DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,211,993

Đôi nét về Khóa Nguyễn Trãi 2 SVSQ/CTCT/Đà Lạt

Tuesday, September 6, 201112:00 AM(View: 19883)
Đôi nét về Khóa Nguyễn Trãi 2 SVSQ/CTCT/Đà Lạt

Đôi nét về Khóa Nguyễn Trãi 2 SVSQ/CTCT/Đà Lạt


blank

TT/VNCH Nguyễn Văn Thiệu gắn cấp bậc Thiếu Uý cho
Thủ Khoa NT2 Hồ Ngân


Sau cuộc tấn công tàn bạo, đẫm máu Tết Mậu Thân,1968 của Cộng Sản Bắc Việt vào hầu hết các thành phố, đô thị Việt Nam Cộng Hòa, đã cướp đi hàng chục ngàn sinh mạng thường dân vô tội… Lệnh Tổng Động Viên đã được ban hành và hàng hàng lớp lớp thanh niên, sinh viên đã rời bỏ bút nghiên, việc làm… gia nhập Quân Đội, quyết tâm chặn đứng làn sóng đỏ Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam.

Trong bối cảnh sục sôi ấy, Khóa 2 SVSQ/Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị/Đàlat đã được mở ra và tiếp nhận 397 SVSQ, sau khi đã trải qua một kỳ thi tuyển gay go, tranh đua trên 2 ngàn ứng viên từ khắp 4 Vùng Chiến Thuật. Họ là những thanh niên, sinh viên các trường Đại Học, xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung, đã thi đậu và nhập khóa. Họ đã từ bỏ cuộc sống dân sự thoải mái để bước vào cuộc sống gian khổ, gió sương, để thực hiện hoài bão: trách nhiệm người trai thời loạn.
«Quốc Gia Hưng vong, thất phu hữu trách.»

Khóa 2 SVSQ nhập ngũ chia làm 2 đợt:
- Đợt 1 vào tháng 10 năm 1968 và đợt 2 vào tháng 12 năm 1968, sỉ số : 397 SVSQ
- Ngày mãn khoá: 19-2-1971 với 386 tân Thiếu Uý tốt nghiệp.
- Thủ khoa: NT2 Hồ Ngân

blank

Thù Khoa Hồ Ngân tháp tùng cùng TT/VNCH Nguyễn Văn Thiệu duyệt hàng quân
trong ngày Lễ Mãn Khóa 19-2-1971 tại TĐH/CTCT/Đà Lạt


Trong thời gian thụ huấn tại trường, Khóa 2 SVSQ/CTCT đã lập được những thành tích như sau:
- Đẩy lui cuộc tấn công của Việt cộng vào Trường đêm 31-3-1970 của VC, đã khiến một số tu sĩ Phật giáo, Công Giáo và Tin Lành đang thụ huấn tại trường bị sát hại, cùng 5 SVSQ đã hy sinh. Một số SVSQ được tưởng thưởng huy chương.
- Xuất sắc về Văn Nghệ và Thể Thao, nổi tiếng tại Đà-Lạt và Quân Khu 2
Sau 2 năm, 4 tháng, 16 ngày miệt mài sách đèn, được trang bị kiến thức Đại Học, được tôi luyện thân thể khoẻ mạnh, được học về Quân Sự và Chiến Tranh Chính Trị, 386 SVSQ đã tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy Thực Thụ Hiện Dịch.


blank

Quan cảnh Vũ Đình Trường trong ngày tốt nghiệp (19-2-1971)


Các Tân Thiếu Uý được tung ra khắp 4 Vùng Chiến Thuật, từ Bến Hải đến Cà Mau. Họ có mặt và kiên cường chiến đấu trên mọi mặt trận, trong mọi quân binh chủng. Họ đã tạo được biết bao chiến công oanh liệt.

Nhưng tiếc thay, vận nước đến ngày lụi tàn. Họ đành buông tay súng trong lúc khí thế còn cao ngất trời xanh! Họ đã phải tan đàn xẻ nghé.
Tính đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, Khóa 2 SVSQ/Đại Học CTCT /Đàlat đã có trên 70 Sĩ Quan hy sinh trong cuộc chiến chống cộng sản, vì Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.

