DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,709,430

Thơ Vinh Anh - Tháng tư

09 Tháng Tư 201710:31 CH(Xem: 1068)
Thơ Vinh Anh - Tháng tư

Thơ Vinh Anh



Image result for ba mươi tháng tư VN

Âm u biển

 

Âm u biển

Con thuyền cô đơn bạt gió

Mù mờ đi trong niềm tin

Mái chèo khuấy động nỗi niềm

Tan trong biển hiu quạnh

Một chút giận hờn người bạn vong niên bên tôi

“Kẻ sĩ hạ mình… đâu thất phu hữu trách?”

Biển ngầu lên sóng tràn xô cát

Con sóng nào đến từ Hoàng Sa?

Con sóng nào đến từ Trường Sa?

Ngoài đó mùa này biển động

Sóng cấp 6, cấp 5

Đến Hải Phòng dịu đi nhiều lắm

Những con sóng ôm bờ ru biển lặng

Cho tôi bâng khuâng

Hải Phòng vẫn thâm trầm

Lắng lại những khắc khoải

Lặng thầm một miền riêng

Sóng trong lòng là con sóng thiêng liêng…

 

Nhiều lắm những câu hỏi

Cũng nhiều lắm mông lung

Ý chí nhân dân cần một Diên Hồng

Chưa qua vùng hoang tưởng.

 

Của Xê-da phải trả về Xê-da

Ải Nam quan và thác Bản Giốc

Cả Hoàng Sa chúng ăn cướp gần bốn mươi năm trước

Phải về với Việt Nam – cái gốc Lạc Hồng

Cuộc đấu tranh này thể hiện “Hiếu-Trung”

Rồi biển hết âm u, sẽ sáng mãi vô cùng…

 

Đồ Sơn chiều mưa

14/07/2011

 

Bản Giốc

 

Thác rất đẹp, với tôi, nhiều năm về trước

Mà hôm nay, tôi bơ vơ, lạ lẫm lạc xứ người

Có điều gì nhói nhói lòng tôi

Tôi tiếc nuối thấy mất điều mình yêu quí

Các bạn chia sẻ không? Điều mất mát tôi cho là phi lí

Bản Giốc của tôi

Nó thiêng liêng bởi vì nó là mối tình đầu một thời

Tôi đã yêu với tâm hồn trai trẻ

Ngày đó trái tim tôi dại khờ rung tình đầu mới mẻ

Dẫu heo hút nước non, dẫu lặn lội cái cò cái vạc

Bản Giốc vẫn Cao Bằng vẫn rất thực trong tôi.

 

Tôi ngẫm ngợi hỏi cuộc đời có phải đã phai phôi

Bản Giốc tự bao giờ không còn trong tôi nữa

Giật thót con tim khi chỉ còn một nửa

Một nửa nữa đâu rồi mà mây trời vẫn trôi?

Và như thế, em ơi, sắc chàm trong sương một thoáng nhạt mất rồi

Chiều biên giới mưa rơi tầm tã…

 

Hoa biên giới tháng ba có sắc màu trẩu trắng

Đẹp mê man như màu nắng mặt trời

Tôi đi tìm nấm mồ bạn tôi

Trên đồi đầy hoa sim tím

Ôi cái màu ngất ngây bịn rịn

Cho tôi về lại ngày xưa

Bản Giốc thần tiên sẽ chẳng bao giờ

Chia được thành hai nửa.

29/4/2014

 

Chuyện kể tháng tư

 

Tháng tư

Những cơn mưa mùa hạ đã về

Hơi đất ẩm đẩy chồi non bật dậy

Sao lại chỉ riêng em

Lá rụng lìa cành

Những chiếc lá vàng như vẫn còn xanh

Mang dáng hình con thuyền hoang phế

Chợt nhận ra nỗi đời dâu bể

Về đâu chiếc lá… con thuyền

Ngước nhìn bàu trời thăm thẳm vô biên

Ước thành cánh chim vùng vẫy…

 

Tháng tư

Gió cách mạng từ rừng già thổi lại

Bao nhiêu năm mê mải chiến trường

Khi bão tan rồi ta nhận rõ mình hơn

Niềm vui, nỗi buồn cũng dần rõ nét

Lương tâm con người cũng cần tự phán xét

Cuộc chiến đi qua và còn lại nỗi đau

Vui buồn chia đều hai nửa

Và mất mát buồn đau là giá đời muôn thuở

Bởi tâm hồn ta quá đỗi mong manh

Chiến tranh là điều nhức nhối!

