DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,491,794

Thơ Vinh Anh - Tháng tư

Sunday, April 9, 201710:31 PM(View: 3716)
Thơ Vinh Anh - Tháng tư

Thơ Vinh Anh



Image result for ba mươi tháng tư VN

Âm u biển

 

Âm u biển

Con thuyền cô đơn bạt gió

Mù mờ đi trong niềm tin

Mái chèo khuấy động nỗi niềm

Tan trong biển hiu quạnh

Một chút giận hờn người bạn vong niên bên tôi

“Kẻ sĩ hạ mình… đâu thất phu hữu trách?”

Biển ngầu lên sóng tràn xô cát

Con sóng nào đến từ Hoàng Sa?

Con sóng nào đến từ Trường Sa?

Ngoài đó mùa này biển động

Sóng cấp 6, cấp 5

Đến Hải Phòng dịu đi nhiều lắm

Những con sóng ôm bờ ru biển lặng

Cho tôi bâng khuâng

Hải Phòng vẫn thâm trầm

Lắng lại những khắc khoải

Lặng thầm một miền riêng

Sóng trong lòng là con sóng thiêng liêng…

 

Nhiều lắm những câu hỏi

Cũng nhiều lắm mông lung

Ý chí nhân dân cần một Diên Hồng

Chưa qua vùng hoang tưởng.

 

Của Xê-da phải trả về Xê-da

Ải Nam quan và thác Bản Giốc

Cả Hoàng Sa chúng ăn cướp gần bốn mươi năm trước

Phải về với Việt Nam – cái gốc Lạc Hồng

Cuộc đấu tranh này thể hiện “Hiếu-Trung”

Rồi biển hết âm u, sẽ sáng mãi vô cùng…

 

Đồ Sơn chiều mưa

14/07/2011

 

Bản Giốc

 

Thác rất đẹp, với tôi, nhiều năm về trước

Mà hôm nay, tôi bơ vơ, lạ lẫm lạc xứ người

Có điều gì nhói nhói lòng tôi

Tôi tiếc nuối thấy mất điều mình yêu quí

Các bạn chia sẻ không? Điều mất mát tôi cho là phi lí

Bản Giốc của tôi

Nó thiêng liêng bởi vì nó là mối tình đầu một thời

Tôi đã yêu với tâm hồn trai trẻ

Ngày đó trái tim tôi dại khờ rung tình đầu mới mẻ

Dẫu heo hút nước non, dẫu lặn lội cái cò cái vạc

Bản Giốc vẫn Cao Bằng vẫn rất thực trong tôi.

 

Tôi ngẫm ngợi hỏi cuộc đời có phải đã phai phôi

Bản Giốc tự bao giờ không còn trong tôi nữa

Giật thót con tim khi chỉ còn một nửa

Một nửa nữa đâu rồi mà mây trời vẫn trôi?

Và như thế, em ơi, sắc chàm trong sương một thoáng nhạt mất rồi

Chiều biên giới mưa rơi tầm tã…

 

Hoa biên giới tháng ba có sắc màu trẩu trắng

Đẹp mê man như màu nắng mặt trời

Tôi đi tìm nấm mồ bạn tôi

Trên đồi đầy hoa sim tím

Ôi cái màu ngất ngây bịn rịn

Cho tôi về lại ngày xưa

Bản Giốc thần tiên sẽ chẳng bao giờ

Chia được thành hai nửa.

29/4/2014

 

Chuyện kể tháng tư

 

Tháng tư

Những cơn mưa mùa hạ đã về

Hơi đất ẩm đẩy chồi non bật dậy

Sao lại chỉ riêng em

Lá rụng lìa cành

Những chiếc lá vàng như vẫn còn xanh

Mang dáng hình con thuyền hoang phế

Chợt nhận ra nỗi đời dâu bể

Về đâu chiếc lá… con thuyền

Ngước nhìn bàu trời thăm thẳm vô biên

Ước thành cánh chim vùng vẫy…

 

Tháng tư

Gió cách mạng từ rừng già thổi lại

Bao nhiêu năm mê mải chiến trường

Khi bão tan rồi ta nhận rõ mình hơn

Niềm vui, nỗi buồn cũng dần rõ nét

Lương tâm con người cũng cần tự phán xét

Cuộc chiến đi qua và còn lại nỗi đau

Vui buồn chia đều hai nửa

Và mất mát buồn đau là giá đời muôn thuở

Bởi tâm hồn ta quá đỗi mong manh

Chiến tranh là điều nhức nhối!