Sau 40 năm tốt nghiệp, những cựu SVSQ Khóa Nguyễn Trãi 2 của ĐH/CTCT/DALAT lại quây quần nơi đây, giữa Little Sài Gòn, CA, Thủ đô của Người Việt tị nạn cộng sản, để cùng ôn lại chặn đường đã qua, những công việc đã hoàn thành… Chúng tôi không hổ thẹn. Chúng tôi đã không phí tuổi thanh xanh. Chúng tôi đã chiến đấu ngoan cường cho Tổ Quốc tồn sinh, cho Nền Dân Chủ tươi đẹp và cho muôn dân ấm no hạnh phúc.


blank

Hình ảnh các SVSQ/CTCT/NT2 trong tiểu lễ mùa hè


Mừng 40 năm ngày Mãn Khóa, chúng tôi vẫn mang trong lòng Niềm Hãnh Diện, Niềm Tin Tưởng: Quê Hương Việt Nam sẽ sạch bóng quân thù, Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ bị tiêu diệt, Tổ Quốc Việt Nam sẽ trường tồn, Đất Nước Việt Nam sẽ phồn vinh, tươi đẹp và quốc dân VN sẽ được sống Tự Do, An Bình, Hạnh Phúc trong một tương lai rất gần.


May 28 2011
NT2 Trần Yên Hòa
(Viết theo tài liệu cung cấp
của NT2 Ngô Bá Lai, VA)



KHÓA 2 THƯƠNG NHỚ

 

Năm 1968, tôi là giáo sư dạy giờ tại một trường Trung Học quận lỵ miền Trung, thân phận của giáo sư tư nhân dạy giờ cũng ''hẻo'' lắm, dạy 3, 4 tháng mới có lương, mà tay hiệu trưởng chỉ tốt nghiệp sư phạm Qui Nhơn, ra dạy tiểu học, sau đậu được văn bằng Tú Tài đôi nên được đề bạt lên làm hiệu trưởng. Mỗi lần vào phòng hiệu trưởng họp, ''tay'' nầy hay nói ''xin mời quý thầy giáo sư tư nhân dạy giờ ngồi'' để phân biệt với mấy thầy tốt nghiệp sư phạm. Tôi nghe cũng tức lắm, nhưng biết thân phận mình nên đành làm thinh, trong lòng thì cứ nghĩ đến cách chuồn khỏi chốn nầy. Sau đó mấy tháng, luật Tổng Động Viên ban hành, các giáo sư lứa tuổi sinh năm 47, 48 như tôi đều lần lược được gọi trình diện nhập ngũ các khoá Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Khi Trường Đại Học/Chiến Tranh Chính Trị/Đà Lạt ra thông cáo tuyển SVSQ khoá 2 là tôi nộp đơn thi ngay, không do dự. Dù gì cũng là một Trường Đại Học, tôi thích văn học, báo chí nên chữ CTCT quyến rũ tôi lắm, lúc đó còn quá trẻ để không suy nghĩ gì nhiều hơn và tôi cũng mê mấy bộ đồ đi phép của Sĩ Quan Đà Lạt lắm. Khôi (NT1Trần Kim Khôi) là bạn học với tôi hồi trung học, nay đã vào Khoá 1, năm 1967 xuống Sài Gòn diễn binh, bận bộ đồ Đại lễ và đồ dạo phố trông đẹp quá. Thế là tôi mê, đi thi và đậu.

Cuối năm 68, khoảng tháng 10, trời miền Trung tháng đó mưa dầm dề, có bão và lụt nữa, tôi đang ở nhà cha mẹ tôi ở Tam kỳ thì Kim Yên từ Đà Nẵng về, đến nhà tôi báo tin,''Anh đậu CTCT rồi, ra Đà Nẵng trình diện gấp''. Thế là tôi lo chuẩn bị khăn gói lên đường. Ngày hôm sau, tôi và Yên chạy trên chiếc Suzuki của tôi ra Đà Nẵng, trời mưa lụt dữ dội, xe chạy qua Hương An, Bà Rén, Cầu Đỏ, những nơi nước băng qua Quốc lộ 1, tôi phải xuống xe dắt bộ. Tội nghiệp Yên, trời rét cóng, thân học trò yếu ớt mà phải lội bộ qua những chỗ nước xoáy làm cô bé suýt ngã nhào. Xe tôi bị nước vô máy phải chùi bugi mấy lần, thất hú vía, thuở ban đầu vào lính đã thấy khổ rồi. Tôi ra đến Đà Nẵng, vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I Khối Chiến Tranh Chính Trị trình diện, may cũng còn kịp, người sĩ quan coi hồ sơ và nói: ''Có một toán trình diện trước đi rồi, anh sang Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập ngũ với đợt sau''. Thế là tôi được chuyển qua Trung Tâm 1/TMNN.