 

Tháng tư

Cờ đỏ rợp trời trong nhiều khuôn mặt giả dối

Tôi nghe trong tôi nhẹ nhõm tiếng thở phào

Trong tâm trạng mênh mang

Tôi chưa nhận ra con đường đến đích vẻ vang

Bởi cuộc chiến vẫn còn là đường trường chinh bất tận

Thêm uất hận là thêm nỗi đau

Máu thêm đổ có làm cờ thêm thắm

Tháng tư đã trả lời cho ta nhiều lắm…

 

Tháng tư

Chấp chới những cánh buồm vượt đại dương

Cũng chấp chới những số phận trong lao tù nghiệt ngã

Để từ đây ta thôi hát “lời ca dâng đảng”

Mà hát về những con người chịu mất mát đau thương

Sóng trong lòng hãy đi muôn phương

Đại dương bên kia-chuyện đời nay cổ tích…

Xứ thiên đường ta ngắm vì sao xa…

 

Tháng tư

Vẫn đấy nét ưu tư trầm tích

Khuôn mặt của chiến tranh

Sau chiến tranh vẫn đối mặt chiến tranh

Nền hòa bình mong đợi vẫn rất mong manh

Khổ đau vẫn chất chìm chờ đợi

Ước muốn sống yên lành vẫn chỉ là vời vợi

 

Tháng tư

Nhiều gương mặt trong bóng tối lộ ra

Ta hiểu thêm tình bạn bè, đồng đội

Một điểm dừng cho suy tư, ngẫm ngợi

Nhận biết được ta, nhận biết được thù

Ấu trĩ một thời vì những lời ru

Những lời ru mang “dáng hình viên đạn” (*)

Bởi ta đã ngộ nhận tình quốc tế vô sản

 

Tháng tư

Tháng giao mùa và nỗi đau nhớ bạn

Mùa xuân qua, hạ nắng chói đã về

Hoa phượng rợp trời háo hức tuổi đam mê

Bạn nằm nơi đó mùa này mưa nhiều lắm

Nỗi nhớ bạn cứ dày vò năm tháng…

 

Tháng tư

Tôi lắng nghe

Mùa này biển rất lặng

Bàng vuông xanh rợp mát chỗ ta ngồi

Sóng ôm đảo nhỏ như nhịp thở bạn tôi

Gần, gần lắm, Tổ quốc đối với tôi là thế

Và tôi với tháng tư… chuyện nào cũng muốn kể

 

24/4/2014

* Lời một bài hát

 

Vùng đất đỏ ba dan

Tặng nhà thơ Trường Giang

 

Ba mươi năm đã trôi

chiến tranh qua rồi, bom không nổ nữa

trong vùng đất ba dan

những người bạn của tôi không về cùng đồng đội

hồn vẫn phiêu du giữa rừng già gió thổi

đêm giật mình nghe tiếng người hú gọi

xao xác cánh rừng, lạc giọng tiếng chim

các bạn tôi lặng im

chờ ngày về đứng trong đội ngũ

 

Một chút ngập ngừng nhưng tôi chưa quên

cánh rừng nơi bạn tôi ngã xuống

đất như đỏ hơn nơi bạn tôi nằm

hay màu đồng màu quặn

trĩu lòng tôi…

Tôi cứ phân vân lòng dạ rối bời

giữa những chiều thật giả

nơi bạn tôi đã ngã

 