 

Tháng tư

Cờ đỏ rợp trời trong nhiều khuôn mặt giả dối

Tôi nghe trong tôi nhẹ nhõm tiếng thở phào

Trong tâm trạng mênh mang

Tôi chưa nhận ra con đường đến đích vẻ vang

Bởi cuộc chiến vẫn còn là đường trường chinh bất tận

Thêm uất hận là thêm nỗi đau

Máu thêm đổ có làm cờ thêm thắm

Tháng tư đã trả lời cho ta nhiều lắm…

 

Tháng tư

Chấp chới những cánh buồm vượt đại dương

Cũng chấp chới những số phận trong lao tù nghiệt ngã

Để từ đây ta thôi hát “lời ca dâng đảng”

Mà hát về những con người chịu mất mát đau thương

Sóng trong lòng hãy đi muôn phương

Đại dương bên kia-chuyện đời nay cổ tích…

Xứ thiên đường ta ngắm vì sao xa…

 

Tháng tư

Vẫn đấy nét ưu tư trầm tích

Khuôn mặt của chiến tranh

Sau chiến tranh vẫn đối mặt chiến tranh

Nền hòa bình mong đợi vẫn rất mong manh

Khổ đau vẫn chất chìm chờ đợi

Ước muốn sống yên lành vẫn chỉ là vời vợi

 

Tháng tư

Nhiều gương mặt trong bóng tối lộ ra

Ta hiểu thêm tình bạn bè, đồng đội

Một điểm dừng cho suy tư, ngẫm ngợi

Nhận biết được ta, nhận biết được thù

Ấu trĩ một thời vì những lời ru

Những lời ru mang “dáng hình viên đạn” (*)

Bởi ta đã ngộ nhận tình quốc tế vô sản

 

Tháng tư

Tháng giao mùa và nỗi đau nhớ bạn

Mùa xuân qua, hạ nắng chói đã về

Hoa phượng rợp trời háo hức tuổi đam mê

Bạn nằm nơi đó mùa này mưa nhiều lắm

Nỗi nhớ bạn cứ dày vò năm tháng…

 

Tháng tư

Tôi lắng nghe

Mùa này biển rất lặng

Bàng vuông xanh rợp mát chỗ ta ngồi

Sóng ôm đảo nhỏ như nhịp thở bạn tôi

Gần, gần lắm, Tổ quốc đối với tôi là thế

Và tôi với tháng tư… chuyện nào cũng muốn kể

 

24/4/2014

* Lời một bài hát

 

Vùng đất đỏ ba dan

Tặng nhà thơ Trường Giang

 

Ba mươi năm đã trôi

chiến tranh qua rồi, bom không nổ nữa

trong vùng đất ba dan

những người bạn của tôi không về cùng đồng đội

hồn vẫn phiêu du giữa rừng già gió thổi

đêm giật mình nghe tiếng người hú gọi

xao xác cánh rừng, lạc giọng tiếng chim

các bạn tôi lặng im

chờ ngày về đứng trong đội ngũ

 

Một chút ngập ngừng nhưng tôi chưa quên

cánh rừng nơi bạn tôi ngã xuống

đất như đỏ hơn nơi bạn tôi nằm

hay màu đồng màu quặn

trĩu lòng tôi…

Tôi cứ phân vân lòng dạ rối bời

giữa những chiều thật giả

nơi bạn tôi đã ngã

 

Một chiều gió cả

con tôi hỏi về chàng Đam San

chàng dũng sĩ đã hoá đại bàng

giữa đại ngàn tung cánh…

bỗng nhớ lại cánh rừng săng lẻ

bom ngút ngàn, đất lật nghiêng rừng thiêng

mầu đỏ đất trộn máu bạn đặc quánh

xe hàng qua nhưng bạn không về

tiếng cồng buôn làng đêm đó ủ ê

tiễn bạn tôi về nơi huyền ảo…

 

Tây Nguyên bỗng hôm nay chao đảo

ngẫm cái độ chưa xa, bạn sang ta “nỉ hảo”

bắn “con ma” bằng ngữ lục đỏ trời

và một thời biên giới máu đỏ tươi

“mười sáu chữ vàng” hôm nay phù phép

Và bôxit, nơi vĩnh hằng, nắm xương tàn, bạn tôi gào thét

hú gọi hồn, tập hợp mọi sinh linh

Tây Nguyên u trầm sẵn hàng vạn chiến binh…

 

Đêm 20/05/09

 

 

Tổ quốc

Cái điều mà đứa trẻ phải học trước nhất là Tổ quốc và mẹ nó – Jules Michelet

 

Gần mười năm rồi không ra Trường Sa

Thấy nhớ

Biển vẫn thế cái màu muôn thuở

Xanh cái màu thăm thẳm rất xa

Tôi nghe tiếng lòng mình hòa sóng biển bao la

Mà đau lắm khoảng trời Tổ quốc

 

Tổ quốc tôi yêu là chiếc vỏ sò đơn sơ

Mang về từ Trường Sa làm kỷ niệm

Kể cho con những chuyến đi biển

Nơi xác tàu chìm và xác thù ngoài biển khơi

Cũng không quên xác đồng đội của tôi

Ngoài nơi xa thẳm đó

Là Tổ quốc mà sao thế hở

Các anh vẫn chưa về… lòng mẹ vẫn khôn nguôi

Ôi, Hoàng Sa, Trường Sa – Tổ quốc tôi…

 

Tổ quốc tôi yêu xiết bao bồi hồi

Cũng xa xót nghe bao điều thớ lợ

Thơ của bạn cho tôi điều hay dở

“Thật khốn nạn chỉ khi máu đổ”*

Mới nhận rõ được thù và ta

Hơn sáu chục con người ngã xuống vì Hoàng Sa**

Hơn bảy chục con người ngã xuống vì Trường Sa**

Chẳng lẽ chiến tranh lại là điều tôi muốn?

 

Tổ quốc tôi yêu

Ngọn triều dâng cuồn cuộn

Đến bao giờ yên lành, thơm mãi những mùa xanh?




 Vinh Anh

2/11/2012
(từ: VV)

*Thơ Đỗ Nam Cao

**Hải chiến 1974 và 1988 với giặc Tàu. Những ngày biểu tình, tôi nhớ lộn số người hi sinh ở hai trận hải chiến.



*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content







Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 50)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 150)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con
Sunday, April 25, 20218:02 AM(View: 258)
Việt Nam Cộng Hòa chỉ sống được vỏn vẹn gần 21 năm. Từ 1954 tới 4/1975. Nhưng sách xuất bản là một con số không nhỏ. Trước năm 1954, văn học miền Nam vẫn hiện diện với nhiều cây bút nổi tiếng nhưng kể từ khi có cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, cây trái mới nở rộ. Theo số liệu của Bộ Thông Tin công bố, dựa theo thống kê của Ủy Hội Quốc Gia Unesco Việt Nam vào tháng 9/1972 thì trung bình Việt Nam Cộng Hòa đã cấp giấy phép xuất bản cho khoảng ba ngàn đầu sách mỗi năm. Cộng chung trong gần 21 năm đã có khoảng từ 50 ngàn tới 60 ngàn đầu sách được xuất bản. Thêm vào đó có khoảng 200 ngàn đầu sách ngoại quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in 3 ngàn cuốn thì tổng số sách in là 180 triệu. Đó là ước tính của tác giả Nguyễn văn Lục. Nhưng trong bài viết “Mấy Ý Nghĩ về Văn Nghệ Thực Dân Mới” đăng trên tuần báo Đại Đoàn Kết của Vũ Hạnh, nhà văn nằm vùng, thì từ năm 1954 đến 1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam với số bản là 800 triệu bản. Sách của ông Trần Trọng Đăng Đàn lại ước
Tuesday, April 20, 202112:01 PM(View: 281)
Không một quan hệ thân xác nào chỉ hoàn toàn là thân xác. Trong khi bạn giao tiếp tình dục với người khác, sờ mó, hôn, làm tình, không chỉ hai cơ thể có dịp cọ xát với nhau mà còn có những tiếp xúc đụng chạm khác nữa: xúc cảm, sự đau đớn, sự hòa tan, hạnh phúc, sự tưởng tượng, những mối quan hệ trở nên bền chặt hơn hoặc trở nên rạn vỡ hơn. Truyền thống của người Việt Nam, cũng như của nhiều tôn giáo, đối lập đời sống nhục cảm và đời sống tinh thần, một bên thấp hèn, một bên cao quý. Trẻ em từ khi sinh ra đến trước tuổi trưởng thành rất dễ bị tổn thương khi tiếp xúc với tình dục, chẳng thế mà Nguyễn Viện đã ghi rõ dưới nhan đề bài thơ của anh “không dành cho trẻ em dưới 18 tuổi”. Các nhà nghiên cứu nhân chủng học không ngớt ngạc nhiên phát hiện rằng đời sống của nhân loại đầy rẫy các yếu tố dục tính, tổ tiên chúng ta không hề ngượng ngùng khi đề cập đến sex trong văn hóa và nghệ thuật. Rõ ràng có một mối liên hệ mật thiết giữa tình dục và các huyền thoại và tôn giáo và những phẩm chất
Friday, April 16, 20217:34 AM(View: 407)
“Em và chị Như bị hiếp ba bốn chục lần, chúng đã ném chị Như xuống biển, vừa định bắt em theo thì có tàu hàng hải tiến gần nên tụi nó bỏ đi. Lên đảo em xin đi Na Uy chứ không đi Mỹ với anh Tuấn fiancé của em nữa.” Những dòng trên là lời của Phượng nói với Ngà ở trại ti nạn, được ghi lại nơi trang 87 trong tác phẩm Lênh Đênh, khi Phượng kể về chiếc ghe vượt biên gặp hải tặc. Và nơi trang 88, tác giả Lưu Na kể về thân phận người phụ nữ Việt: “Ngà biết từ đây cho đến chết Ngà sẽ không bao giờ trả lời câu hỏi mà tất cả những ai đi vượt biên đều hoặc hỏi thầm hoặc thốt thành câu: có “bị” hải tặc. Nói có là dối mà nói không có tội, tội với Phượng, tội với tất cả những người phụ nữ không may. Tự bao giờ cái may mắn của một vài cá nhân trở nên tội với những người thọ nạn? Người con gái Việt Nam da vàng, tất cả những người phụ nữ vượt biên — vết chàm đã khắc, màu chàm đã nhuộm, và anh Tuấn, tất cả những Tuấn chàng trai nước Việt, có còn cách nào khác hơn là chúng ta phải xa nhau, để ở