Lần đầu tiên được phát bộ quần áo lính, thật sự tôi buồn bã quá, thế là tôi bắt đầu cuộc đời quân ngũ rồi, từ giã cha mẹ già, từ giã người tình yêu dấu, từ giã những đứa học trò thân thương ở trường quận lỵ, lòng tôi cũng bùi ngùi lắm. Câu hát ''Người ơi quan hà xin cạn chén ly bôi '' không quyến rũ tôi được nữa.

Vào TT1/TMNN, cùng đi CTCT với tôi có mấy tên như Bích khều, Trương Hội, Lữ Châu, Lê Quang Huỳnh, Trần Thanh Ngọc... Bích khều hay đánh lộn và hù dọa, nhưng tôi ''câm miệng hến, tránh voi chẳng xấu mặt nào”, tôi không thích đánh lộn, tôi đang nghĩ đến ''em của tôi'' và buồn. Ở đây một thời gian, đợt 2 được lên máy bay quân sự chuyển vào Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, trại tiếp chuyển Nguyễn Tri Phương. Đợt 1 đã được huấn luyện bên Liên Đoàn Khóa sinh, còn tụi tôi chưa có khoá nên nằm chờ. Tháng ngày nằm chờ ở trại Nguyễn Tri Phương thật ''rầu hết biết''. Ở đây cứ đi ra đi vào suốt ngày, may thay sau đó tụi tôi được về phép thăm gia đình gần nửa tháng, hết phép mới vào nhập khóa.

Đi lính là gian nan vất vả, mà là lính hiện dịch CTCT nữa, nên càng được chọn lọc kỹ càng hơn, có danh sách thi đậu rồi mà trước khi nhập khóa còn phải thi ''oral'' nữa chứ. Các thầy trong Bộ Chỉ Huy Trường ĐH/CTCT kêu tên từng người lên để đo chiều cao, phải trên 1,6 m mới đủ tiêu chuẩn và phải nói về một đề tài cho sẳn (bốc thăm). Tôi may mắn qua trót lọt, có những bạn không đủ thước tấc hay ăn nói lắp bắp bị đánh rớt buồn xịu mặt, chỉ còn con đường qua Thủ Đức thôi.

 Dân CTCT tụi tôi được vào chung một Đại Đội, Đại Đội 94, Tiểu Đoàn Nguyễn Huệ do Trung uý Trần Thế Phong chỉ huy. Các Trung Đội Trưởng là Thiếu uý Thịnh, Chuẩn uý Cường cũng ''hách ra phết'' . Đời quân ngũ bắt đầu từ đây với bài hát ''Tiểu Đoàn Nguyễn Huệ sống mạnh sống hùng'', bắt đầu biết hít đất, biết chà láng các giao thông hào bằng ga-men inox, biết thế bắn nằm thủ thế, biết bồng súng chào. Buổi sáng khi tiếng còi báo thức vang lên thì tụi tôi phải tức tốc nhãy xuống giường ngủ, vệ sinh qua quít rồi ôm ga-men ra chà láng mấy giao thông hào, tôi nghĩ, ''quân đội tập chi những điều lạ lùng'', nhưng sau nầy mới thấy có lý, là người lính cần phải học đủ những điều nhanh lẹ nhất. Tôi nhớ ở Quang Trung, mỗi lần đi bãi về, buổi trưa đại đội đang đi một, hai, ba, bốn, tay bồng súng chào ngon lành, sắp về tới doanh trại nghỉ ngơi mà nhìn thấy Thiếu Tá Trần Văn Hiến, Tiểu Đoàn Trưởng, ra đứng nhìn với cặp kính đen ''ngầu không thể tả'' là tụi tôi ít nhất cũng phải đi vòng sân Tiểu Đoàn 5 lần, mệt ''bá thở'' thôi.

 Sau 9 tuần huấn luyện tân binh, đã thấm mùi lính là thế nào rồi, tụi tôi được Trung uý Nguyễn Tâm Miên "dẫn độ" về Đà Lạt. Những ngày ở Quang Trung đã để lại trong lòng tôi bao nhiêu là kỹ niệm như thứ bảy, ch nhật, nếu được phép thì về Sài Gòn chơi, nếu không có phép thì được đón gia đình lên thăm ở Vườn Tao Ngộ. Tôi thì ở xa nhà nên thường hay đi theo Trần Thanh Ngọc về nhà người em vợ của Ngọc ở đường Nguyễn Cảnh Chân, ăn uống vui chơi rồi về lại trại, sau khi ghé thăm ''khu tiếp huyết'' chút xíu . Ở TTHL/QT có những hàng bã đậu lá rơi đầy đường đi, đầy giao thông hào, những buổi trưa nằm nghe tiếng trái bã đậu rơi rắc rắc, lòng tôi buồn và nhớ nhà không sao kể xiết, nhớ cha mẹ và người em thơ dại,''cô bé học trò áo trắng tóc đen, ngó vào hàng rào kẽm gai bằng đôi mắt nai ngơ ngác, từ khu rừng chim khuyên''.

 Chuyến máy bay quân sự chở chúng tôi từ phi trường Tân Sơn Nhất về Đà Lạt do Trung uý Miên hướng dẫn đã đưa tôi về một cuôc sống mới, cuộc sống của SVSQ/CTCT/Đà Lạt.

 Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt, ''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xĩu rồi. Khi các niên trưởng hô, ''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang balô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá tôi phải ''giả chết'' nằm im, mặc kệ những tiếng hô ''man rợ'', nằm nghỉ cái đã. Tôi nằm thiếp đi, ba lô trên vai lật nghiêng, xắc ma-ranh văng ra xa, những tiếng hô ''chạy đi, đứng dậy chạy lên'', đâu đó văng vẳng bên tai, rồi những thùng nước lạnh được tạt vào mặt, vào người. Nước lạnh làm người tôi tỉnh lại, ''chạy lên, đứng dậy chạy lên'', tôi lê thê lếch chạy.

 ''Huấn nhục, huấn nhục'', đó là một kỹ niệm, một chặng đường mà suốt đời quân ngũ ta không bao giờ quên được. Từ những ba cơm trong phạn xá với những trò, ngồi ăn thế vuông góc, đọc thư người tình, hít đất vào thế hàng trăm cái, hít trật thế bắt đầu đếm lại, phạt dã chiến, nửa đêm ba lô súng đạn đầy đủ cấp số trình diện Niên Trưởng để được ''quần suốt đêm''. Thôi đủ mọi trò thở không ra hơi và cái gì cũng gật. Những ngày đó như một ''vết hằn năm tháng'' mà vết hằn thật hào hùng, để cho ta được trưởng thành, để cho ta ngẫn mặt, để không một cái gì ta không vượt qua được, ba tháng huấn nhục dài như hàng thế kỷ cuối cùng rồi cũng qua đi.

 

 Khoá 2A, 2B - TIỂU ĐOÀN 2, TIỂU ĐOÀN 2

 

 Khi còn đang bị huấn nhục tả tơi, nhìn ''đám lên trước'' đã gắn Alfa, quần áo thẳng nếp, phu-la xanh, bê-rê xanh đậm đội lệch, đi từng hàng rập ràng, tay ôm ''sơ-mi'' đều bước đến Đại Giảng Đường trong Mùa Văn Hoá, tôi cũng thấy phấn khởi lắm, tự nhủ rằng ''rồi mình cũng như vậy thôi''. Nhưng những lúc tụi nó đi ngang, chỉa miệng sang nói lén ''Chào huynh trưởng đi chứ, tụi bay là khóa đàn em mà, khoá 2B'' tôi nghe cũng nghe giận cành hông, nhưng đang bị huấn nhục thôi đành chịu. Tôi nghĩ ''Khóa 2 là khóa 2, không A không B gì ráo trọi, mới hơn mấy tháng mà đã lên mặt, huynh trưởng gì, chỉ có dân trừ bị Thủ Đức mời gọi nhau là huynh trưởng, chứ dân Hiện Dịch chỉ có "Niên Trưởng''. Nhưng nghĩ lại cũng thương tụi nó, những lúc có dịp ''quan hệ bất hợp pháp'', tụi nó cũng chỉ vẻ những đường đi nước bước để khỏi bị ''dợt '' nhiều.

 Đến Đêm Gắn Alfa, thật là một đêm huyền nhiệm của đời ta. Ai đã sống qua những giây phút thiêng liêng đó mới cảm hết những rung động của quả tim mình. Đêm Alfa làm ta lớn lên, làm ta chất ngất tình cảm với quê hương đất nước. Đêm Alfa huyền hoặc như đưa ta vào một thế giớI thần kỳ của những Thiên Anh Hùng ca, mà ta sẽ là những hiệp sĩ ra đi trừ gian diệt bạo, như âm vang khúc quân hành : ''Nào bao hùng binh tiến lên, bờ cỏi, vang lừng câu quyết chiến...''.

 

 Năm đầu tiên tôi ở trung đội 9, Đại Đội A do Trung úy Nguyễn Tâm Miên làm Đại Đội trưởng, trung đội tôi có những tên như Võ Văn Hiên (điên) Nguyễn Ngọc Hải (nhạc) Chiêm Sơn Hải, Lê Văn Ninh (gồ ghề) Trần Thanh Ngọc, Lê Đình Cường, Nguyễn Bửu... Bộ Chỉ Huy nhà trường đã chia ra làm 2 Tiểu đoàn 1 và 2, không khoá 2A, 2B gì cả. Bắt đầu từ đây, 2 tiểu đoàn SVSQ sống, luyện tập quân sự cũng như văn hoá và CTCT, thi đua đủ các bộ môn như văn nghệ, thể thao, võ thuật...

 Thật là ''trời cao có mắt'', ở đâu cũng có anh hùng, nên ở Tiểu Đoàn 1 có một Trần Ngọc Hoàn ''sư tử già'' lẫm liệt oai phong trong những bài viết chủ đề, một Đào Quang Hùng, tay nhạc trưởng xuất thân từ trường dòng, chỉ huy Ban Hợp Xướng rất xuất sắc, một Nguyễn Quang Huy giả cô gái Bắc kỳ chít khăn mỏ quạ, bận áo tứ thân, trong những đêm nhạc chủ đề như ''Lời Nguyền Sát Thát, Con Đường Cái Quan'' thì Tiểu Đoàn 2 cũng có Ban Tam ca Lê Quang Huỳnh, Nguyễn Ngọc Thuyết, Hoàng Đăng, có Nguyễn Đức Phương giả gái giống y hệt, có Bùi Ngọc Thạnh cũng giả cô gái "Bắc Kỳ nho nhỏ" ngày xưa, đâu có thua ai, có tay đạo diễn Nguyễn Ngọc Mạnh cũng có nét ra phết, cho nên một bên 8 lạng bên thì nửa cân .

 Về bóng chuyền, Tiểu Đoàn 1 có Nguyễn Xuân Sử, Ngô Bá Lai (bá láp) là tay đập bóng thần sầu, thì Tiểu Đoàn 2 có Đào Cát, cũng là tay đập bóng kinh thiên động địa, có một Chung Gia Phong nâng bóng tuyệt cú mèo, chính xác 100% để Đào Cát làm mưa làm gió. Về bóng bàn thì có Trần Văn Mười, Ngô Minh Thảo cũng là những tay cự phách, cho nên cuối cùng cuộc tranh tài trong hai năm là không ai thắng ai và đến năm thứ hai, để cân bằng tỉ số (quân số chứ), Bộ Chỉ Huy cho ''xào bài'', trộn đều quân số hai Tiểu Đoàn, cho những đứa nào còn có tư tưởng chia rẽ khoá 2 A, B ''hãy quên đi điều đó''.

 Năm thứ hai, tôi được đổi về trung đội 1, thuộc Tiểu Đoàn 1 do Trung Uý Trần Đình Thản (Tony Thản) làm Đại Đội trưởng. Trung đội tôi có những tên như Trịnh Tùng

(sữa), Trần văn Hoàng, Nguyễn Hữu Hiền, Nguyễn Thái Hiệp, Trần Phát Đức... Trịnh Tùng thuở đó ''sữa lắm'' chứ không ''bề thế'' như bây giờ.

 Tôi thì chỉ có viết văn, làm thơ nên không có bộ môn nào xuất sắc, nhưng vì '' tình hình chiến cuộc'' nên tôi cũng ''bon chen''vào Ban Văn nghệ trong ''Ban Hợp Xướng'' để lên sân khấu ''nhắp môi'' và được chụp hình để gởi về khoe với em và để cuối tuần được thưởng phép ra Đà Lạt vi vút. Còn về thể thao, tôi chơi được bóng chuyền, nhưng là tay nâng bóng, tôi không ''ki'' bóng được nên không được xử dụng mấy, nhưng tôi cũng '' bỏ nhỏ'' với Đào Cát ghi danh sách có tên tôi trong đội bóng để những hôm có tập dượt được nghỉ tạp dịch, hoặc để được ra phố Đà Lạt. (nhưng tôi chơi banh ''độ'' thì khá lắm, đánh banh ''độ'' không cần quy luật, chỉ cần ''chụp git, bốc hốt'' - theo nghĩa đen - là được thôi, cho nên tôi đã thắng nhiều độ rất hào hùng).

Tôi cũng xin kể thêm về bòng tròn có Nguyễn Công Ngởi, Trần Văn Quá, Nguyễn Xuân S, Huỳnh Long, Nguyễn Hữu Son... cũng là những tay kiệt xuất khiến đội bóng Đà Lạt - Lâm Đồng hay đội bóng của trường Võ Bị Quốc Gia cũng bái phục. Đứng trên bình diện trung dung mà nhận xét thì Trường ĐH/CTCT nổi tiếng được là nhờ những đêm Văn nghệ chủ đề quá hay và những lần tranh giải thể thao lúc nào cũng về hạng nhất, nhì (của khoá 2) cho nên rất được n phục. Các em nữ sinh, sinh viên Đà Lạt mặt hoa da phấn, tình cảm cũng nghiêng về các chàng SVSQ/CTCT càng ngày càng nhiều hơn.

 Nhưng rồi ngày vui qua mau và ngày buồn cũng qua mau như vậy, hai năm ở trường ĐH/CTCT với một thời SVSQ, vơi biết bao nhiêu vui buồn, những đau thương mất mát bạn bè, chiến hữu, như lần Việt Cộng tấn công vào trường đã làm cho một số bạn bè ''ra đi sớm'' trong cùng một ngày tang thương của ''Khoá CTCT tuyên uý'', nhiều Cha, Sư, Mục Sư, đã chết, cùng các SVSQ khoá 2, những đau thương chồng chất làm ta nung nấu thêm hận thù đối với kẻ thù chung là Việt Cộng.

 ''Khóa 2, Khoá 2, ơi thương nhớ quá! ''. Ngày 19-2-1971 ra trường, 386 tân thiếu úy hiện dịch toả ra khắp bốn phương trời, bốn vùng chiến thuật và các quân binh chủng lẫy lừng, hào hùng nhất như Dù, Biệt Động Quân. Tôi về Sư Đoàn 2 Bộ Binh, tận tuốt ngoài Quân Đoàn I, vì đây là quê hương tôi, với bao nhiêu thử thách cam go, với những lần hành quân dẫm nát những mật khu Việt Cộng ở vùng Quảng Ngãi, Quảng Tín, Quảng Nam. Những địa danh như Ba Gia Đồng Ké, Núi Tròn, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Trà Bồng, Thường Đức, Hiệp Đức, Quế Sơn... tôi đều đã đi qua, ''đôi giày đinh bết bùn đất hành quân''. Rồi lại nghe những bạn bè gục ngã trên chiến trường quá sớm như Thành Ngọc Bút, Nguyễn Đình Anh (Thiết Giáp), Mai Viết Phát (Dù) Rồi Trần Hoàng Dân, Vũ Đỗ Triệu (Sư Đoàn 2) Rồi Hà Văn Thành, Trần Văn Tài, Mai Thành Bản, Vĩnh Tường, Lê Đại Tấn, Lê Văn Chua, Đào Cát, Huỳnh Hà... Và còn biết bao bạn cùng khoá đã ngã xuống, tất cả, bây giờ tôi chỉ biết thắp một nén hương tưởng niệm .

 

Khoá 2 thương nhớ ơi! Bây giờ chúng ta được sống trên mảnh đất tạm dung nầy, ngồi nghĩ lại từng người, từng đứa, nhớ nhau vô cùng. Lứa tuổi tụi mình quá bi đát và nhiều nghịch cảnh, thế hệ tuổi trẻ của chúng ta đã bị lớp đàn anh đi trước dẫn vào mê lộ, chúng ta quay quắt muốn thoát ra nhưng không được, chúng ta có lý tưởng, có niềm tin, bây giờ chúng ta thức tỉnh và đứng lên, xích lại gần với nhau hơn để làm một cái gì cho quê hương, cho đất nước, cho Việt Nam.

 

 NT2 Trần-Yên Hoà

Kính mời quý vị vào xem sinh hoạt Văn Nghệ của Khóa Nguyễn Trãi 2 trong Đại Hội 16 của Tổng Hội Ái Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/TĐH/CTCT/Đà Lạt đêm 29-5-2011 tại Little SG, Nam Cali, USA:

http://www.youtube.com/watch?v=dNX3bVSjcLY&feature=related

 

http://www.youtube.com/watch?v=d6T0eBmzydg&feature=related

 

http://www.youtube.com/watch?v=83QfGdeSmp8&feature=related

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, February 16, 20207:21 AM(View: 54)
Hồ Trường An là một trong những nhà văn nền móng của văn học hải ngoại, cùng với Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Võ Đình, Kiệt Tấn; trẻ hơn có Đỗ Kh. và Trần Vũ. Nhưng Hồ Trường An đã không được đánh giá đúng mức, thậm chí còn bị coi thường, với những biệt hiệu như nhà văn miệt vườn, bà già trầu... mới nghe tưởng là tôn vinh, thực ra, ẩn dấu một sự kỳ thị ngầm có ý chê bai tiếng Nam quê mùa, lại được Hồ Trường An kể lể dài dòng như đàn bà con gái. Tên thật là Nguyễn Viết Quang, Hồ Trường An là bút hiệu chính, ông còn ký những tên khác: Đào Huy Đán, Đinh Xuân Thu, Đông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Đoàn Hồng Yến và Đặng Thị Thanh Nguyệt. Hồ Trường An có nghiã là họ Hồ ở chợ Trường An (gần chợ Vĩnh Long). Và họ Hồ này "phải là" con cháu Hồ Biểu Chánh. Hồ Trường An sinh ngày 11/11/1938 tại xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình có truyền thống văn học. Cha là nhà thơ Mặc Khải (tên thật là Nguyễn Viết Khải),
Wednesday, February 12, 20209:06 PM(View: 202)
Ngày 31 tháng 1, năm 2020 Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh của Báo Người Việt phổ biến một thông báo với nội dung: Thông báo gửi toàn thể nhân viên NV. Xin thông báo cùng các bạn, kể từ ngày Jan 15, 2020, ông Đinh Quang Anh-Thái. và kể từ ngày Jan 24, 2020, ông Đỗ Quý Toàn, hai ông sẽ không còn làm việc với công ty NV dưới bất cứ mọi hình thức nào khác! Như thế là thế nào? Dẫu không phải là nhân viên hoặc cộng tác viên của NV, nhưng do một cơ duyên đã cho bản thân cá nhân dịp tìm hiểu, giao tiếp với người sáng lập Người Việt, Đỗ Ngọc Yến từ những năm 50, 60 qua các hoạt động Báo Ngàn Khơi (1957), Trại Hướng Đạo Trãng Bom (1958); mối giao tiếp càng chặt chẽ hơn trong thập niên 70 khi cộng tác với Đỗ Ngọc Yến qua Báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc ở Sài Gòn. Sau hơn nửa thế kỷ quen thân từ Đỗ Ngọc Yến, bản thân dần biết thêm Đỗ Quý Toàn, Đinh Quang Anh Thái và hiểu ra giữa họ có một Giây Liên Lạc – Mối Ân Tình Huynh Đệ Rất Chặt Chẽ. Vậy tại sao có lần đỗ vỡ quá đổi bất ngờ và ngạc nhiên như vậy đã
Monday, February 10, 20208:25 PM(View: 69)