Một chiều gió cả

con tôi hỏi về chàng Đam San

chàng dũng sĩ đã hoá đại bàng

giữa đại ngàn tung cánh…

bỗng nhớ lại cánh rừng săng lẻ

bom ngút ngàn, đất lật nghiêng rừng thiêng

mầu đỏ đất trộn máu bạn đặc quánh

xe hàng qua nhưng bạn không về

tiếng cồng buôn làng đêm đó ủ ê

tiễn bạn tôi về nơi huyền ảo…

 

Tây Nguyên bỗng hôm nay chao đảo

ngẫm cái độ chưa xa, bạn sang ta “nỉ hảo”

bắn “con ma” bằng ngữ lục đỏ trời

và một thời biên giới máu đỏ tươi

“mười sáu chữ vàng” hôm nay phù phép

Và bôxit, nơi vĩnh hằng, nắm xương tàn, bạn tôi gào thét

hú gọi hồn, tập hợp mọi sinh linh

Tây Nguyên u trầm sẵn hàng vạn chiến binh…

 

Đêm 20/05/09

 

 

Tổ quốc

Cái điều mà đứa trẻ phải học trước nhất là Tổ quốc và mẹ nó – Jules Michelet

 

Gần mười năm rồi không ra Trường Sa

Thấy nhớ

Biển vẫn thế cái màu muôn thuở

Xanh cái màu thăm thẳm rất xa

Tôi nghe tiếng lòng mình hòa sóng biển bao la

Mà đau lắm khoảng trời Tổ quốc

 

Tổ quốc tôi yêu là chiếc vỏ sò đơn sơ

Mang về từ Trường Sa làm kỷ niệm

Kể cho con những chuyến đi biển

Nơi xác tàu chìm và xác thù ngoài biển khơi

Cũng không quên xác đồng đội của tôi

Ngoài nơi xa thẳm đó

Là Tổ quốc mà sao thế hở

Các anh vẫn chưa về… lòng mẹ vẫn khôn nguôi

Ôi, Hoàng Sa, Trường Sa – Tổ quốc tôi…

 

Tổ quốc tôi yêu xiết bao bồi hồi

Cũng xa xót nghe bao điều thớ lợ

Thơ của bạn cho tôi điều hay dở

“Thật khốn nạn chỉ khi máu đổ”*

Mới nhận rõ được thù và ta

Hơn sáu chục con người ngã xuống vì Hoàng Sa**

Hơn bảy chục con người ngã xuống vì Trường Sa**

Chẳng lẽ chiến tranh lại là điều tôi muốn?

 

Tổ quốc tôi yêu

Ngọn triều dâng cuồn cuộn

Đến bao giờ yên lành, thơm mãi những mùa xanh?




 Vinh Anh

2/11/2012
(từ: VV)

*Thơ Đỗ Nam Cao

**Hải chiến 1974 và 1988 với giặc Tàu. Những ngày biểu tình, tôi nhớ lộn số người hi sinh ở hai trận hải chiến.



*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:31 SA(Xem: 61)
Năm 1979 là năm tệ hệ nhất của đời tôi ở cái đất Sài thành. Ban ngày tôi ra chợ sách bán sách và thuốc lá ké một góc sạp sách của người bạn cùng đơn vị trước 75 để kiếm sống qua ngày. Sách lèo tèo vài ba cuốn. Thuốc lá thì vài bao. Vốn liếng đều do cô bạn nhỏ cùng quê tốt bụng giúp đỡ. Nhiều bữa không bán buôn được gì tôi chạy ra đầu đường uống nước máy trừ cơm. Ban đêm rúc vào một góc nào đó ngủ bụi. Vậy mà cũng lây lất ngày này qua tháng nọ như một phép lạ. Một hôm, anh bạn trẻ Đỗ Thất Kinh từ trên Bản Thuột về Sài Gòn tìm kế sinh nhai, may mắn tìm được một chân giao bơ đậu phọng cho khách hàng. Đang đói, tôi bám theo liền. Chật vật vậy mà hai anh em cũng sống qua ngày. Có điều ban đêm tôi phải tìm chỗ ngủ vì bạn tôi cũng ở lậu; rầy đây mai đó nhưng khá hơn tôi là bạn ngủ dưới một mái nhà.
21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 217)
Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 318)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 130)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 222)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương