Chú Lài thấy thương hại  quá, nên bửa nào em đang lên cơn sốt nằm vùi mê man, chú đều để dành cho em nước cơm.  Hai chú cháu thương nhau, hủ hỉ với nhau.  Tưởng rằng, cả hai đều sống đến ngày được thả ra khỏi trại tù. Ngờ đâu...
     3 - Cái chết của em tôi.
      Hôm đó, vừa dứt cơn sốt rét, mồ hôi đổ toát ra như tắm, em tỉnh lại.  Cơn đói lại nổi lên hành hạ, em đưa mắt ngó xuống nhà bếp, thấy chảo cơm đã cạn nước, được dập lửa ngọn, chừa lại lửa than cho chín già.  Ở nhà bếp, lại vắng người, vì đói quá  thèm cơm nên cầm lòng không đậu, em liền ngồi dậy quơ cái gáo dừa, chống gậy xuống nhà bếp, đánh liều giỡ vung chảo cơm, múc được một gáo dừa vừa cơm vừa khoai sáo. Không ngờ, cán bộ trại bắt được, bảo em phải diễn lại  chuyện ăn trộm cơm từ đầu đến khi bị bắt quả tang.  Em bị kết cái tội ăn cắp, ăn xén của cải tập thể, là vi phạm nội qui của trại.  Cán bộ trại bắt em đem gáo dừa cơm đổ lại chảo, xong bảo ra trước sân nhà bếp cấp dưỡng.  Anh ta lấy hai hòn đá tru lăn to bằng hai đầu gối người lớn, bắt em hai tay cầm đá giơ thẳng lên khỏi đầu, phạt em phải đứng ngoài trời dang nắng.  Vì sống trong cảnh tù đày, lại bị đau yếu lâu ngày, sức khỏe em đã kiệt quệ, nên không kham nổi hình phạt của cán bộ.  Chỉ trong chốc lát, em té quỵ nằm mẹp dưới đất ngất xỉu.  Tên cán bộ nắm hai tay kéo em vào nhà kỷ luật.  Em bị biệt giam từ đấy.
      Ngày ngày em không được ra ngoài để xin chú Lài nước cơm chắt, vỏ khoai sắn, cọng thêm phần ăn trại viên phải kỷ luật bị cắt bớt.  Em đành cắn răng chịu đựng đói khát, thêm mỗi ngày hai lần sáng chiều, cơn sốt rét định kỳ nổi lên hành hạ thân xác.  Định mệnh khắc nghiệt đến thế vẫn chưa tha em.  Nằm ở trại kỷ luật đến đầu tuần lễ thứ hai, em bị đau bụng tiêu chảy, suốt ba ngày liền không cầm, cơ thể  hoàn toàn hết nước, khô khốc.  Em kiệt sức và trút hơi thở cuối cùng ngay trong trại biệt giam.
      Buổi chiều gần tối hôm ấy, chú Lài đem cháo cho em thì em đã chết rồi, liền báo cho cán bộ ban quản lý trại biết.
      Xác em được gói trong tấm chiếu manh em nằm thường ngày trước khi mất, bên ngoài được nẹp quanh bằng bảy thanh tre đài.  Đêm ấy chú Lài cột một bó đuốc, đốt sáng soi đường cho ông Đệ vác xác em lên một rẫy tranh của làng dân tộc Trà Nú, chôn em gần mộ ông Đình, cán bộ chế độ Sài Gòn, Ông Đình tù cải tạo cùng trại với em chết cách đó không lâu.
      Cuộc sống tù đày của em, bị giam cầm ở cả hai trại Suối Dưa và Đá Trắng đến ngày nhắm mắt lìa đời khoảng đâu hơn năm tháng.  Câu chuyện em tôi ở tù cải tạo nói trên, nếu không nhờ chú Lài và ông Sửu, hai người ở tù cùng trại với em kể lại; có lẽ trong gia đình tôi chẳng ai tỏ rõ được.
      Khi biết chắc chắn em tôi đã chết, cả nhà ai nấy buồn khổ rụng rời. Mẹ tôi chỉ biết than khóc kêu trời, gọi đất... Cha tôi tối ngày ra tiệm nốc rượu, say li bì rồi về nhà nằm vùi.  Khi tỉnh lại nhớ con mình chết oan, ông căm giận chửi rủa:
     -"Tổ cha bọn gây chiến tranh, lập ra chính nghĩa nầy nọ, gầy nên phe nầy đảng nọ, bày đặt nổi lên say máu bắn giết nhau chẳng nương tay... Bắt con người ta cầm tù cho đến chết. Con tau nếu có tội đã đành, đàng nầy con tau còn trẻ nít tội tình chi.  Độc địa quá, trời ơi!!!"
      La hét đến khan tiếng, ông lại ra tiệm bà Hoa Ca uống rượu tiếp.
      Gia đình tôi, ai nấy chìm ngập trong cảnh tang tóc khổ nảo.  Giá mà chết đi được có lẽ còn dễ thở hơn sống trong cảnh đau thuơng nầy.  Nhưng rồi chúng tôi khó mà chết được.  Phải sống, sống để chịu những cực hình...  Sống như là để trả những món nợ oan cừu, kiếp trước chúng tôi lầm lỡ nay phải gánh chịu nghiệp chướng...  Phải chăng???

V. HỒN EM VỀ THĂM NHÀ.

      Sáng sớm hôm ấy, ngoài trời mới tửng mưng rạng rạng, sương mù còn vãi đầy.  Mẹ tôi bưng thúng khoai lang xắt lát ra ngoài đường nhựa trước nhà, trải tấm bạt  ny lông  xuống đường đổ khoai lên trên.  Hai tay sanh khoai đều khắp, chờ nắng lên, phơi.  Đang cắm cúi, mẹ nghe có tiếng chân người đi tới, ngước lên mẹ thấy cô Tâm, con gái chú Mười Mày nhà ở gần Rừng Dương-Vạt Núi và sát chân núi Động Sinh.  Cô Tâm một tay bưng nách mũng giê chuối chín, trên đường đi chợ huyện.  Gặp mẹ cô liền nói:
      - "Bác dừng tay cho con hỏi chút chuyện, được không bác?"
      - "Ờ, có chuyện chi rứa cô Tâm?" Mẹ hỏi:
      - "Lâu nay, con chẳng biết hai bác có mấy người con trai, ạ?"
      - "Tôi còn một thằng, trước Bảy Lăm nó đi lính Quốc Gia, nay đi tù cải tạo ở xa, chưa thấy về. Cô ạ."
      - "Tại sao lạ kỳ vậy hè?".  Cô Tâm nói thì thầm như để chính mình nghe.  Ngưng một lát, cô chần chừ nói như kể lể với mẹ:
      - "Đêm qua, cở canh năm, vừa tỉnh giấc ngủ, còn mơ mơ màng màng, con nghe cửa nhà trên mở kêu kót két.  Con thấy một người con trai cao cao, mặt mày xanh xao hốc hác bước vào.  Nhận ra con, anh ta hăm hở hỏi: "Có chú Mười ở nhà không, cô Tâm?  Tôi lâu ngày mới về nhà nên ra đây thăm chú và mấy cô.".  Con lấy làm ngạc nhiên, giờ nầy trời chưa sáng trật, lại có người ghé nhà thăm sớm, lạ thật.  Để biết cho rõ, con hỏi:  Anh là ai mà quen biết gia đình tôi? Anh ta nói:  "Khi tôi còn ở nhà cô còn nhỏ, còn cô Hảo hơi lớn nhưng còn khờ chưa biết chi. Tôi là con ông bà Thống, nhà tôi ở trước Vườn Đợi, gần đường cái đó cô.".   Ngay lúc ấy, xao xác trong xóm tiếng gà gáy sáng, anh ta lơ láo đưa mắt nhìn khắp nhà, vẻ mặt hớt hải, anh nói với con: "Bây giờ, tôi phải đi.  Khi nào có dịp, tôi sẽ vào thăm chú Mười và mấy cô.".  Vừa bước ra khỏi cửa, anh ta đi đâu mất, không biết đi ngã nào.  Lúc đó, con ngó ra sân, trời đã sáng rạng đất, bèn vùng dậy vội vàng ăn ba miếng rồi bưng mũng đi chợ, may gặp bác ở đây, hỏi xem anh ấy có phải con bác hay không?
      Ngẫm nghĩ một đổi, mẹ tôi nói:
      -"Chẳng phải con tôi đâu cô.  Có thể cô nghe lầm, hoặc giả cô nằm ngủ thấy chiêm bao không chừng."
      Buổi chiều tối hôm ấy, chị Hai đi "tấn công đồng cỏ" ở xã Tiên Lộc, về đến nhà.  Trong lúc chị phụ với mẹ, nấu nướng bửa cơm tối, mẹ thuật ại chuyện cô Tâm gặp mẹ vào buổi sáng:
      -"Cô Tâm nói với mẹ, sáng sớm nay, em con được về, có ra thăm gia đình cô ta."
      -" Lạ quá, em được thả về, tại sao nhà mình không biết."                                      
      Mẹ nói:
     -"Hay là em con trốn trại."
      -"Con không tin việc đó.  Trốn trại thì còn dám đi thăm ai."
      Suy nghĩ một đổi, chị tôi nói tiếp:
     -"Để con ra nhà chú Mười, hỏi kỷ lại cô Tâm cho rõ ngọn ngành."
      Cô Tâm kể với chị tôi, y như lúc gặp mẹ buổi sáng.  Chị lại hỏi cô ít câu nữa, may ra biết rõ thêm:
      - "Lúc người ấy vào thăm chú Mười là mấy giờ thế cô Tâm?"
      - "Tôi chẳng biết mấy giờ, chỉ nghe gà đang gáy giục canh năm, ngoài sân trời mới mờ mờ sáng." Cô Tâm trả lời.
      Chị tôi lại hỏi:
      - "Ngoài ra cô thấy ở người ấy có gì khác lạ như cách ăn mặc, đầu tóc... gì gì nữa ở anh ta, làm cô để ý. Xin cô nói cho biết để tôi đoán xem thử."
Cô Tâm trầm ngâm một lúc, như cố nhớ lại:
      - "Anh ta chỉ mặc chiếc áo bà ba đen, quần đùi.  Đầu không đội nón mũ, tóc thì lưa thưa, miệng hút điếu thuốc, tay cầm một gói gì giống như gói kẹo hay gói bánh.  Còn nữa, trong túi anh ta có bỏ một bao nhỏ giống như bao thuốc lá."
Nghe xong, chị tôi lấy làm lạ lẩm, buộc miệng:
      - "Chẳng lẽ...!"
      Cô Tâm chưa rõ ý chị muốn nói gì, liền vặn hỏi:
      - "Anh ấy đúng là em của chị, phải không?"
      - "Không phải, cô Tâm ạ.  Tôi nghĩ cô nằm ngủ thấy chiêm bao chứ chẳng có ai vào thăm chú Mười vào giờ đó.  Thôi tôi về, mọi người đang chờ cơm tối ở nhà.  Cảm ơn nhiều nghe cô."
      Bửa cơm tối đã dọn sẳn ở nhà ngang.  Cha mẹ và ba đứa em gái quây quần quanh mâm cơm ngồi đợi.  Vừa thấy chị về đến, mẹ hỏi liền:
      - "Con ra có gặp được cô Tâm ở nhà không, Hai?,  Cô nói  thế nào?"
Chị tôi miệng lắp bắp, nói bắt ngang:
      - "Ôi!  Cha ơi!  Mẹ ơi! Thằng Tri, em con linh thiêng quá chừng."
      Tai cha đã nghễnh ngãng, nghe tiếng được tiếng mất, nên nóng lòng hỏi:
      - "Cái gì, ai linh thiêng.  Con nói cho cả nhà nghe thử?"
      - "Em con hiện hồn về, có ra thăm chú Mười Mày."  Chị tôi trả lời.
      - "Tại sao con dám quả quyết như rứa?" Mẹ hỏi.
      - "Thì ngày hôm qua, mẹ sai con xuống chợ huyện mua hương đèn, ghé lại tiệm thím hai Hường các chú, mua bao thuốc ruby và một gói kẹo đem về cúng em.  Tối đến hồn em ra thăm ngoài nhà chú Mười."
      Chị tôi nín bặt một đổi lâu, rồi lên tiếng nói tiếp, giọng chị rưng rức muốn khóc:
      - "Cô Tâm thấy em miệng đang hút thuốc, tay cầm gói kẹo, lại có bao thuốc bỏ trong túi.  Đúng y sì em về, còn nghi ngờ gì nữa.  Cha mẹ ôi!!!"
      Cả nhà, ai nấy đều buồn xo chẳng ai ăn nổi bửa cơm tối hôm ấy.
      Em chết rồi.Thỉnh thoảng, mẹ thấy em hiển hiện về trong giấc ngủ của mẹ.  Có đêm, mẹ vừa chợp mắt thấy em bận đồ đen rách rưới đứng thập thò ngoài cửa mắt láo liêng, chân dợm bước muốn vào nhà. Mẹ như nữa mê nữa tỉnh hỏi em, con về sao không vào nhà đứng chi ngoài cửa.  Em lặng thinh không trả lời, vẫn đứng ngoài không dám vào, nét mặt ủ rủ buồn xo.  Em đứng nhìn mẹ một đổi lâu, rồi quày quả bước xuống sân biến mất.
      Đêm ấy, sau khi thấy em về, mẹ tỉnh giấc, nằm thức trắng  mãi đến khi trời sáng, nhớ em, mẹ khóc suốt, hai mắt sưng húp.  Sáng ra, mẹ không đợi ăn cơm sáng, vội vàng bưng mũng đi bộ xuống chợ huyện mua hương đèn, và một xấp giấy màu để nhờ người dán một bộ quần áo. Xong, mẹ mời ông Lực tối ấy lại nhà cúng, đốt áo quần gởi cho em.
      Lại một hôm, mẹ đi đám giỗ bên nhà bà ngoại về đến nhà.  Lúc này trời đã xế chiều, đường về nắng nôi mệt nhọc. Mẹ nằm nghỉ ở giường nhà dưới, vừa thiu thiu chợp mắt, thấy em hiện về đứng ngoài hè, buồn bã nhìn mẹ chẳng nói chẳng rằng.  Một lúc em lẳng lặng đi đâu mất dạng. Mẹ tỉnh dậy, im lìm ngồi quay mặt vào phên nhà, ai hỏi gì mẹ đều lắc đầu chẳng trả lời…
            Từ ngày cô Tâm con gái chú Mười Mày thấy hồn em đến nhà thăm và mẹ thường thấy em .  Trong gia đình ai nấy đều tin rằng khi chết rồi, linh hồn em vẫn tồn tại nơi cỏi trần của người sống và luôn lưu luyến nhớ thương người thân và nơi sinh thành, nên hồn phách  tìm về thăm nhà để được gần gủi cha mẹ, anh chị em...
      Tính ra em chết lâu nay đã hơn mười năm, thời gian dài dằng dặc, nước mắt chúng tôi khóc vì em hầu đã cạn, buồn phiền hầu đã vơi.  Hơn thế nữa cứ đinh ninh nghĩ rằng: Bây giờ thể xác em không còn nhưng hồn phách vẫn tồn tại và thường gần gủi cùng chúng tôi, nên nổi đau trong lòng ai nấy được vơi bớt đi nhiều phần.  Có điều lạ lẫm khiến cho chị em tôi băn khoăn không hiểu nổi, chúng tôi muốn thấy hồn vía em về, dù trong giấc ngủ nhưng chẳng bao giờ. Có lần cả nhà quay quần sau bửa cơm tối, chị Hai tôi thắc mắc hỏi:
      - "Con không hiểu tại sao mỗi lần hồn vía em con về, chỉ có mỗi một mình mẹ thấy?"
      Nghe vậy, đứa em gái thứ bảy xen vào, hỏi:
      - "Anh Sáu khi sống thương mẹ nhất và mẹ cũng hết mực thương anh, nên chỉ cho một mình mẹ thấy được hồn vía anh về.  Có phải rứa không cha mẹ?"
      Cha tôi nãy giờ vẫn im lặng, chẳng hiểu ông đang trầm tư nghĩ ngợi điều gì, chỉ thấy mặt mày ông càng thêm khắc khổ hốc hác.  Ông đứng dậy đi lại bàn ăn, rót hết rượu còn lại trong chai ra ly rồi uống một hơi hết sạch và  trở lại chổ chúng tôi, ông nói:
      - "Thực ra, chuyện này cha hiểu chưa thấu đáo lắm về cỏi vô hình của người khuất mày khuất mặt.  Hơn nữa sự hiểu biết này,  đúng hay sai chưa hẳn."
      Nghe vậy, mẹ vội góp ý kiến:
      - "Sự việc con Hai hỏi, sức tôi chẳng hiểu ất giáp.  Nhà ni chỉ có ông may ra. Ông hiểu đến đâu nói ra đến đó cho các con biết."
Cha tôi tằng hắng lên mấy tiếng rồi bắt đầu giải thích:
      - "Theo ông nội các con cọng thêm cha đã được đọc một ít sách về vấn đề nầy.  Ta có thể hiểu như vầy: Cơ thể con người được tạo dựng bởi hai thành phần đó là âm và dương.  Nếu một người có phần âm trội hơn phần dương thì vía người ấy yếu.  Người yếu bóng vía hay thấy  ma hoặc bị ma dọa nhát.  Các con hiểu đến đó chưa?"
      Chẳng ai hiểu, nên chị tôi băn khoăn thắc mắc:
      - "Cha nói mấy chữ âm, dương, chữ vía chúng con nghe khó hiểu quá."
      Cha chậm rãi tiếp tục giải thích:
      - "Trong vũ trụ mênh mông của muôn loài, muôn vật, của những hiện tượng thì gồm có hai thành phần là âm và dương tạo thành.  Ví dụ nước là âm, lửa là dương; mặt trăng thuộc âm, mặt trời là dương; đêm âm, ngày dương; vân vân...  Con người chúng ta chỉ là một vũ trụ nhỏ bé nên cũng được tạo nên bởi hai thành phần âm và dương nói trên.  Còn vía là những phần có trên cơ thể chúng ta, giúp ta cảm nhận hấp thụ... những nhu yếu, những hiện tượng... Ở môi trường chung quanh ta. Ví dụ mắt ta là một vía, tai mũi miệng là những vía nữa. Con người từ khi còn nằm trong bụng mẹ đến khi trưởng thành cho tới già, vía được hình thành,  phát triển, rồi thoái hóa dần.  Cuối cùng vía bị hủy diệt sau khi con người chết.  Người chết chỉ còn lưu lại phần hồn.
      Trường hợp em con chết oan, chưa đến số, hồn phách chưa về được cõi khác, còn vất vưởng ở cõi trần gian gọi là hồn ma.  Mẹ các con vía nhẹ hay yếu bóng vía nên thường thấy hồn ma em hiện về và như cô Tâm chú Mười cũng thế. Còn một điều nữa, theo lời ông nội các con, người nhẹ bóng vía khi nằm ngủ thần hồn dễ thoát khỏi xác thịt nên có thể gặp được hay chuyện trò được với hồn ma, và người nầy ở trong làng xóm thường đem lại sự may mắn an vui đến cho kẻ khác."
      Cuối cùng, cha tôi nói gút:
      - "Sự hiểu biết của cha về vấn đề nầy đến đây đã cùng.  Sau nầy các con có gì chưa tỏ rõ nên tìm hiểu thêm ở ngoài đời cũng như ở trong sách vở."
      Câu chuyện giảng giải của cha tôi về tâm linh thần bí con người lúc sống cũng như sau khi chết, giúp chúng tôi càng thêm tin về hiện tượng, mẹ tôi và cô Tâm thấy vong hồn em tôi về thăm là có thật, chứ không phải nằm mơ, thấy chiêm bao hoặc vướng víu những ảo giác.  Thế là từ niềm tin nầy, gia đình cha mẹ tôi quyết tìm cho được mồ mã em, đem hài cốt về chôn cất gần nhà, để linh hồn em luôn gần gũi cha mẹ cùng anh chị em.

VI. ĐI TÌM MỘ EM ĐỂ HỐT HÀI CỐT

      Mấy lần, cha và chị Hai tôi đi bộ bương bả lên làng Trà Nú tìm kiếm mộ em nhưng chẳng thấy.  Trại cải tạo em tôi ở tù năm trước, nay không còn dấu tích nào sót lại.  Hỏi những người dân tộc, họ lắc đầu hoặc nói không biết nên đành bó tay, tìm mộ không ra.
      Những năm 1994, 1995..., ở huyện Thăng Bình có ông Chiến nổi ứng, tự xưng Tiên Ông giáng thế nhập xác phàm, giúp tìm mộ các liệt sĩ, bộ đội, cán bộ Cọng Sản chết trong cuộc nội chiến Quốc- Cọng.  Chị Hai tôi liền băng bộ ra Thăng Bình, đến gặp Tiên Ông cầu xin.
      -"Nhà ngươi có việc gì mà đến gặp ta, nói mau?" Tiên Ông trợn trắng đôi mắt, nói như nạt.
      Chị Hai vội chắp tay trước ngực, trả lời:
      -"Dạ thưa, con cầu xin Tiên Ông chỉ giúp mộ em trai con chết nằm ở đâu."
      Mặt ông tái mét, bọt miếng bọt mồm nhểu ra trắng hếu. Giọng nói trở nên khàn khàn, ông hỏi:
      -"Em nhà ngươi đi làm việc gì mà chết, không biết mồ mã?"
      -"Dạ, em con đi làm cách mạng."
      Ông Chiến Tiên Ông lại trợn mắt phồng mang quát:
      -"Nhà ngươi nói láo.  Ta phạt cho về nhà, ăn chay bảy ngày trở lại đây ta sẽ chỉ cho."
      Giữa lúc nầy, mẹ tôi đã già thường hay đau yếu bệnh hoạn, cha thì qua đời đã hơn ba năm rồi.  Tình cảnh gia đình thật đơn chiếc, túng bấn. Mẹ tôi có ít tiền dành dụm đem ra đưa cho chị Hai, mua chai xì dầu, nước tương, đậu phụng về ăn chay. Đúng bảy ngày sau, chị đạp xe hơn ba chục cây số ra lại nhà ông Chiến cầu xin.  Ông Chiến Tiên Ông cho biết mộ em chôn ở vạt đất của một làng dân tộc gần trại tù nơi em cải tạo trước kia.
      Chị Hai nghe Tiên Ông chỉ vẽ như vậy, nghĩ rằng rất khó tìm ra, nên  cuối đầu chắp tay, chị thưa:
      -"Xin Tiên Ông nói rõ thêm nơi chôn em con, mới có thể tìm ra mộ."
      Tiên Ông nói:
      -"Mộ em nhà ngươi nằm bên phải gần một ngôi mộ khác, trên đầu mộ có một hòn đá đen hình răng cưa.  Thôi đủ rồi, có gì chưa hiểu, không rõ, cứ việc lên trển, rồi sẽ có người giúp nhà ngươi."
 
      Chị đi coi bói ở Thăng Bình về đến nhà  ngay hôm đó. Mẹ  liền cậy người xuống nhà thầy Hy coi ngày giờ đi tìm mộ em để hốt cốt. Theo lời dặn dò của thầy, mẹ lo sắm sửa hương đèn, hai nải chuối, hai bộ đồ giấy và một cốc rượu.  Đây là lễ vật cúng Thổ Thần, ông thần cai quản nơi em qua đời, xin thần cho phép bốc mộ em.
      Tửng mưng sáng, cảnh vật còn mù mờ, chưa rạng đất.  Những người đi bốc mộ hôm ấy có chị Hai, ông Toản nhà ở thôn Mỹ An, Hậu và Trị con trai đầu của thiếm Tư Danh nhà ở xóm sau thôn Bình An.  Bốn người cởi xe đạp theo đường tỉnh lộ nhắm hướng Trà My đi lên.  Trị chở sau xe một cái quách (hòm nhỏ) dùng để đặt hài cốt.  Đến ngã ba Dương Yên, cách thị trấn Trà My khoản sáu cây số, họ rẽ trái, đi già một buổi đường thẳng thét mới đến được  làng dân tộc Trà Nú.  Trại tù Đá Trắng nay không còn một dấu tích, nên khó mà lấy mốc  đi tìm mộ ở loanh quanh đâu đó.  Hỏi thăm người dân tộc, phần đông gặp lớp trẻ, họ không biết hoặc chẳng hề để ý.  May mắn, một thanh niên Kor tỏ ra có cảm tình người kinh, anh ta mách bảo, nên vào gặp một người cao tuổi nhất trong làng tên ông Điệt, may ra ông biết mộ và chỉ cho.
      Trị thiếm Tư Danh còn trai trẻ rất xông xáo nói năng hoạt bác, đã từng là bộ đội tham gia mấy đợt đánh qua đất Miên.  Trị góp ý: Chị Hai, bác Toản, anh Hậu cứ ở ngoài sân để một mình tôi vào nhà, tìm lời nói chuyện với ông Điệt, hỏi thử xem sao.  Tôi biết làng nầy toàn là người theo chính quyền Cọng Sản, nếu nói em chị Hai đi tù cải tạo chết, chắc chắn ổng không chỉ mộ đâu.
      Khi thấy Trị từ nhà ông Điệt bước ra, chị Hai liền hỏi nhỏ:
      -"Ông ấy nói sao, em?"
      Trị vui vẻ đưa tay chỉ ra ngõ, hối thúc:
      -"Hãy đi theo tôi."
      Khi mọi người ra khỏi ngõ nhà ông Điệt, Trị nói:
      -"Lúc gặp già Điệt, tôi phải bấm bụng nói láo, đaị khái, em chị Hai là cán bộ Cọng Sản chết trong chiến tranh.  Tôi nói năng xong ro lại thêm mặc áo quần bộ đội, ông tin liền nên chỉ mộ.  Ông Điệt cho biết mộ ở vạt tranh của làng sát gần đây và ông còn quả quyết người chết không phải là dân làng nầy.  Như vậy chắc đúng rồi.
      Bốn người xuống rẫy tranh ở chân làng, cứ đi loanh quanh hoài, tìm khắp mà chẳng thấy mã mồ đâu cả.  Ai nấy đang lo lắng, bỗng thấy một người đàn bà tới gần.  Bà ta lộ vẻ ngạc nhiên khi thấy người kinh, nên hỏi:
      -"Các người lên đây có việc chi?"
      Chị Hai trả lời, đi tìm mộ người chết. Chị có biết ở đâu, xin chỉ giúp cho.  Thay vì trả lời, bà ta kể lể dài dòng:
      -"Khi tê cách đây lâu lắc, tôi có đẻ thằng con trai đầu lòng.  Lúc ấy, ban đêm con tôi nằm nôi không chịu ngủ, thường hay giựt mình khóc thét, dỗ dành cách chi cũng không nín, lại thêm con chó mực đứng chỗ cửa sủa nột, có khi chó sợ hải liền chạy vụt vào, rúc nằm dưới gầm, run rẫy tru tréo.  Tôi lo ngại quá nên đi coi bói, thầy cho biết có hai oan hồn, mồ mã họ nằm ở rẫy tranh gần nhà, không ai hương khói cúng kiếng.  Thầy dặn, phải về đắp đất vun lại mộ và thắp hương vái xin. Con cái sẽ hết khóc đêm.  Tôi nghe theo lời thầy, làm y. Thật linh như thần, từ đó con tôi hết bệnh, đêm ngũ ngon yên giấc, ăn chơi lớn khôn mãi đến bây giờ."
      Ngưng kể một đổi, bà nói gút:                                                          
      -"Tôi cũng là người kinh ở miền xuôi có chồng người thượng về sống lâu năm ở làng nầy, đôi khi tôi đã gặp hoặc nhìn thấy ma, nên chi tôi tin tưởng con người sau khi chết còn có linh hồn."  Nói xong, bà đưa tay chỉ nơi có hai ngôi mộ.  Có thể từ khi được đắp lại nấm đến nay đã lâu, mộ đã bị mưa gió bão bùng xói mòn thành bình địa, chỉ nhận ra một hòn đá đen trên đầu có khuyết mấy chỗ, gọi là đá răng cưa, đúng như lời Tiên Ông Thăng Bình dặn dò.  Ai nấy đều tin, đây đúng là mộ em trai tôi.
      Sau khi chị Hai tôi sắp đặt xong lễ vật, ông Toản đứng cúng xin Thổ Thần cho phép bốc mộ.  Mọi người cẩn thận nhẹ nhàng đào xới, kiếm tìm xương cốt em, nhưng mãi chẳng thấy đâu, đành phải hốt bảy nắm đất vừa đào lên, đem bỏ vào quách.
      Lúc sắp sửa chở quách đi về, người đàn bà chỉ giúp mộ trước đó, chạy tới hỏi:
      -"Đã hốt được cốt chưa?"
      Chị Hai tôi trả lời:
     -"Chẳng thấy..."
      Bà ta ngần ngại giây lâu, buộc miệng nói:
      -"Ở đây, thời buổi trước, ông ba mươi nhiều như nhái.  Mả người chết không có ai rào ngăn canh giữ, là mấy ổng xúm lại đào lên, giành nhau tha đi, ăn mất xác."
      Chị tôi buồn quá, cầm lòng không đậu, nước mắt chảy dòng, chị nói lời cảm ơn người đàn bà có tấm lòng... Bốn người vội vàng xuống chân rẫy tranh, trở ra đường. Trị chở theo sau xe cái quách, ở trong chỉ đựng bảy nắm đất thay cho phần xương cốt em tôi.
      Lần thứ hai, em được chôn cất ở quê nhà tại chân Đồi Dương -Vạt Núi, trong khu vườn Đợi nhà chúng tôi.

VII. THAY LỜI CUỐI

    Một lần nữa và cũng là lần sau cùng, mẹ thấy em về lúc mẹ lâm bệnh nặng nằm thiêm thiếp trên giường.  Khi tỉnh lại giọng mẹ hết sức yếu ớt,  mẹ ấp úng nói với chị Hai:
     -"Mẹ thấy thằng Tri, em con về đứng ngoài cửa ngó mẹ, nét mặt em con buồn lắm, nó khóc, mẹ thấy nước mắt em con chảy dòng.  Đứng một đổi lâu, em con quay lưng biến đâu mất."
      Sang ngày hôm sau, mẹ tỉnh táo lại hẳn, tinh thần mẹ thấy minh mẫn sáng suốt; nhưng sức khỏe  hết sức kiệt quệ.  Mẹ cho mời người thân thuộc,họ hàng đến để mẹ gặp lần cuối.  Biết vợ chồng con cái tôi đã đáp máy bay, đang trên đường về thăm mẹ.  Nhưng biết mình không chờ nổi thằng con ở xa.  Mẹ nói với con cháu đứng quanh giường bệnh:
      -" Thằng Xin, không kịp rồi..."
      Sau đó không lâu, mẹ ra đi một cách nhẹ nhàng tại bệnh viện Tiên Phước.
      Không biết chết rồi, linh hồn mẹ và em trai tôi có được gặp nhau ở cỏi an vui nào không.  Ở đó có khác hẳn nơi chốn trần gian, mà hai mẹ con đã nếm trải biết bao đau buồn, chịu đựng biết bao sóng gió bão bùng cuộc đời.

NGUYỄN ĐÌNH TỪ LAM           
(tác giả gởi)                                                                              


*


Image result for tranh em trai



KHÓC  EM

Mẹ khóc từng đêm,
khóc đêm dài.
Con ơi! con hởi! về đi con.
Mẹ đau đớn quá, ruột từng khúc.
Năm tháng chờ con, lắm mỏi mòn.
Hối hận trong lòng mãi con ơi,
mẹ không giữ được, mất con rồi.
Mùa xuân tàn tạ từ đây  mãi.
Mẹ sống mà như biệt cỏi đời.

***

Cha có thằng con tựa mụt măng,
lớn lên chớm chỡ, mộng vuông tròn.
Họ bắt con, con nào có tội,
giết giữa rừng sâu, xác chẳng còn.
Con chết, con chết. Mất con rồi.
Héo hắt ruột gan, cây núi Sấu,
Đau lòng, giòng lệ, nước  sông Tiên.
Con chết, con đã chết rồi.
Giang sơn sự nghiệp mà chi nữa,
núi lỡ, sông bồi chẳng mấy khi.

***

Em mất rồi như sao băng vụt tắt.
Anh hụt hẩng, bơ vơ một kiếp người.
Anh hận thù: chiến tranh, lòng người man trá.
Em có tội tình chi,
bắt em giam cầm đày ải,
hành hạ em đến chết,
vùi thây em nơi rừng sâu nước độc,
cho bầy cọp dữ giành ăn mất xác.
Em vĩnh biệt ra đi,
trời đầy u uất buồn thảm,
núi phủ sương mù dày đặc,
vườn Đợi, Đất Lớn nhà mình dế kêu thâu đêm,
đồng ruộng Cửu, lúa đứng đòng, lặng gió.
Em mất rồi, em chết rồi.
Đành đọan, bỏ quê nhà,
xa cha mẹ, giả từ anh chị em.
Tội nghiệp em lắm, em ơi!

***

Một đêm đầu Xuân, họ bắt em đi,
Bắt em đi tù đày lao khổ.
Em đành chết giữa rừng thiên,cọp hùm ăn mất xác.
Trời đất hởi, em tôi nào có tội tình chi,
sao độc ác hành hạ em tôi lắm thế.
Chị nhớ ngày xưa, lúc em còn nhỏ dại,
chị chăm sóc, bày vẻ em đủ điều...
Những cái áo cái quần học trò chị mua sắm cho em,
mỗi ngày một  ngắn thêm,
mỗi ngày em lớn khôn thấy rõ.
Em lại đẹp trai, lại tập tò đờn ca thi phú...
Thế mà, em phải chết dưới bàn tay con người độc ác.
Chị lặn lội đi tìm mộ em nơi trại tù năm ấy,
mộ em trống trơn, xương cốt chẳng còn.
Chị vái xin Cao Xanh.
Ôm bảy nắm đất mộ em vào lòng,
Khấn niệm như là thân xác hồn em,
Đem về chôn cất dưới chân Rừng Dương-Vạt Núi,
Để em gặp được vong linh ông bà cha mẹ,
và cận kề bên anh chị em thân thiết nhà mình ngày xưa.

***

Anh mất rồi.
Sông núi quê mình phủ màu tang tóc,
vầng trăng lặn tắt,
dòng sông Tiên lững lờ,
hòn đá trước sân, gục đầu nức nỡ,
đá cũng buồn, đá khóc theo em.
Anh chết rồi,
anh đâu còn, dẫn em đi giăng câu bắt cá,
đi chăn trâu, thả diều, hái trái;
ai đàn, ai hát em nghe...
Anh chị em mình như  sáu con chim cùng tổ;
có con chết thuở còn măng tơ, thiếu lông, yếu cánh;
hai con nữa tung cánh phương trời,
ba con ở lại đong đầy nỗi sầu ngày tháng củ.
Hơn mười năm em biền biệt xa nhà,
khi trở về, tóc đã ngã màu sương gió.
Ra khu Vườn Đợi, Đất Lớn ngày xưa,
anh em mình từng đào dế, nướng khoai...
Giờ, mộ anh nằm hiu quạnh
dưới chân Rừng Dương-Vạt Núi, mà xương cốt anh gởi tận đâu đâu.
Thắp cho anh nén nhang,
hương khói tỏa bay sầu.
Xót xa, đau buồn quá, anh ơi!!!

 
 Nguyễn Đình Từ Lam
(tác giả gởi)





*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content






 
 
 
 
 
 

       

              



                    
 
 
   
 
 
 
                                          
*



 
11033 Acacia Parkway
Garden Grove, CA 92840
Tel: 714 982-6979
Fax: 714 - 982-9307
 
Cindy Y. TranPharm. D
(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)
 
Trân Trọng Kính Mời
Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ
Thanks

 
scan_pic0035_0-content
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, January 24, 202110:37 AM(View: 52)
Bọn trẻ đang chơi đùa ầm ĩ bỗng bỏ chạy khi có một đứa kêu lên: kìa, bà chúa Hời, bay ơi! Từ xa, một người đàn bà cao, gầy và thẳng như một cây gậy đang gõ
Friday, January 22, 202112:52 PM(View: 72)
Rồi cuộc thi cũng kết thúc. Bạn bè chào nhau hẹn mùa thi sang năm sẽ gặp. Mỗi mùa thi họ được điều đến một ngôi trường làm một công việc nhàm chán: giám thị phòng thi, đó cũng là dịp gặp lại
Saturday, January 16, 20218:05 AM(View: 123)
Vì thế khi hỏi nhà Hai Cua Đồng thì sẽ có ngay một cậu nhóc dẫn bạn đến tận nhà. Không phải chị Hai là người nổi tiếng hay giàu có gì, thậm chí chị khá nghèo so với những người khác và hình thức thì cũng không hơn ai. Không nhiều người biết tên thật của chị nên ngày từ nhỏ, khi chị chuyên đi bắt cua bán cho mấy bà
Thursday, January 14, 20217:19 PM(View: 188)
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon,
Monday, January 11, 20216:08 PM(View: 223)
Giờ bận rộn buổi sáng của cantin xong, chỉ còn vài lao động trại ngồi phì phèo. Tứ khoá ngăn kéo, bước ra ngoài hút thuốc, nhìn mông lung. Toàn trại không thấy bóng người. Trại không có cây lớn, mương chia từng khu, từng khu lán. . Đằng xa kia, sân hai bên có hai con gà.