Có người vặn vẹo tôi: Ông bịa chuyện vừa thôi, lão Tư Lâm vốn là thợ kéo mật, sau ba năm học bố túc văn hóa về làng Tào, nếu không phải đảng viên thì lão ta dù là con ông giời cũng chả ai cho làm chủ nhiệm hợp tác xã, chứ đừng nói được bầu làm chủ tịch… Bạn đọc trách tôi cũng có lý, lẽ ra tôi phải kể chuyện lão Tư Lâm được kết nạp đảng như thế nào trước khi kể chuyện lão được làm chủ nhiệm hợp tác xã, cũng như chuyện đảng viên của mụ Tuyền Bếp. Vâng, xin đa tạ sự quan tâm góp ý của bạn đọc và những người quan tâm tới làng Tào. Lão Tư Lâm sau khi học bổ túc văn hóa được ba tháng thì người ta phát hiện lão chưa phải là đảng viên, việc này được báo cáo lên lãnh đạo huyện. Nhiều người trong Thường vụ huyện ủy giật mình: Cán bộ nguồn mà không phải là đảng viên thì sao gọi là cán bộ nguồn được? Chủ tịch Hoàng Nhất Nam cười ruồi: - Một quần chúng như đồng chí Tư xứng đáng hơn nhiều đảng viên. Đảng cần mở cửa đón những người dám nghĩ, dám làm như đồng chí Tư đã mang lại lợi ích vô
Monday, February 3, 20208:06 PM(View: 121)
Sau này nghĩ đến chị Ngát làm tôi nhớ đến cả miền Bắc mà tôi đã xa nó từ năm 1952. Cái tên của chị quả hăm mốt năm ở miền Nam tôi rất ít hoặc không hề nghe, nó như một cái tên đặc trưng của gái miền Bắc. Khi tản cư qua Điền Hộ mùa hè năm ấy, tôi mới tám chín tuổi. Dọc đường, nhiều khi gia đình còn phải thuê người gánh hai anh em tôi mỗi đứa mỗi đầu. Những dòng sông, con đê, những thửa ruộng nứt nẻ, những đứa trẻ cỡ tôi vỏn vẹn với cái quần đùi, chăn trâu trên những cánh đồng cỏ cháy, những mẹ già mặc váy đụp lúp xúp quang gánh đi bên đường, những chiếc xe đò chạy bằng lò than chết máy dọc đường đang được đám lơ tài quay cho máy tái nổ, những ngôi nhà vách rơm trộn bùn, những thánh đường lỗ chỗ dấu đạn… Điền Hộ cuối thời chống Pháp, sang thời Việt Minh kiểm soát trong mắt tôi là như thế. Những sản phẩm từ mạn ngược, xứ Thanh của tôi, từ những chum vại Lò Chum cho đến nước mắm Kẻ Bạng Ba Làng, qua cửa Thần Phù, đem vào đây để phân phối đi xuống phương Nam gần như vắng bóng. Hơn một
Friday, January 31, 20207:20 AM(View: 137)
Đầu thập niên 70, tôi đã sống hơn một năm tại một căn phòng trên lầu ngôi biệt thự ở đường Hoàng Diệu, Sài Gòn. Phòng không có máy lạnh, cửa sổ mở tối ngày cho thoáng, trên trần lúc nào cũng có vài ba con thạch sùng, trông rất ngứa mắt. Một hôm, bạn thân Lê Triết đem cho khẩu súng bắn hơi “baby gun”, với một hộp đạn chì 500 viên, nói là để thỉnh thoảng bắn thạch sùng cho đỡ buồn. Nhưng tôi chỉ bắn thử vài con, rồi thôi. Vì xác chúng rơi xuống, cái đuôi vẫn còn giãy một hồi, ớn lắm. Có khi chỉ có đuôi rớt xuống, còn nạn nhân cụt đuôi chạy mất tiêu. Cách phòng tôi chừng bốn mét, là dãy nhà phụ phía sau, nối với nhà chính bằng lối đi ở cả tầng trệt và tầng lầu. Đối diện với cửa sổ phòng tôi là một sân thượng nhỏ, đầu dãy nhà phụ, bên hông nhà bếp của tầng lầu. Góc sân thượng có thùng rác. Hàng ngày, tôi chứng kiến một đàn chuột khá đông, con nào cũng lớn bằng cổ tay, kéo tới kiếm ăn bên trong, hoặc quanh thùng rác. Khi chúng tới, có một con đi đầu, chắc là lãnh tụ. Nhưng khi chúng bới